Jump to content

Advertisements




KINH DỊCH có gì hay ?


  • Bạn không thể gửi trả lời cho chủ đề này
168 replies to this topic

#76 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 30/06/2025 - 17:25

Trạch Thủy Khốn


困: 亨 貞, 大人吉, 无咎. 有言不信.

Khốn: Hanh Trinh, đại nhân cát, vô cữu. Hữu ngôn bất thân.


Trước quẻ Khốn là quẻ Vị Tế (việc chưa xong), sau là quẻ Tụng (tranh cãi, kiện cáo).

“Khốn” nghĩa là khốn cùng, khốn khổ, khốn đốn; là gian nan, nghèo túng; phàm sự mỏi mệt do túng thiếu quẫn bách - bị dồn vào đường cùng, bế tắc không tìm ra giải pháp - gây ra đều gọi là Khốn. Việc được giao tới thời hạn phải hoàn thành hay nợ vay phải trả tới kỳ thanh toán , lời đã hứa mà không giữ được thì ắt phải sinh ra cái áp lực, cái sự bức bách của “Khốn” rồi.

Kinh nói: Khốn hanh trinh.

Người xưa nói: “Cẩu cấp điêu tường, nhân cấp tạo phản” – chó cùng đường thì nhảy qua tường, người cùng đường thì tất làm phản, thế thì người bị dồn vào chỗ “Khốn” cùng mà lại giữ được đức Trinh trong sạch, ấy thì mới có thể được sự “hanh” thông như ý, bằng không mà khởi tà ý ác tâm, tìm mọi thủ đoạn miễn là hoàn thành được việc mình, kể cả phải gian dối lưa lọc thì ắt sẽ bị chiêu lấy cái nghịch của quẻ Tụng tương lai.

Kinh nói: Đại nhân cát, vô cữu. Hữu ngôn bất thân.

“Đại nhân” là người có Trí Tuệ lớn, cũng là người có tâm hồn rộng rãi, giống như hư không vậy, cho nên dung chưa được tất thảy mọi vật, lại giúp cho mọi vật có điều kiện, có không gian để phát huy, để thể hiện tính cách riêng của mình. Người Đại nhân vì tâm hồn luôn bao dung, không bị kẹt ở điều thi phi phải trái hơn thiệt, nên chẳng bị giận hờn lôi kéo, chẳng bị tiếng ngọt dẫn lôi, chẳng bị chuyển bởi Danh, chẳng bị biến vì Lợi v…v hết thảy đều dung chứa, nhưng chẳng bị uốn theo bất kỳ hình thức nào, rộng lớn vô hình dạng, trống rỗng trong lặng trong sáng như thế tức là tâm hồn vĩ “Đại” của Đại nhân.

Trước cảnh bức ngặt của Khốn, mà giữ được cái tâm Đại thì ắt là “Cát” hỷ, vì sao vậy ? vì cảnh bức ngặt mà tâm vẫn rỗng rang, nên Trí Huệ sáng suốt, sáng suốt nên thấy được lối đi, tìm được cách làm, do đó ắt sẽ vượt qua được thủ thách “Khốn” cùng, do đó mà chẳng làm điều bất thiện phi nghĩa, chính vì thế Thánh nhân mới nói “Cát, vô cữu” – vui vẻ, chẳng phạm lỗi lầm.

“Ngôn” là lời tự mình nói ra; là chữ dưới dạng âm thanh; là bàn bạc, đàm luận; là báo cho biết điều gì; là thuật kể lại chuyện đã xảy ra. “Thân” nghĩa là tin theo, tín ngưỡng, sùng bái; cũng nghĩa là hiểu, biết.

Câu “hữu ngôn bất thân” – lời nói chẳng ai tin nghe, ý chỉ cái lúc mình bị “khốn” cùng bức bách, dù nói ra lời nào, dường như chẳng có trọng lượng, chẳng ai muốn nghe theo. Người xưa nói: “Cùng ngôn tạp ngữ, quân tử bất thính” – những lời nói hỗn tạp trong cảnh cùng khốn, người quân tử không muốn nghe. “Thế cùng lực kiệt, ngôn khinh mạc khuyến” – thế lực chẳng còn, sức lực suy kiệt thì lời nói nhẹ tựa lông chim, chẳng còn ai nghe theo. Vì sao lại tới nỗi này ? Vì “ngôn nhi vô tín, bất tri kỳ khả” – nói lời mà chẳng giữ được lời thì cái kết quả của việc làm há có thể nhìn thấy được hay sao ? Thế thì, Thánh nhân chi rõ, sở dĩ rơi vào cảnh “Khốn” là bởi đánh mất lòng tin của người, là nói lời chẳng giữa lấy lời, là do đễ mất cái Tín đức rồi, nên mới chiêu cảm cảnh này xuất hiện.

Lại cũng có nghĩa rằng, khi gặp lúc “Khốn” khó, chớ nên hứa hiêu hứa vượn, nói sai nói dối để lừa người tin nghe mà giúp đỡ cứu trợ, làm như thế thì chẳng thoát được cảnh “Khốn” đâu, chỉ càng thêm khó khổ về sau. Do đó mà, người trong cảnh Khốn lại chẳng giữ được Tín Nghĩa thì ắt tiếp sau là phải đón nhận sự phiền phức, sự nguy hại của Tụng phát sinh.


Sửa bởi HieuHcmVN: 30/06/2025 - 17:27


#77 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 30/06/2025 - 18:44

Lôi Hỏa Phong


豐: 亨. 王假之, 勿憂, 宜日中.

Phong : hanh. Vương giả chi, vật ưu, nghi nhật trung.


Đầy đủ “Đức, Tài” nên đời sống vật chất lẫn tinh thần được “dồi dào, sung túc”. Trước quẻ Phong là quẻ Gia Nhân, người làm giúp cho mình, một mình dù gắng hết sức cũng chỉ có quỹ thời gian và sức lực hạn chế, nên tài sản hoa lợi cũng chỉ có mức độ nhất định, nay do có thêm “gia nhân” nên cùng một ngày, cùng một giờ, lượng của cải mang lại nhiều hơn nhanh hơn, dẫn tới kết quả “Phong” sung túc là vậy.

Kinh nói: Phong, hanh.

“Phong” nghĩa là nhiều, đầy đủ, thịnh; là được mùa; là dồi dào, sung túc; Đẩy đủ, sung túc cả vật chất lẫn tinh thần. Vì sao vậy ? Vì thiện tâm sinh ra thiện hạnh, thiện hạnh là làm việc mang lại lợi ích cho người, người được lợi ích nên người vui vẻ, người vui vẻ thì sẽ đưa đến sự vui vẻ cho mình, cho nên tinh thần mới vui vẻ. Lại nữa, của cải nhiều vì Đức Tài đầy đủ, muốn gì thích gì đều có thể sở hữu, nên tất nhiên là mong cầu toại nguyện như ý, tất nhiên là càng vui vẻ hơn rồi !

Tinh thần lúc nào cũng vui vẻ, của cải lúc nào cùng dồi dào, thì làm việc gì cũng “hanh” thông.

Kinh nói: Vương giả chi, vật ưu, nghi nhật trung.

“Vương” là Vua, “giả” (cách) là nương tựa. “Chi” là đấy, đó; “Vật” là đừng, chớ. “Ưu” là âu lo, lo lắng. “Nghi” là làm cho hòa thuận, hòa hợp; là cùng hưởng; cũng nghĩa là thích đáng, là tương xứng, ngang nhau. “Nhật” là ngày; là mỗi ngày; ngày ngày; là ngày càng; cũng nghĩa là mặt trời. “Trung” là giữa; là trong.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Vua nương tựa vào đó, chẳng còn âu lo, như mặt trời giữa không trung mọi vật đều được hưởng ánh sáng như nhau.

“Nương tựa vào đó” là nương tựa vào đâu ? Đó là vào Đạo đức, vào Trí Tuệ. Người mang đức nhẫn nại chịu khó thì học tập không ngừng, do đó mà sự hiểu biết ngày một gia tăng, Trí Tuệ ngày một thêm lớn, khi Trí Tuệ đã soi tỏ được sự vật thì lúc ấy, sự nghiệp cũng hưng thịnh mà của cải theo đó sinh sôi. Có Đức thì có Trí, có Trí thì có Tài, có Tài rồi thì sự thuận tâm như ý, chẳng còn âu lo “vật ưu”. Không những bản thân được yên ổn, mà còn có thể dùng Tài Trí làm lợi cho người, giúp ích cho đời, Thánh nhân ví sự lợi ích của người có đủ Đạo đức Tài trí như mặt trời giữa không trung - “nhật trung”, có thể soi sáng muôn vật, sưởi ấm muôn loài.

Khi mình có đủ đầy thì phải biết rằng, mọi sự trên đời không chỉ có riêng sự nỗ lực của mình lại có thể tạo nên được thành quả to lớn dường ấy, đều là mọi người chung sức chung lòng mới tạo ra. Khi được hưởng sự sung sướng của thành quả, phải biết san sẻ cho những người góp sức tạo dựng cho mình trước tiên, sau đó nữa là xã hội bên ngoài. Tại sao của cải do mình khổ công tạo ra lại phải san sẻ cho xã hội ? Vì tất cả là một khối thống nhất, mình chỉ là một mảnh ghép được “ưu ái” của Trời Đất mà thôi, mọi người mọi loài, mọi ngành, mọi lĩnh vực đều có mối liên hệ khăng khít với nhau, một giọt nước giữa đại dương mênh mông bay hơi lên cũng góp sức thành đám mây mang mưa đi tưới mát khắp chốn, thì nào đâu có chuyện cái ta có được lại chỉ có nhờ công sức của riêng ta ? Đạo của Trời Đất là cân bằng, “vật cực tất phản” – cái gì tới giới hạn thì sẽ đổi chiều, cho nên có nhiều chưa hẳn đã tốt, nó chỉ tốt khi biết san sẻ để quay lại thế quân bình tự nhiên, ấy là phép “trường thọ” – kéo dài sự thịnh mà Thánh hiền dạy răn. Cho nên, “nghi nhật trung” – cũng tức là san sẻ chẳng phân biệt thân sơ, là đem của mình được đại diện thọ hưởng, chia sẻ rộng rãi ra cho thiên hạ, điều ấy không chỉ đúng với cái rộng lớn của xã hội nhân sinh cổ xưa, mà con tỏ rõ thật nghĩa của người làm Kinh tế trong thời buổi ngày nay, đó là "Kinh bang" thì phải "Tế thế" vậy !



Sửa bởi HieuHcmVN: 30/06/2025 - 18:50


#78 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 01/07/2025 - 11:00

Nhún nhường quá mức theo người,
Người càng lấn lượt gieo thêm uất sầu.
Đè đầu cưỡi cổ thật lâu,
Khuyên ngăn chẳng được, như sâu bám cành.

Thì ta dứt khoát thẳng tinh
Không sân không giận, chỉ trình "Thật" ra.
Sự thật là thuốc phá tà,
Là đèn chiếu dẹp u mê sai lầm.

Cho nên Thiện Ác đôi dòng,
Giữa Đời chẳng lệch, tức đường Trung dung.
Từ rày cho đến sau cùng,
Hiển bày thiện ác, nhân gieo cảm liền !

Cứ gieo nhân ác triền miên,
Thay Trời hành đạo, luật Thiên xử phàm.
Mau mau uốn nắn dọc ngang,
Mau mau sửa lại tâm can chính mình.
Mau mau bỏ thói dối khinh.
Mau mau làm lại, kẻo mình gặp nguy.

Thánh hiền xưa cũ khắc ghi:
"Tốn", "Ly" lẽ ấy, tức thì bày ra.


Sửa bởi HieuHcmVN: 01/07/2025 - 11:15


#79 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 01/07/2025 - 11:47

Thuần Tốn


巽: 小亨, 利有攸往, 利見大人.

Thuần Tốn: tiểu hanh, lợi hữu du vãng , lợi kiến đại nhân.


“Tốn” tức là nhún nhường, là thuận theo, không phản kháng; nó bị động và yếm thế hơn "Khiêm" - là không tự cao, tôn trọng người khác, sẵn sàng lắng nghe để học hỏi quan điểm mới, cho dù nó trái với định kiến của mình, uyển chuyển thuận theo những điều khác biệt. “Tốn” là nhún nhường, thì “Thuần Tốn” tức là nhún nhường quá mức, nhún tới mức nhu nhược, trở thành "yếu hèn".

Người xưa lấy tính chất của “Gió” để biểu tượng cho “Tốn” vì gió không hình dạng cho nên len lỏi khắp nơi, có thể hòa vào mọi vật chứa không gian mà chẳng làm biến đổi hình dạng hiện hữu của nó. Thế thì người có đức “Tốn” sống trong môi trường tập thể đa dạng tính cách, đa dạng góc nhìn, đa dạng trình độ hoàn cảnh v..v thì sẽ rất dễ hòa nhập mà chẳng làm cho tập thể ấy bị xáo trộn hay khiến cản trở sự vận hành tự nhiên của tập thể ấy. Tuy nhiên, Gió có thể làm mát khi đối tượng tiếp xúc có hiểu biết và nhận thức đâu là phải trái, nhưng Gió có thể thành Bão và cuốn phăng tất thảy những thứ được cho là "cứng rắn, mạnh mẽ, sắc bén" nhất, hay những kẻ cứng đầu cứng cổ ngu muội cố chấp cái gì đó sai lầm và tệ ác !

“Tốn” và “Khiêm” có điểm giống và khác nhau thế nào ? Khiêm là nhường phần hơn cho người, nhưng vẫn giữ lấy quan điểm của mình, tượng của nó là “Đất trên Núi”, đất tuy là vật thấp nhưng lại đặt ở núi thì thành vật cao, thế thì ngoài vẫn giữ tánh “nhu” của đất, nhưng trong giữ vững quan điểm như “núi” một cách sừng sừng, vững chắc không gì lay chuyển được. “Tốn” là trong ngoài đều uyển chuyển, chẳng giữ định kiến gì, hễ người muốn thế nào thì ta thuận theo thế ấy, chẳng chống trái; nếu người có tính cách mạnh mẽ nhìn vào thì Tốn dường như rất bị động, nhu nhược và thiếu chủ kiến. Do đó, cả hai đều có cùng một hướng ứng xử với người và cảnh, đều cùng nhường lại cho người phần quyết định, nhưng cách thức và nội hàm bên trong thì khác nhau rất xa, có phần còn đối nghịch với nhau về mặt tánh chất như Núi với Gió vậy.

Kinh nói: Tốn, tiểu hanh.

Đứng trước mọi việc mọi sự đều thuận theo ý người, để người sai khiến thế thì đánh mất cái chủ kiến, cái tư cách tồn tại của mình. Duy trì như thế chỉ tạm thời được sự “hanh” thông, bởi chẳng cản trở người nên người buông tha không làm phiền mình, song lại ghi dấu trong tâm trí người đối diện hình ảnh là một kẻ bất tài, vô dụng, thiếu định kiến và bản lĩnh; đã yếu như thế thì phải chịu người chà đạp, dày xéo bất cứ lúc nào họ thích; nhẹ thì trêu chọc, nặng thì lừa gạt, đem mình ra làm trò đùa.

Do đó, Tốn chỉ có “tiểu hanh” – là sự hanh thông nhất thời, tạm bợ, bé nhỏ; chứ chẳng được sự “hanh” đích thực của bậc Quân tử đầy đủ Đức Trí Tài năng, vừa khiến người kính nể khâm phục, lại khiến người e dè sợ hãi, chẳng dám tùy tiện khinh cợt coi thường.

Kinh nói: Lợi hữu du vãng, lợi kiến đại nhân.

Người mang trong mình đức "Tốn" quá "thuần" thì rất cần phải rèn luyện lại cá tính bản thân cho nó trở nên quân bình, nếu không thì lại thành “hiền ngu”, thành “nhu nhược”. Vì thế, cái “lợi” của việc Tốn ấy là phải “hữu du vãng” – ra ngoài, đi xa học hỏi thiên hạ, nâng cao Trí Tuệ, thành tựu Đức hạnh và tài năng ứng xử biến hóa nơi Đời, trong quá trình “du học” ấy mà gặp được bậc “Đại nhân” thì ắt thì có “lợi”, vì ấy là Thầy sáng, bạn lành, người có lòng chỉ vẽ cho ta điều hay sự phải. Giúp ta rèn luyện khắc phục chỗ yếu khuyết, dù cho là mắng chửi chê trách, cũng phải gắng nhận lãnh thọ ân, bởi tiếng như gió qua tai, quan trọng là hương trong gió mới khiến người và mình say mê ngây ngất; lời mắng nhiếc chẳng qua chỉ là chiếc thuyền “chông gai” chở theo của cải “ý đẹp lợi ích” ẩn dấu cần phải thu nhận và khai quang ra thì mới có thể học hỏi được nhiều mà chẳng sanh tâm tự ti, lùi sụt.

Sửa bởi HieuHcmVN: 01/07/2025 - 11:51


#80 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 01/07/2025 - 21:32

Tập Ly


習 離: 利貞, 亨.畜牝牛, 吉.

Tập Ly: lợi trinh, hanh. Súc tẫn ngưu, cát.


“Ly” là dời xa, chia lìa, lìa tan; là chia rẽ; là ánh sáng.

Trước “Ly” là Phong – đủ đầy, sau “Ly” là Cách – thay đổi. Thế thì sự dời xa, sự chia lìa này chính là chia sẻ điều tốt lành, thứ tốt đẹp – như ánh sáng – để hướng tới sự đổi mới của “Cách”. Cùng là sự rời xa cái gì đó, nhưng “Hoán” – là bỏ đi cái không tốt đẹp, bỏ đi thói hư tật xấu; trong khi đó “Ly” – là cho đi điều tốt đẹp, cho đi thành quả của đức hạnh, thiện lành, của tài năng trí tuệ. Việc cho đi, sự chia sẻ này chẳng những làm lợi ích cho người nhận hưởng, mà còn giúp cho chính người cho đi cũng tăng thêm phước phần, lại khiến tài năng trí huệ ngày càng sắc bén, do việc chia sẻ mang lại lợi ích cho cả hai nên mới gọi là “Tập Ly”.

Kinh nói: Tập ly, lợi trinh, hanh.

Tập Ly là cho đi điều tốt đẹp, có ích vì thế mà tạo nên sự “hanh” thông, tuy nhiên, sự cho đi đôi khi lại chỉ là sự mưu tính, cho trước để hi vọng nhận lại điều gì đó, cho đi như vậy thì chẳng phải “lợi trinh” – vì lợi trinh là sự cho đi vô cầu hồi báo, cho đi vô tư lự, cảm thấy mình có mà người lại cần thì mình cho, chứ chẳng phải cho để chờ nhận lại. Thánh nhân dạy cái đạo “lợi trinh” là để giúp cho cái phước phần của người Quân tử khi thực hành sự chia sẻ được gia tăng phần lợi ích, nhà Phật gọi đó là “phước vô lậu” – cho mà tâm trong sáng, không mong cầu, không tính toán thiệt hơn, vì là “vô lậu” nên nó cũng “vô lượng” – không thể cân đo tính đếm được ! Cứ gieo trồng phước thiện thì tất nhiên là gặt hái quả may mắn thuận lợi, ấy là đạo lý nhân quả của Trời Đất an bài.

Kinh nói: Súc tẫn ngưu, cát.

“Súc” nghĩa là nuôi nấng. “Tẫn” là con cái. “Tẫn ngưu” là con trâu cái.

Trâu cái vừa có thể kéo cầy trên ruộng mang lại lúa gạo hoa màu, vừa có thể sinh con đẻ cái duy trì giống loài, nay lại biết "súc"- nuôi lớn trâu này mỗi ngày thì lợi cả đôi đường ấy là nghĩa của “súc tẫn ngưu”. Người Quân tử nuôi nấng Đức hạnh Trí tuệ của bản thân mình, một mặt vừa làm lợi ích cho mình ở chỗ nuôi sống mình bằng tài năng trí tuệ, lại còn có thể chia sẻ trí tuệ tài năng ấy, kết quả của sự nuôi dưỡng rèn luyện ấy cho những người khác, cho thế hệ mai sau, như trâu cái sinh con. Hiện tại được lợi, tương lai cũng được lợi, bản thân được lợi, người khác cũng được lợi, đôi bên có lợi từ giờ cho đến mai sau, do đó Thánh nhân nói là “Cát” hỷ vui vẻ.

Song việc làm lợi ích, việc tốt đẹp chia sẻ phải liên tục không ngừng, như mỗi ngày phải cho trâu ăn “súc ngưu”, chẳng cho ăn thì con trâu Đức hạnh nó sẽ héo mòn rồi chết mất, vì thế mà nói phải nuôi nấng Đức hạnh Trí tuệ, chăm sóc Đức hạnh Trí tuệ không ngừng không nghỉ, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, đời này qua đời khác v…v mãi mãi lâu dài như vậy, tới khi vun bồi Phước (lộc tài, may mắn) Huệ (hiểu biết, trí tuệ) trở thành thói quen thường nhật, Đức hạnh trở thành lối sống hằng ngày, sự làm lợi ích ấy quen thuộc như cơm nước không khí, chẳng thể thiếu thốn, thì mới đúng thật là “Cát” hằng “Ích” lợi – sự lợi ích và niềm vui trường viễn muôn Đời !



Sửa bởi HieuHcmVN: 01/07/2025 - 21:59


#81 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 02/07/2025 - 16:13

Hỏa Phong Đỉnh

鼎: 元吉, 亨.

Ðỉnh: Nguyên cát, hanh.


“Đỉnh” là cái vạc, cái đỉnh; là vật làm bằng kim loại có chân dùng để nấu ăn. Cũng là vật đại biểu cho quyền lực và sự tôn nghiêm - ở đây tức là khát vọng vươn lên, niêm tin về chân lý chánh nghĩa sẽ luôn chiến thắng !

Trước quẻ Đỉnh là quẻ Hằng, sau quẻ Đỉnh là quẻ Đại Quá. Muốn được lợi ích, muốn được lâu bền thì phải “Hằng” luyện gắng tâm, luyện ở đâu ? Ở trong cái khuôn phép của “Đỉnh”, rèn luyện trong khuôn phép, bằng kỷ luật cứng rắn thì chẳng phóng chạy theo thói xưa tật cũ, lại giữ được “nhiệt” khí khát khao, như vật sống muốn thành chín để ăn được thì nhiệt lửa cần tập trung vào một chỗ, chỗ giữ được nhiệt ấy, chỗ chứa đựng nguyên liệu ấy Thánh nhân ví như cái “Đỉnh” – tức là bầu nhiệt huyết, niềm khát khao, sự đam mê – nó là động lực nuôi dưỡng lòng kiên trì, sự liên tục không ngừng nghỉ, muốn cho cái gì có thể thành tựu để mang lại của cải, mang lại lợi ích – như đồ nấu chín để ăn mang lại sức lực – thì bao giờ cũng phải đặt để nó ở trong Tâm hồn vững vàng như Đỉnh, niềm tin tất thắng như chất Đồng, và ngọn lửa nhiệt huyết thiêu đốt thôi thúc của đam mê, khát vọng.

Khát khao phải xuất phát từ nội tâm sâu kín, sâu lắng, sâu sắc, không phải hời hợt bên ngoài, không phải là sự ham thích nhất thời, không phải là cảm giác hơn người hay muốn có được mà chẳng chịu trả giá v…v như vậy thì dù muốn dù cầu trăm nghìn vạn điều đi nữa, cũng chỉ thành thứ nóng vội, bộc phát, nay thì hừng hực lửa cuộn mai thì nguội lạnh như Đông đã về. Xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn muốn làm điều gì đó lợi ích, điều gì đó ý nghĩa, không phải chỉ cho mình và còn cho người, ấy tức là “Nguyên” thể ban sơ, tâm hồn hiện hữu khi mới lọt lòng, từ trong sâu thẳm tâm hồn ban sơ ấy phát sinh ra động lực, phát sinh ra quyết tâm, phát sinh ra khát khao…thế mới có thể thúc đẩy mình đi xa và không bị khó khăn chướng ngại làm cho nản lòng bỏ cuộc. Từ gốc rễ tâm hồn phát sinh ra niềm tin mãnh liệt thì có gì mà chẳng thành, có gì mà không thông lợi, đó là thực nghĩa của “nguyên cát, hanh”.

Nhưng khao khát quá mức mà bất chấp điều kiện hoàn cảnh, bất chấp thân thể thế nhân, chỉ có một thứ ấy mà quên hết những thứ khác thì tức là tự tách mình ra ngoài Xã hội lại mong Xã hội công nhận mình, nào đâu có lý như thế ? Do đó, vẫn là cái đạo bao trùm vũ trụ - cân bằng – hãy nỗ lực và rèn luyện không ngừng, nhưng đừng có vì thế mà thành ra “Đại quá” – muốn cái gì vượt quá khả năng, muốn cái gì chóng thành ít khổ, muốn mà không chịu trả giá, thích mà không cần bận tâm hậu họa sau này, đó không phải là lối đi phương hướng Thanh nhân chỉ dạy. Thánh nhân nói ra để phòng mà tránh, không phải nói ra để biết rồi tặc lưỡi cứ làm, vậy thì Trời cũng không cứu nổi người ngu si cố chấp đâu.

Khác với “Tỉnh” là cái giếng, sự lợi ích nằm ở sự khai thác cái sẵn có, đúng chỗ đúng lúc. “Đỉnh” là cái vạc, sự lợi ích chỉ sinh ra khi biết chủ động gia giảm, vun bồi những gì có sẵn, tôi luyện nó thành thứ có ích. Xét ra thì, một bên là phước quá khứ - tức cái có sẵn lấy ra để xài – hên may chẳng cần gắng nhiều sức, một bên là Đức hiện tại phải tôi luyện rèn dũa mới nên, là phước hiện đời – có làm thì mới có ăn.

Quẻ Khôn lấy "tẫn mã" làm hình tượng đại biểu cho Đức hạnh "nhẫn nại" để vượt qua chông gai, thì quẻ Đỉnh lấy "tẫn ngưu" làm hình tượng cho Niềm tin khát khao hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả !




Sửa bởi HieuHcmVN: 02/07/2025 - 16:26


#82 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 02/07/2025 - 18:29

Thiên Phong Cấu

姤: 女壯, 勿用取女

Cấu: Nữ tráng, vật dụng thủ nữ.


Trước quẻ Cấu là quẻ Đại Quá, sau quẻ Cấu là quẻ Phục.

Khát khao quá mức, bất chấp hệ quả, từ chỗ là động lực chân chánh nó trở thành lòng tham mù quáng, mù quáng rồi thì đương chức đươc quyền, ham muốn dục lạc nó trỗi dậy nảy sinh là lẽ dĩ nhiên, trong các thứ dục thì sắc dục – nổi bật nhất là nữ sắc- sẽ khiến người Quân tử mê muội mà phá hỏng đi chính tiền đồ tương lai của mình. Do đó, nối tiếp Đại quá – thiếu tài mà tham quyền cố vị, ham hưởng Danh Lợi – thì gặp gỡ - “Cấu” - Nữ nhân tài sắc, rồi bị cuốn vào vòng xoáy thị phi tệ bạc, kết cục không biết điểm dừng khiến cho thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát, xa đọa hướng họa rồi tàn lụi, trở thành kẻ vô đức vô danh với Đời.

Kinh nói: Cấu nữ tráng.

“Cấu” nghĩa là gặp gỡ. “Nữ” là người nữ. “Tráng” nghĩa là trưởng thành, không phải thiếu nữ ngây thơ trong sáng nhưng vẫn trong độ tuổi thanh xuân, sắc nước nghiêng thành, đẹp lại đằm thắm dịu dàng, hiểu biết kinh nghiệm. Cũng nghĩa là mạnh mẽ, đã từng trải nhiều biến cố, tiếp xúc nhiều kiểu nhiều dạng người, nhiều loại đàn ông, nên có khả năng đọc vị tâm lý, biến động tình cảm thúc đẩy hành vi một cách chuẩn xác.

Cuộc gặp gỡ này rất là thuận lợi, rất là suôn sẻ, rất là tốt đẹp, cho nên mới dẫn tới sự hấp dẫn, sự gắn kết. Giả như “nữ” này vô duyên, xấu sắc thì chắc chẳng ngó ngàng tới rồi, còn đâu mà kết duyên thành nợ được nữa, thế thì “nữ tráng” là người nữ có nhan sắc, có bản lĩnh – tức là không chỉ khéo léo chiều chuộng, lại biết chủ động chiều chuộng, như biết ăn mặc sexy đúng kiểu, hở cái chỗ kích thích, che cái chỗ muốn thèm, khiến nam nhân nổi lòng dâm mà che mở trí tuệ, lại biết nói năng ứng xử, cử chỉ khéo léo, lời vừa vui vừa cuốn, như rót mật vào tai, đánh mắt đưa tình, lúc lùi lúc tiến v..v uyển chuyển tinh tế vô cùng. Chữ Cấu “姤” bên trái là bộ "Nữ" “ bên phải là chữ “Hậu” - nghĩa là phía sau, ý chỉ là cuộc gặp gỡ này không chính thức, có sự lén lút, là mối quan hệ bất chính.

Kinh nói: Vật dụng thủ nữ.

Do là “bất chính” không đúng đạo lý rồi, cho nên ở đây chẳng có “hanh”, chẳng có “lợi”, chẳng có “cát”, chẳng có “hung” v…v tóm lại Thánh nhân “miễn bình luận”, vì đã rõ ràng là bất chính rồi còn hỏi là “lợi” là “cát” là “hanh” không gì nữa ? Chỉ có một lời thôi, “Vật dụng” – chớ có mà đụng tới, đừng tưởng “nữ” ấy là vợ mình hay người tình kiếp trước, hay là ân sủng Trời ban, rồi mang ra sử dụng với niềm hạnh phúc tột cùng như dùng tay không leo lên tới đỉnh Olympia, thì coi chừng chẳng còn cái “mo” để mà che mặt, chẳng còn cái khố để mà che thân đâu. Chuyện này thực tế trong xã hội có rất nhiều, khi bị bắt quả tang đánh ghen, thì có khi nam nữ đang trần như nhộng, bị bắt tang, rồi được yêu cầu ở nguyên như vậy để người ta quay phim ghi hình cho nó chân thực sống động mà, danh dự nhân phẩm lúc đấy chỉ như khói tàn hóa vàng cho “vong linh” thôi.

“Thủ nữ” vốn là dùng cho việc kết hôn, lấy vợ của người nam. Nhưng nay đạo nghĩa suy đồi, lễ tiết mất hết, nên nam nữ chung đụng dễ dàng, thành ra các cháu choai choai cặp kè đôi lứa, cũng đã rủ nhau đi nhà nghỉ để “thức” chọn đêm thâu rồi, nên “tiết hạnh” là thứ đầu môi, còn “vợ chồng” là danh xưng thời vụ. Thế thì Thánh nhân tuy ở xa ngàn năm, cũng nói về một chuyện như đang tận mắt chứng kiến thời hiện đại, chẳng phải là nam nữ gặp nhau, nếu là cô đơn lẻ bóng, thì cứ đường đường chính chính mà cặp kè, đâu cần phải “Cấu” lén lút, rõ là việc lén lút này ý chỉ cho nam nữ đã có gia đình rồi, mà còn ham mê xác thịt, để cho Tài Lợi nó che mờ lý trí, tặc lưỡi làm chuyện gian dâm. Ấy thế thì không được rồi, “vật dụng” chớ nên đụng nhau như vậy, không tốt đẹp gì đâu !



Sửa bởi HieuHcmVN: 02/07/2025 - 18:33


#83 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 03/07/2025 - 10:57

Thời gian gấp lắm ai ơi
Tu mau kẻo trễ, phận người mỏng thay.
Kiếp người nay đó mai đây,
Giàu nghèo thọ yểu sang hèn khác chi.
Một mai "mưa gió" trái kỳ,
Tuổi thời trai trẻ, mả thời xanh non.

Đầu bạc, môi thắm còn son;
Lụm khụm hay vẫn trăng non má hồng.
Sống sao cho khỏi chạnh lòng,
Tài năng Đức độ, khổ công gắng rèn.
Trước nhọc, sau ắt vững nền,
Bằng không mưu mẹo sớm phiền, họa tai.

Mưu cao sao thoát ngục hài,
Cười người hôm trước, người cười hôm sau.
Dù cho khuất mặt, oán sâu;
Làm Ma, làm Qủy theo không buông rời.
Ngấm ngầm hãm hại khắp nơi,
Chớ cho người mất, chẳng còn phiền ta.
Biển thù, oán nghiệp bao la,
Trời cao dẫu tỏ, cũng đà buông tay !

Nghe sao tiếng thét đọa đầy,
Ngục "Tam Thái Tử", đất ngay sát mình.
Rên la nam nữ, thật kinh.
Chích điện, hãm hiếp, mổ hình lấy gan.
Khác nào dã thú, hổ mang
Khác nào "địa ngục trần gian" kia người.

Vì sao nghèo mạt, Trời ơi ?
Vì sao phải khổ, theo người xứ xa ?
Vì sao oán ghét thù nhà ?
Vì sao người Việt nhẫn đà giết nhau ?

Bởi Danh, bởi Lợi chứ đâu.
Bởi vì hai chữ: Tiều mau đến liền !
Bợi do nhẹ dạ cả tin,
Bởi do nghiệp cũ, oan khiên đắp bù.

Hiện thực nó cứ lù lù,
Phải mau phản tỉnh, khéo tu sửa mình.
Đạo lộ Hiền Thánh rộng thênh,
Buông nhẹ là thoát trầm luân thôi à !
Nhìn cho thấu rõ sơn hà:
Nhân Duyên, Nghiệp Báo khéo mà vững tin !

Sửa mình quý nhất cần chuyên,
Rèn Tài luyện Đức, tinh chuyên sớm chiều.
Mai này Đức sáng Tài nhiều,
Của danh đâu thiếu, chẳng tiêu hết mà !
Bởi do ít muốn, thật thà.
Bởi do, cần kiệm khéo là đủ thôi.
Bởi do học một biết mười.
Bởi do chăm gốc, quả thời xum xuê.

Thánh nhân dạy bảo quay về:
Tu Tâm, dưỡng Tánh, Lễ Nghi học hành.
Văn ôn Võ luyện cho tinh.
Mai này dựng đắp quê mình đẹp tươi.
Người người, tại xứ vui cười.
Chẳng còn thấy cảnh buôn người xứ xa
Chẳng còn lừa lọc gian tà,
Chẳng còn khổ lụy, xót xa cõi lòng.
Chẳng còn phiêu bạt mông lung.
Quê mình mình ở, thái bình yên vui.

Tiếp đây "Di" ấy dưỡng nuôi.
"Đoài" thời hoan hỷ, vui tươi tràn trề.


Sửa bởi HieuHcmVN: 03/07/2025 - 11:16


#84 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 04/07/2025 - 08:04

Sắp tới bùa ngải khắp nơi,
Mọi người gắng giữ một thời ăn chay.
Chính Ngọ chư Thánh sum vầy,
Phải nên chay tịnh, phước thay sự này !

Quỷ Ma xuất thế ngập đầy,
Tâm tà liền cảm, chiêu vây quanh mình.
Xui khiến làm chuyện tày đình,
Hoạ tai cũng bởi do mình gây ra.

Chánh niệm, là thuốc trị Tà.
Là Bùa chiếu phá, phải mang bên mình.
Thiện tâm thiện hạnh, định ninh.
Lòng thời trong lặng, Trí thời sáng soi.

Mau mau tu chỉnh ai ơi,
Kỳ này "thanh" "trược" hỡi ôi thảm sầu !
Mười phần chết bảy chẳng lâu,
Muốn mình dự Hội, phải mau tu trì.

Tiền tài kiếm khéo nhớ ghi:
TỰ TÂM LÀ PHẬT,cầu chi bên ngoài !
Kính Thiên kính Địa,các Ngài,
Chẳng bằng cung Kính Phật nơi tâm mình.

Giữ Tâm trong lặng quang minh,
Là Phật hiện tiền, Trời Đất lòng ta.
Trời Phật Đức rộng bao la,
Lòng không tạp niệm, khéo đà ứng Thiên.

Chúc cho trăm họ an yên,
Chúc cho quý hữu niên trường phước sanh.
Chúc cho nước Việt thái bình,
Chúc cho nhân loại sáng tình: Nghĩa - Nhân.

Kinh này, sáng tụng chiều ngân
Là Đạo Trời Đất, dạy lòng hướng Thiên.
Là biết Trời Phật linh thiêng,
Quả gieo Nhân gặt, không riêng ai mà.
Hãy mau khéo lánh đường tà,
Thẳng nơi thiện Đức, sau Ta gặp người !

Nam mô Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Sửa bởi HieuHcmVN: 04/07/2025 - 08:29


#85 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 04/07/2025 - 08:19

Sơn Lôi Di

頤: 貞吉. 觀頤, 自求口實.

Di: Trinh cát. Quan di, tự cầu khẩu thực.


“Di” nghĩa là nuôi nấng, nuôi dưỡng. Trước là quẻ Phục, sau là quẻ Truân.

Trước kia lỡ phạm phải sai lầm, nay tự ý thức nhận ra sửa sai để nhằm khôi “Phục” lại Trinh đức ban đầu bị thói hư tật xấu chôn vùi, che lấp. Vì thế, sau Phục là Di, tức sự nuôi dưỡng lại Đức hạnh đã lỡ bị thói xấu làm cho “vấy bẩn”, làm cho yếu đi. Nhưng nhân đã gieo thì quả phải gặt, lỡ phạm sai lầm rồi thì trong lúc nuôi dưỡng sửa sai, ắt phải đối diện với khó khăn thử thách “Truân” – một là để trả giá cho hành động sai lệch trong lúc ngu tối mình lỡ phạm, hai là thói cũ lâu ngày nó có lực kéo khó bỏ, rất dễ cuốn dẫn mình trở lại “đường xưa”, sửa đổi thói xấu như mang nặng leo dốc, hay chèo thuyền ngược gió vậy đó, không hề dễ dàng, không hề đơn giản, nhưng trong toàn Kinh Dịch đều nói rõ ràng: việc khó không đáng sợ, sợ nhất là làm việc sai hay lòng mình yếu nản khi đứng trước “giống tốt, mưa xa” mà thôi.

Kinh nói: Di, trinh cát.

Nuôi dưỡng hạnh đức để làm sáng tỏ Trinh đức, thì tất nhiên tương lại là “Cát” hỷ vui mừng. Thế thì phải nuôi dưỡng thế nào cho để Trinh đức được hiển bày “rực rỡ” ? Trinh đức hiển bày rực rỡ, tức là đồng nghĩa với “Minh tâm kiến tánh” trong nhà Phật.

Trước đây đã nói tới 3 pháp môn căn bản để thành tựu Trí Huệ như chư Phật đó là: Samatha (Chỉ) ở quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, Tam Ma Bát Đề (Quán) ở quẻ Phong Địa Quan và Thiền na (Tham thiền) ở quẻ Sơn Thủy Mông. Cả ba pháp môn này tương ứng với ba bảo vật của Phật Pháp là Giới – Định – Huệ. “Chỉ” tương ứng với “Giới”, “Quán” tương ứng với “Định” và Tham thiền tương ứng với Huệ. Tham thiền thì tức là quay về Tiềm thức để tìm câu trả lời cho vấn đề mình chưa rõ, còn nghi hoặc, muốn sáng tỏ; thay vì hướng ra ngoài ngoại cảnh hay chạy theo suy nghĩ để tìm câu trả lời, thì xoay vào trong mà tìm kiếm, sức tìm kiếm nội tâm càng mạnh thì sức phá vỡ sự “thiếu hiểu biết” càng lớn, khi nhân duyên đầy đủ, nó pha tan đi cái “vô thủy vô minh” mà khai mở Đại Trí Huệ.

Khai mở “Vô sư trí” thì tương ứng với Huệ đúng rồi, nhưng tại sao Quán lại tương ứng với Định – tức khả năng bất động trước sự tác động ? Là vì Quán mang lại sự hiểu biết Nhân – Duyên – Quả, thấy được sự Vô thường và Vô ngã của vạn sự vạn vật, cho nên khiến con người giải thoát chính mình khỏi sự trói cột của định kiến, của kiến thức, của kinh nghiệm, của cảm giác v…v vì nó vô thường nên nó không vĩnh cửu, biết nó không vĩnh cửu nên không ôm giữ nó, thế nên trước sự tác động không bị chạy theo, nhân đó mà được Định. Lại nữa, vì Quán xét sự vật tới tận cùng nên hiểu bản chất của sự vật, hiểu rằng: cái gì xuất hiện trên đời, hay với người đều có nguyên nhân sâu xa đăng sau, đều có điều kiện nhất định khiến nó hiện hữu và vì thế thì nhân và điều kiện chẳng còn thì sự vật cũng tan biến theo, biết rõ như vậy nên được sự Định tĩnh trước ngoại cảnh tác động.

Nay muốn khiến cho Tâm ta được sáng suốt (Minh tâm), khiến cho Trinh đức được hiển bày rõ ràng (Kiến tánh) thì ắt ta phải kiên trì mà thực hiện các pháp môn trên đây, có thể tuần tự hoặc tùy ý chọn lựa một pháp có duyên, ấy là do căn cơ trình độ tu tập của mỗi người. Xong về căn bản, Giới là nền cho Định – Huệ, như Lễ Nghi Đạo đức là nền cho Tài Trí cao dày, không thể bỏ qua việc giữ gìn Giới luật – tức là sự kỷ luật bản thân mình, việc đề ra lộ trình hành động và phải tuân thủ đúng với lộ trình mình đã đề ra, cam kết kiên trì cho tới khi thành tựu mới thôi. Thành tựu rồi thì Trinh đức được sáng rõ, không còn bị thói quen chi phối sai khiến, tùy theo Trí Huệ mà điều khiên thân tâm hành xử trong mọi hoàn cảnh, như thế tức là tự do vui vẻ, là “Cát” hỷ đó vậy.

Kinh nói: Quan di, tự cầu khẩu thực.

“Quan di” nghĩa là xem xét kỹ việc nuôi dưỡng. “Khẩu thực” nói lời thật thà. “Tự cầu” nghĩa mong muốn của mình, cái mình tìm kiếm.

Việc sửa mình cốt để làm tốt cho mình trước tiên, đó là điều mình mong muốn phát xuất ra từ sự hiểu biết Nhân Quả, biết Thiên luật, muốn thành tựu bền vững chân thật. Phật dạy “Trực tâm” – tâm ngay thẳng không quanh co, là đạo tràng, là Tịnh độ - nơi yên bình thanh tịnh. “Khẩu thực” chính con đường đưa đến, hình thành “Trực tâm” vì đó là lời thành thật, không chỉ với mình mà còn với người, trong ngoài chẳng khác, trước sau như một, thành thực như vậy thì Tâm không còn quanh co, suy tư mưu lợi mà nói dối gian trá, thực hành khẩu thực tức là bước đầu tiến sâu vào con đường làm cho Tâm sáng, khiến cho Trinh đức được tỏ lộ ngày một rõ ràng hơn. Cho tới khi, chẳng còn chút gian dối nào thì Tâm tự nhiên được tịnh, Trí tự nhiên sẽ sáng và Trinh đức tự nhiên sẽ hiển hiện phơi bày.

Vì thế, trong việc sửa mình, trong việc nuôi dưỡng đức hạnh cần xem xét cho nó kỹ lưỡng – “Quan di” – để có thể nhìn nhận thân tâm hoàn cảnh đúng như nó là, đúng nhưn những gì đang diễn ra, mà chẳng suy diễn, ngụy biện, tô vẻ thêm sự vật, rồi theo cảm xúc hay hiểu biết sai lầm mà diễn giải nó ra, đôi khi chỉ riêng việc hiểu sai cái đang là cũng đủ để tâm mình rối ren rồi, chưa cần phải có vấn đề bất như ý xảy ra. Muốn sáng tỏ Trinh đức thì lòng phải trong sạch trong sáng, ý mình phải thành thật chân phương, không có gì gọi là giả dối, sai với sự thật ở đây, vì đó là bụi phủ gương tâm, che mờ Trí Huệ, dẫn đường cho thói lươn lẹo, đó là mảnh đất “phì nhiêu” cho thói xấu tật hư nảy sinh và lớn mạnh.

Ngược với “trực” tức là “tà vạy, cong vẹo, lươn lẹo, che đậy”, thế thì Trực Tâm là đất lành cho Trí Tuệ và Trinh đức hiển lộ, thì Tà Tâm là đất tốt cho Si mê và Tà đức vươn lên làm Đời người rơi vào vòng xoay của bất hạnh, khổ đau.


Tập Đoài

習兌; 亨.利貞.

Tập Đoài; Hanh. Lợi trinh.


Trước Đoài là Khuê – mâu thuẫn, sau Đoài là Lí – thẳng thắn nói lên sự thật. Khi con người ta không hài lòng về nhau, nhưng vẫn chôn dấu trong lòng, kìm nén chưa bộc lộ ra ngoài, đó chính là nhân của sự xa cách, sự thù hiềm và sự tranh cãi mai sau, do đó muốn được sự vui vẻ hòa thuận của Đoài, phải có sự dũng cảm nói ra nỗi lòng, nói lên sự thật của “Lí” thì mọi sự tương lai mới được hanh thông thuận lợi.

Kinh nói: Đoài hanh.

Mâu thuẫn lại chuyển thành vui vẻ, vì mâu thuẫn đã được giải quyết, hiềm khích đã được xóa nhà, sự thật đã được phơi bày và nỗi lòng đã được cảm thông thấu hiểu. Trước kia chưa hiểu gì về nhau, cho nên nhìn nhận sự việc bị cảm tính, đem định kiến hạn hẹp áp đặt lên đối phương, rồi nương theo sự suy diễn cá nhân mà định hình lên sự vật, cho đó là sự thật là chân lý, sử dụng nó làm cơ sở để đánh giá, để quyết định phương cách đối ứng hành xử với người. Nay nhờ hiểu rõ hơn về người, biết được chỗ hay chỗ dở, biết được chỗ khó chỗ dễ, biết được chỗ khuyết chỗ ưu v…v đã hiểu nhau rồi thì liền tự nhiên cảm thấy gần gũi, muốn thay đổi cách ứng xử, muốn thay đổi lại hành vi tiêu cự dành cho nhau trước đây, niềm vui sinh ra từ sự hiểu biết và cảm thông. Vậy Đoài là niềm vui của sự thông hiểu.

Nhờ sự mâu thuẫn mà hiểu nhau, mình hiểu người, người hiểu mình, do đó thông cảm được cho nhau rồi vui vẻ trở lại, sự thông hiểu được nhân đôi mang lại niềm vui cho cả đôi bên thì gọi là “Tập Đoài”. Vui vẻ rồi thì hợp tác dễ dàng, làm gì cũng được “hanh” thông.

Kinh nói: Lợi Trinh.

Hiểu nhau, vui vẻ hợp tác với nhau, nhưng sự lợi ích khi mà cả hai cùng hợp tác làm điều đúng đắn, làm điều thiện lành, chứ không phải như trong chốn quan trường, hòa đồng vui vẻ cùng chia sẻ lợi ích “nhóm”, chỉ có phe cách đồng chí thì được lợi còn ngoài nhóm hội mình, chẳng cần quan tâm, có bị hư hoại hay chịu cảnh oan khiên thiệt thòi thì cũng mặc kệ, chẳng ngó ngàng tới. Sự vui vẻ sinh ra do Lợi ích có được dựa trên sự bất hạnh của kẻ khác, sự đau khổ của người khác, ấy là sự “nhẫn tâm”, là trái đạo Nhân Nghĩa, thế thì ắt là chẳng được lợi ích lâu dài, sớm muộn cùng theo Nhân Quả mà trả giá đắt về sau. Do đó, thông hiểu vui vẻ hợp tác gắn bó, phải lấy Trinh đức – thành tín trong sáng thiện lành – làm nền tảng, cùng xây dựng điều tốt đẹp, như vậy thì mới là “Lợi Trinh” mà Thánh nhân muốn khuyến khích người Quân tử học tập thực hành.



Sửa bởi HieuHcmVN: 04/07/2025 - 08:39


#86 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 04/07/2025 - 12:44

Sấm vang báo trước chuyện Đời,
Trời thương, Trời dặn những điều yếu chân.
Mong người thoát cảnh gian truân,
Giúp người phản tỉnh, góp phần đổi thay.

Học Đạo dù chóng, dù chầy;
Đặt chân vững bước, ắt ngày thành công.
Đời - Đạo vốn Sắc thị Không,
Đạo - Đời vốn chẳng hai dòng ngược xuôi.

Tu Đạo ngay giữa cuộc Đời,
Thành Đạo bởi Trí sáng nơi cõi lòng.
Chẳng phải hiển lộ thần thông,
Chẳng phải biến hóa thành Rồng, thành Tiên.
Chẳng phải tất bật triền miên,
Mà ở tâm vững, ý yên mỗi ngày.

Giờ đây nước Việt đổi thay,
Phật Trời đồng hiện sáng nơi Ta Bà.
Trăm năm trong cõi người ta,
Duyên này quả thật, khó mà tả thay.
Chỉ biết: Nước vững từ đây,
Người người hạnh phúc, chuyển xoay nhọc phiền.

Tốt đẹp chịu khó mà nên.
Trước khi Vận tới, Hạn liền hiện ra.
Vượt qua Đại Hạn Quốc gia,
Mỗi người phải gắng tu đà sửa tâm,
Cộng thêm rèn Trí luyện lòng,
Đức Tài sau trước khổ công cho thành.
Đắp xây nước Việt quang vinh,
Đời đời hưởng lộc Rồng Tiên, Lạc Hồng.

Tiếp lời "Cấn" "Chấn" giữ neo,
Biết "dừng", biết "tỉnh", noi theo Thánh Hiền.


Sửa bởi HieuHcmVN: 04/07/2025 - 12:49


#87 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 04/07/2025 - 21:03

Thuần Cấn


纯 艮: 艮 其 背, 不 獲 其 身, 行 其 庭, 不 見 其 人. 無 咎 .

Thuần Cấn: Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, vô cựu.


“Cấn” là bền cứng, bền vững, kiên cố; cũng nghĩa là ngừng lại, đình chỉ. “Kỳ” là ấy, đó. “Bối” là mặt trái, mặt sau; là quay lưng lại; là làm trái, làm ngược lại; cũng nghĩa là cõng, đeo, gánh vác; là giấu giếm, lén lút. “Hoạch” là thâu được, bắt được; giành được. “Thân” là thân thể; là chính mình. “Hành” là làm; đi; là lưu thông. “Đình” là sân trước; chỗ rộng rãi. “Kiến” là gặp; là đụng, chạm. Chữ “Thuần” nghĩa là thuần túy, thành thực.

Ở đây xác định từ “kỳ” lặp lại bốn lần, nhấn mạnh vào những đối tượng cụ thể trong hoàn cảnh thực tế mà người rơi vào tính huống “Cấn” đang đối mặt - hay nhất định sẽ phải gặp, bởi Thánh nhân dụng lời định hướng cho trăm họ, mà “mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh” cho nên sẽ nói tới cái chung thường gặp mà gạt qua cái cá biệt đơn lẻ - cần xem xét kỹ : “bối”, “thân”, “đình”, “nhân”; Sáng tỏ: mình và người, che dấu và công khai, sau và trước, hẹp và rộng, trách nhiệm cá nhân và lợi ích của tập thể.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Thành thực mà dừng lại điều mình đang giấu giếm, bản thân chớ nên ôm lấy trách nhiệm vượt quá sức mình, hãy nhận lãnh việc đó một cách công khai, đừng lén gặp riêng ai để tìm kiếm sự nâng đỡ, thì sẽ không phạm lỗi lầm.

Có những việc mình đang “gánh vác” (“kỳ bối”) mà vượt quá “sức” mình, có thể là quyền hạn hay năng lực, thì cần chia sẻ, cần trình bày ra công khai (“kỳ đình”) ở nơi những người (“kỳ nhân”) có trách nhiệm liên quan, có quyền hạn xử lý hay năng lực giải quyết nghe được, chớ nên đơn độc xử lý hay giành lấy phần việc ấy cho mình “bất hoạch kỳ thân”, như thế thì kết quả của việc làm mới tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra (“vô cữu”). Ấy tức là “lượng lực nhi hành” – làm việc theo sức mình, chớ ôm đồm quá khả năng; lại cũng đúng với phương châm: “Chúng nhân tiễn trảo, sơn khả di” – người người chung tay, núi cũng dời được. Và quan trọng hơn là “ Càng phận chi tâm, tất chiêu kỳ họa” – hành động vượt quá chức phận, ắt sẽ tự rước họa vào thân. Nay chẳng “tùy tiện” hành sự, lại sẻ chia với người, thì tất nhiên là thoát “họa” được “vô cữu” cũng là nhờ Thánh nhân căn dặn kỹ càng. “Tri kỷ vi kỷ giả, sinh tử tương đạc” – người đã hiểu rõ mình như hiểu chính bản thân đến vậy thì tất nhiên là việc sống chết cũng có thể gửi gắm mà an tâm !

Lại cũng có nghĩa là, phàm nhận lãnh chức vụ trong một tập thể, luôn luôn phải tự chân thật xem xét năng lực của mình, đối chiếu với trách nhiệm của vị trí ấy có tương xứng, có phù hợp, có đảm đương nổi không ? Nếu không nổi, chưa đủ sức thì cần phải trình bày nó ra công khai trước tất cả tập thể, hay trước người giao phó trách nhiệm cho mình, để nhận được lời khuyên, sự chia sẻ đúng đắn. Chớ nên thì Danh Lợi của quyền chức làm mê muội tâm trí, tặc lưỡi làm liều hay hối lộ luồn lách tìm cách để được đề bạt, làm như thế thì ắt là tự mình “cố ý” đẩy mình vào vòng nguy hiểm của sự “chênh vênh” nơi quẻ Đại Quá.

Trước quẻ Cấn là quẻ Khiêm, sau quẻ Cấn là quẻ Kiển, ban đầu nhờ khiêm cung học hỏi, kính trên nhường dưới mà được người cảm mến giao phó trọng trách – Cấn, nhưng nếu khi nhận lãnh trọng trách, được Quyền cao Chức trọng rồi, thì rất có thể lại sanh tâm khinh mạt kẻ dưới – Kiển, do đó Thánh nhân phòng tránh cho người Quân tử mà răn dạy: chớ nên nhận việc quá sức mình hay tìm cách thăng tiến “cửa sau”, như vậy thì lợi bất cập hại, không có được sự tốt lành mai sau. Vì sao ? Vì mà lén lút để tìm người nâng đỡ đề bạt, do bản thân không tự tin về tài trí của mình cũng như thiếu sự đồng tình của mọi người trong tập thể, thế thì ắt phải “chung chi” một khoản không nhỏ, đã bỏ của để được thăng Quan thì sau này ắt phải lợi dụng địa vị làm điều “khuất tất” nhằm thu lại vốn cũ bỏ ra, làm như thế thì sao mà chẳng sinh ra “tai ương”, sao mà chẳng lâm vào cảnh “hung” xấu về sau. Dó đó, hãy cứ “hành kỳ đình, bất kiến kỳ thân” (bổ nhiệm công khai, dựa vào tài trí bản thân, chẳng nhờ luồn cúi hối lộ tìm cầu nâng đỡ) thì sẽ được “vô cữu” (chẳng phạm lỗi lầm).



Thuần Chấn


纯 震: 震 亨.震來虩虩, 笑言啞啞.震驚百里, 不喪匕鬯.

Thuần Chấn: Chấn hanh. Chấn lai hách hách, tiểu ngôn ách ách. Chấn kinh bách lý, bất táng chuỷ sướng.


“Chấn” là tiếng sấm sét; là rúng động, vang dôi, khiến giật mình kinh hãi. “Thuần chấn” là tiếng sấm lớn tới mức cùng lúc tất cả mọi người, mọi loài đều nghe thấy. Trước quẻ Chấn là quẻ Ích, sau quẻ Chấn là quẻ Phệ Hạp. Làm việc lợi “Ích” không ngừng, trong thì sửa mình, ngoài thì giúp người, trong ngoài đều “Lợi” thì tiếng thơm vang xa, danh tiếng như “sấm động ngang tai”. Người xưa nói: “Nhất thanh lôi động, vạn cổ lưu phương” – một tiếng sấm vang rền (thức tỉnh, đánh thức mọi người), mà tiếng thơm lưu truyền thiên cổ (ý chỉ cho việc lợi ích lớn lao rộng khắp), thế thì khi nói tới sự lợi ích lớn người ta hay ví với tiếng Sấm, vì sấm phát xuất nơi Trời mà vang xuống nơi Người, nó đại bảo cho Thiên lý Đạo đức, nó mạnh mẽ chấn động tâm can người, làm xoay chuyển con người từ chỗ tệ ác sai lầm, sang thành thiện lành đức độ, sự xoay chuyển người và mình nó có sức mạnh ghe gớm, lợi ích lớn lao cho nên Thánh nhân đặt để gọi là “Thuần Chấn”.

Nhưng sự thức tỉnh này, như người mơ màng bị dội gáo nước lạnh, ngay phút ấy tỉnh lại song có thể vài ngày sau thì “chứng nào tật ấy”, “bệnh cũ tái phát” v..v bởi thế sau Chấn là Phệ Hạp – tức là sự tu sửa trong kỷ luật và quyết tâm, dùng sức Giới – Định để uốn dẹp thói cũ. Trước khi “Chấn” – thức tỉnh, thì chìm đắm trong sai lầm tà vạy, nay nhân có người chỉ bày mà sinh tâm kinh sợ nghiệp quả ác báo, tâm liền khởi ý sám hối ăn năn, lòng thời rõ ràng sự nguy hại của điều sai lầm trước đây, ý muốn thay đổi, nhưng thói cũ đã quen cứ kìm kẹp chẳng dời, vì thế cần quyết tâm và kỷ luật để thắng sức ì Nghiệp lực, mà kiến tạo được Đức hạnh tốt lành. Sự tiếp nối giữ Chấn và Phệ Hạp, có sự quan hệ chặt chẽ, hỗ tương cho nhau cần thiết tới vậy. Thiếu “Chấn” thì chẳng biết sai để mà “Phệ Hạp”, nhưng thiếu “Phệ Hạp” thì “Chấn” cũng chỉ là gió thoảng mây bay, nước đổ lá khoai v…v ngày sau cũng phải mang thân này đền trả “chủ nợ”.

Kinh nói: Chấn hanh, chấn lai hích hích, tiểu ngôn ách ách.

“Chấn” là sự rúng động do mình được “thức tỉnh” bởi lời răn nhắc, thấy rõ sự nguy hại của Nhân Quả Ác Nghiệp mà lòng sinh sợ hãi, ấy là điều tốt đẹp, biết sợ thì né tránh chẳng phạm, do đó mà được “hanh” thông.

Khác với “Tỉnh” là chánh niệm trong mỗi việc làm, biết rõ mình người vạn sự vạn vật; thì “Chấn” là trực nhận ra điều đúng đắn, khiến kinh sợ mà chuyển tâm. Không có sự “Tỉnh” thì rất khó có được sự “Chấn”, tại sao vậy ? Vì bị cuốn theo, bị sai xử bởi thói hư tật xấu rồi, ngay đó tâm trí mê muội, làm theo phản xạ không hề “tỉnh táo”, dĩ nhiên không biết mình làm gì thì làm sao mà biết mình làm thế có tốt hay không ? Biết được mình làm gì đó sai trái, ấy đã là sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình làm sáng tỏ cái Trinh đức, giúp khai mở Trí Tuệ nơi Tiềm thức, cũng như đặt bước chân vững chắc trên con đường mà chư vị Hiền Thánh đã bước đi lâu xa về trước.

Kinh Không Uế Nhiễm, Trung Bộ Kinh, Phật dạy:

“ Này chư Hiền, ở đời có bốn hạng người. Thế nào là bốn? Chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Lại nữa chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Lại nữa chư Hiền, ở đây có hạng người không có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Lại nữa, chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế"…

Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt. Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng…

Này Hiền giả, hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Với người này, có thể chờ đợi như sau: "Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm". Này Hiền giả, giống như cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian được thanh tịnh hơn, được sạch sẽ hơn."

Vậy thì một người, tự mình nhận thức về bản thân mình còn có thói hư tật xấu, thì trong tương lai, khi điều kiện đầy đủ, họ sẽ khởi lên ý muốn diệt trừ nó, sau khi đã chịu đựng, sau khi đã phải trả giá vì những kết quả do thói xấu ấy gây ra, họ sẽ tìm cách để làm thanh tịnh tâm hồn mình, người như thế Phật dạy là người “ưu thắng” – tốt đẹp có sự mạnh mẽ, có tương lai “thắng” lợi trong đời sống làm người. Thế thì, nhân “Chấn” sẽ giúp người Quân tử thức tỉnh, nhân “Phệ Hạp” sẽ giúp người Quân tử tốt đẹp lên, nhờ hành động tu sửa chủ động, có ý thức, có quyết tâm, có mục tiêu rõ ràng.

“Chấn lai hách hách” - tiếng sấm vang lên khiến người loài run sợ, phát ra âm thanh rối rít như bầy chim non - “Tiểu ngôn ách ách”, khi người ta hoảng hốt sợ hai, tự nhiên sẽ có xu hướng phát ra âm thanh vô thức, ở đây sự cộng hưởng lớn do sự sợ hãi không chỉ có riêng mình ai, mà là tất cả đều chung cảm giác như nhau, do đó mà Thánh nhân lấy hình ảnh ríu rít của bầy chim non mà biểu tượng. Một là chim non thì còn phụ thuộc, ví như con người còn phụ thuộc vào Trời Đất, tiếng sấm vang lên như lời cảnh báo của Trời Đất về một sự kiện, một điều gì đó lớn lao sắp xảy tới, sắp diễn. Sự vĩ đại của điều sắp xảy đến này nó có tính ảnh hưởng rộng lớn cho toàn nhân loại, cho nên nhân loại khi biết được mới hoảng hốt đồng thanh kêu la “rối rít” như vậy. Nhưng khiến người sợ hãi không phải mục đích của lời răn mà Trời rao giảng, cốt để người thức tỉnh mà thay đổi chính mình thôi và đó là điều tốt lành, là lợi ích, phải nên trân trọng cơ hội ngàn vàng mà hữu duyên lắm mới có được này !

Kinh nói: Chấn kinh bách lý, bất táng chủy sưởng.

“Sưởng” là rượu nếp, thứ có hương thơm lại còn làm cho người say đắm. “Chủy sưởng” là cái muỗng để mục rượu nếp.

“Chấn kinh bách lý”, là tiếng sấm lớn vang xa cả trăm dặm. Đáng ra phải làm cho người nghe phải kinh hãi, buông rơi chính cái việc mà mình đang làm, nhưng ở đây thì lại là “bất táng” nghĩa là chẳng đánh rơi. Tại sao lại như vậy ? Vì có Định tâm, do giữ Giới, do hành Thiện tạo nên. Người Quân Tử nhờ học tập theo Đạo đức, biết giữ gìn Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín, mà khi gặp chuyện “bất ngờ” như sấm động, chuyện “bí mật” đáng sợ tới động Trời ,mà lòng chẳng giao động. Ấy là vì cái điều được “bật mí” là cái sự người Quân tử đang làm rồi, chỉ có chăng là bây giờ biết thêm tầm quan trọng của việc ấy trong giai đoạn này nó khẩn thiết và cấp bách hơn, thì bản thân sẽ cố gắng và tập trung rèn luyện nhiều hơn bình thương nữa thôi. Việc đang làm cứ làm, không có gì mà phải “hoảng hốt cả”, vậy thì điều làm say đắm lòng người như rượu nếp, đó chính là Thiện hạnh thiện Đức, và hương thơm của Đức hạnh thì nó còn có thể “bay ngược gió”, nó giúp “chuyển gió nghiệp” từ tà sang chánh, từ ác sang lành, từ hướng hạ sang hương thượng, nó rất là tốt đẹp, rất là đáng quý, vì thế không thể “chủy” – đánh rơi nó được ! Phải giữ chắc, nắm chắc và thực hành kiên trì cho tới khi thành tựu mới được.


Sửa bởi HieuHcmVN: 04/07/2025 - 21:08


#88 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 04/07/2025 - 21:48

" Lạy Cha chúng con ở trên Trời, con nguyện Danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện ở dưới đất cũng như trên Trời. Cảm ơn Cha đã cho chúng con lương thực hằng ngày và che chở cho chúng con. Xin Cha hãy ngăn dừng chúng con tránh xa trước cám dỗ, cũng như cứu thoát chúng con ra khỏi sự dữ. Amen ! "


Đức tin cứu giúp con người,

Vào khi khổ ải, đau phiền, sầu bi.

Chúa Cha, Thượng Đế nhớ ghi:

Luôn theo dõi bước, luôn vì chúng sanh !


Chẳng kể Nam Bắc Tây Đông,

Chẳng kể xưng Chúa, xưng Thiên, xưng Trời.

Ngài đều soi rọi khắp nơi,

"Trung Phu" là tín, "Lâm" thời dõi theo.


"Ta vì một đại sự nhân duyên có mặt ở nơi Đời, muốn khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến".

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Sửa bởi HieuHcmVN: 04/07/2025 - 22:05


#89 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 06/07/2025 - 05:41

Địa Sơn Lâm

臨: 元亨, 利貞.至于八月有凶

Lâm: Nguyên hanh, lợi trinh. Chí vu bát nguyệt hữu hung.


“Lâm” nghĩa là trên cao nhìn xuống; là gần, kề, đi đến, tới nơi; là đối mặt, gặp phải; Trước Lâm là quẻ Đồng nhân, sau Lâm là quẻ Tổn. Lạc giữa "địa sơn" - núi rừng hoang vu, bị mất phương hướng, thì nguy hiểm rình rập phía trước, "Tổn" hại khó mà tránh được.

Đồng nhân là hòa hợp, là đoàn kết. Đoàn kết thì tạo nên sức mạnh, một nhóm người cùng tiến về một hướng, nó có sự cộng hưởng rất lớn, cho nên sức ảnh hưởng ấy chấn động Trời Đất, chấn động người đứng ở trên những người ấy, vì thế mà khiến cho người đứng đầu phải chú ý, phải dõi theo, phải “nhìn xuống” – Lâm. Như trước đây, trong quẻ Đồng nhân đã từng nói, đoàn kết lại, tụ họp lại làm điều chánh nghĩa, làm điều thiện lành v…v thì rất tốt, sẽ mang lại kết quả “Cát” hỷ vui vẻ, thế nhưng ở đây “chí vu bát nguyệt hữu hung” – trong khoảng thời gian 8 tháng tính từ thời điểm “Lâm” này sẽ có sự “hung” xấu – như thế thì trong thời gian chưa tới 1 năm, lại có kết cục không tốt, rõ ràng là do làm điều phi nghĩa, trái Đạo gây ra.

Kinh nói: Lâm, nguyên hanh lợi trinh.

“Nguyên hanh lợi trinh” vốn là đức của Trời, trước nói nhìn xuống, sau nói đức Trời thì rõ là việc tụ họp này Trời rất quan tâm, có ý nghĩa chấn động rất lớn nên Trời mới phải ngó xuống nhìn xem, chứ “nguyên hanh lợi trinh” mà là tả cho sự Lâm thì chẳng thể nào có sự “hung” đằng sau được, cũng giống như Càn vậy, thay Trời hành Đạo thì vạn sự hanh thông, còn đây là trái Trời nghịch Đạo, do đó mới gặp phải điềm “hung” xấu.

Thế thì “Lâm” ở đây còn có nghĩa khác là “lâm nguy” - 臨危 là đối diện nguy hiểm, đối diện thử thách; vì là nguy hiểm là thử thách nên sau Lâm mới là Tổn – sự giảm bớt, sự tổn hại. Sở dĩ bị rơi vào cảnh hiểm nguy là vì Trời sắp đặt như vậy, Trời sắp đặt như vậy nên Trời mới ngó xuống nhìn xem, một là để coi những kẻ tụ họp lại làm điều trái Luật trái Đạo này có biết hối lỗi ăn năn khi gặp hiểm nguy không, mà nhân đó sửa tâm sửa tánh; hai là để cho nhân loại biết Thiên lý Thiên luật Thiên Đạo là có tồn tại, để biết kính Trời trọng Đất, để từ rày về sau không còn càn loạn như vậy nữa. Một sự hiểm nguy xuất hiện, vừa có tác dụng răn đe, vừa có tác dụng cải sửa, tại sao cần phải răn đe làm cho sợ hãi ? Bởi vì quá cố chấp, quá cứng đầu cứng cổ, dù dạy dù bảo nhiều cách nhẹ nhàng vẫn không chịu hối cải quay đầu, chẳng chịu nhìn nhận lỗi lầm là do nơi mình, cứ đổ tại người tại cảnh, tại Trời tại Đất v…v cứ mang họ “Đổ” mà chẳng chuyển sang họ “Nhận”, như tục nhân nói “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ”, nay Trời mang nguyên cái “hòm lớn” để trình ình trước mặt nhân sinh, để coi xem, còn mạnh miệng mạnh thân, còn can đảm “coi Trời bằng vung” được tới khi nào ?

Như vậy thì, “Hung” không xấu, rất tốt là đằng khác vậy, như Thiền sư Lai Quả nói: “thiết ngạch đồng đầu tề hạ luyện” – những kẻ cứng đầu cứng cổ, đều cho vào lò luyện !

Kinh nói: Chí vu bát nguyệt, hữu hung.

Trong quẻ Phục có nói tới “thất nhật lai phục”, ở quẻ Lâm này thì nói tới “bát nguyệt hữu hung” – một lợi một hại, một gần một xa, gần là tính bằng ngày, xa thì tính bằng tháng, cho nên ở đây chẳng nói tháng 8 mà là 8 tháng, hơn nữa nếu là tháng 8 thì nên gọi tên “Dậu” chứ chẳng phải là “bát” ý chỉ cho số đếm, đây là chỗ mà rất nhiều học giả, cũng như đọc giả băn khoăn khi nghiên cứu Kinh Dịch, nhân đây xác quyết lại sự hiểu cho đúng đắn: “bát nguyệt” nghĩa là tám tháng tới, tính từ thời điểm sự “Lâm” biểu hiện rõ ràng ra ngoài, chứ không phải thời điểm người đó nhận thức được sự “Lâm”, bởi sự vật biến chuyển độc lập theo quy luật Dịch khách quan, chẳng lệ thuộc ý chí nhận thức chủ quan của con người, dù có biết hay không biết, thì nó vẫn xảy ra, cho nên không dựa vào thời điểm nhận thức được sự có mặt của sự vật, mà dựa vào thời điểm sự vật xảy ra để tính đếm về sau cho đúng “bát nguyệt”.

Con số 8 có ý nghĩa rất thú vị, ở đây nói tới Dịch thì ta xét số 8 theo khía cạnh Bát Quái – tức là một chu kỳ chuyển dịch trọn vẹn từ Khôn tới Càn, từ thuần âm tới thuần dương, nay Lâm là trên cao nhìn xuống, thì vòng xoay lại ngược chiều, từ thuần dương tới thuần âm, ấy là theo góc nhìn về sự suy đồi của Đạo đức và lòng người. Xã hội cổ đại, tôn thời kính trọng Trời Đất thần linh, ngày nay giải thích đó là vì người xưa “ngu muội”, còn thời nay “khôn ngoan” hơn. Có “khôn ngoan” hơn thật không ? Vật chất và khoa học hiện đại tạo nên sự tiên nghi, nhưng Trái Đất thì bị tàn phá ghê gớm, chim thú muôn loài, đất đai bầu khí quyền, từ dòng suối tới con sông, từ khu rừng tới đồng lúa v…v tất cả đều bị “khám phá” một cách tàn bạo, con người thăng hoa về vật chất một thì tha hóa về Đạo đức mười, do đó đứng từ trên cao nhìn xuống, thì thực ra là nhân loại đang suy đồi xa rời Trời Phật, chứ chẳng phải là “tiến hóa” về gần với Trời Phật đâu ! Sống trong Trời Đất, mà xa rời Thiên luật, hủy họai Đạo đức, tàn phá thiên nhiên v…v thế thì họa tới gần kề, cũng không thể nào trách Trời sao không thương người cho được, vì người quá “ác” rồi ! Phải dạy dỗ thôi, phải cho đối diện “Đại Hung” thì mới mong, trong lúc cực suy này, họa may mới có được sự “Đại tỉnh”.

Việc này rất là hệ trọng, thiên tai nhân họa rất là ghê gớm, chẳng phải là việc nhỏ đâu, ai “khôn” thì nên sớm tỉnh mà sửa tâm sửa tánh, sửa dạ sửa lòng, bởi gấp lắm rồi, tính bằng “tháng” thôi đấy !




Sửa bởi HieuHcmVN: 06/07/2025 - 06:06


#90 VNhieu

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 735 Bài viết:
  • 260 thanks

Gửi vào 06/07/2025 - 12:29

Phong Trạch Trung Phu

中孚: 豚魚吉, 利涉大川, 利貞.

Trung phu: Đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.


Trước Trung phu là quẻ Tiết, sau Trung Phu là quẻ Quy Muội. Bên ngoài tiết chế hành vi, bên trong giữ sự thành tín, nhưng cũng đừng ép mình quá thì lại thành “quy muội” sẽ không tốt, cứ thả lỏng tự nhiên.

Như con heo “đồn” – cứ ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn, như con cá “ngư” cứ bơi qua bơi lại, mắt mở chẳng nhắm, nhưng miệng thì im khép chẳng nói lời nào. Chẳng chạy theo bên ngoài mà chỉ lo việc mình như heo, cứ mở mắt nhìn cho tỏ rõ việc mình mình làm chẳng nói lời thị phi, lấy cá lấy heo để tượng cho cái đức cần nhẫn thì sẽ được Cát Hỷ vui vẻ. Lo làm ăn đi, đừng có nói nhiều thì mọi sự sẽ được vui vẻ, ấy là nghĩa đen “trần trụi” của “Đồn ngư cát”.

Ít nói, siêng làm, trong nhẫn nại thành tín, ngoài tiết chế tự khiêm, làm như thế thì “lợi” ích nhân đôi, ngoài thì “thiệp đại xuyên” – vượt qua được thử thách khó khăn, trong thì “trinh” – làm trong sạch được tâm tánh. Trong ngoài đều tốt đẹp cả !






Similar Topics Collapse

  Chủ Đề Name Viết bởi Thống kê Bài Cuối

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |