KINH DỊCH có gì hay ?
VNhieu
31/05/2025
Hỏa Địa Tấn
晉: 康侯用錫馬蕃庶, 晝日三接.
Tấn: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
Trên nói “Độn” nghĩa là lui về; ở đây “Tấn” lại có nghĩa là tiến lên.; “tiến lui” cũng như “cương nhu” là những nhóm cách xử thế tùy thời cơ phổ biến mà phàm làm người khi hành sự đều dùng tới. Trong “tiến”, “lui”, “cương”, “nhu” lại chia nhỏ thêm ra thành nhiều loại khác nhau, trong các tình huống cụ thể, đa dạng biến hóa vô cùng. Do đó cùng một sự việc, cùng một hoàn cảnh, cùng một đối tượng nhưng khác cách ứng xử thì sẽ sinh ra vô vàn các kết quả khác nhau.
Khổng Phu Tử nói: “Bất học Thi, vô dĩ ngôn”, “Bất học Lễ, vô dĩ lập” – nghĩa là chẳng học Kinh Thi thì chẳng biết nói năng ứng đáp ra sao; chẳng học Kinh Lễ thì chẳng biết điều khiển hành vi cử chỉ thế nào; ấy là bậc Hiền nhân lo cho hiện thời và mai sau nên cẩn trọng mà soạn đặt, tự mình học tập để làm gương, rồi truyền trao lại cho hậu thế, để khi tới độ tuổi cất bước vào Đời được nhiều sự lợi ích lớn lao, tránh được những sự khó khăn không lường trước hết được. Đúng thật là quá đỗi mẫu mực và vô cùng chu đáo. Cảm thán thay !
Kinh nói: Tấn, khang Hầu dụng tích mã phồn thứ.
“Khang” nghĩa là khỏe mạnh, là bình an. “Hầu” nghĩa là tước Hầu, một trong năm tước quý Vua ban (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) như đã nói trước đây; nó cũng có nghĩa là “cái đích” - như tấm bia sử dụng trong thi bắn cung. “Dụng” nghĩa là sử dụng. “Tích” nghĩa là gậy chống, người ta hay nói tích trượng – gậy chống của các vị Đại đức Cao Tăng, đại diện cho Đạo Đức cao thâm). “Mã” là con ngựa, đại biểu cho sức mạnh sự bền bỉ dẻo dai. “Phồn” nghĩa là sinh sôi. “Thứ” nghĩa là nhiều; là dân thường.
Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Tiến lên - cố gắng phấn đấu không ngừng - trở thành Quan phụ mẫu, mang lại ấm no hạnh phúc cho Dân, biết sử dụng Đức Tài làm gậy chống (làm điểm tựa), thật mạnh mẽ bền bỉ và dẻo dai, để khiến cho đời sống nhân dân được sinh sôi phồn thịnh.
Người làm Quan là cha mẹ của dân (“Quan vi dân phụ mẫu”), dân có việc phải lo thì Quan chưa thể yên tâm an dưỡng. Nay nói “khang Hầu” là Quan an yên thế thì dân nơi xứ mà được Quan quản trị đang được ổn định, đời sống đang được ấm no hạnh phúc.
Chúng ta đi tới các vùng các xứ, thấy ghi chữ “Làng văn hóa”, “gia đình văn hóa” v..v ý chỉ là vùng ấy chỗ ấy, người dân cư xử với nhau có Tình có Nghĩa, có Đạo có Lý, do đó mới gọi là “văn hóa”. Các mối quan hệ tương tác như: chồng vợ, cha con, anh em , hàng xóm, bạn bè, huynh đệ, tỷ muội v..v đều hòa thuận vui vẻ, tương trợ lẫn nhau, ấy cũng gọi là “văn hóa”. Xứ mà Quan trị vì, nhà nhà văn hóa, người người văn hóa thì xứ ấy Quan khéo trị dân, Quan đó có công với Nước, xứng với bổng lộc Vua ban (lương bổng – trích ra từ tiền thuế mà dân đóng góp, thông qua lao động của chính họ). Vì thế làm cha mẹ của dân, thì Quan phải là người có Đức có Tài, mới hòng làm dân yên nước ổn, thịnh trị thái bình, như thế mới gọi là “khang Hầu”.
Lấy “Hầu” làm đích để phấn đấu, để tiến lên thì phải rõ cái Đạo Hạnh, Tài Trí mà tước Hầu đòi hỏi, phải thấy rõ trách nhiệm cao cả mà tước Hầu đảm đương, gánh vác; mà tự xét tự rèn sao cho trên thì không thẹn với Trời, với Vua; dưới không thẹn với Dân với Đất nước. Như thế mới là đạo “tiến lên” mà Thánh nhân răn dạy.
Kinh nói: Trú nhật tam tiếp.
“Trú nhật” nghĩa là buổi sáng trong một ngày. “Tiếp” nghĩa là tiếp đón, cũng có nghĩa là liên tục. “Tam” là ba.
Vua và các Đại thần ngày xưa thường Thiết triều nghị sự (họp bàn việc nước) khoảng từ 5-7 giờ sáng, sau đó Quan trở về địa phận, nếu có tiếp Dân hay tiếp khách thì diễn ra tiếp tục từ 7-9 giờ. Việc tiếp dân có khi trong một tuần chỉ diễn ra 2-3 lần. Chính vì vậy mà sau này Bao Thanh Thiên, có Đức thương dân, đặt trước Khai phong phủ, dán cáo thị rằng: Hễ dân có gì oan khuất, bất kể ngày giờ, cứ đánh vào trống này thì lập tức thăng đường; việc làm ấy cảm tới lòng dân, cho nên được tán dương tôn thờ; sau này trở thành huyền thoại và người ta đã dựng thành phim truyền hình, tất nhiên có thay đổi tăng thêm nhiều tình tiết hư cấu, nhằm mục đích tăng sự hấp dẫn cho người xem, nhưng về cơ bản thì vẫn lột tả được sự Thanh liêm của Ông.
Quay lại lời Kinh, các quan tiếp dân 2-3 lần trong tuần không bỏ cũng đã được coi là siêng lo chính sự, nay lại tiếp tới ba lần chỉ có một buổi sáng “trú nhật tam tiếp” thì muốn chỉ cho cái sự siêng năng, bận rộn chăm lo việc Nước việc dân của vị quan ấy là hiếm có. Thánh nhân dùng lời ấy vừa làm mục tiêu cho người làm Quan xưa và nay phấn đấu, vừa nhằm chỉ cho Đạo đức của người làm Quan là cần siêng năng làm việc, không nên ngại khó khổ; luôn cố gắng như vậy thì đảm đương được trọng trạch mà Nhà nước và Nhân dân tin yêu trao gửi.
Sửa bởi HieuHcmVN: 31/05/2025 - 14:17
VNhieu
31/05/2025
Ngày mai có thể lên tầng Trời mây.
Đời người lúc đó, lúc đây,
Giàu nghèo, hoạn hỷ, phúc may nhờ Trời.
Nhờ Trời mà cũng tại người,
Sống sao cho phải, được người nhớ thương.
Nào ai muốn thoát vấn vương,
Nào ai lại muốn trăm đường giàu sang.
Nào ai muốn được bình an
Nào ai lại muốn, râm ran xóm giềng.
Dù cho lang bạt khắp miền,
Đời người cũng phải có nơi để dừng.
Cuộc sống có lúc tưng bừng,
Nhiều khi cũng phải âm thầm đơn côi.
Kết duyên, kết bạn khắp nơi,
Thi ân như bỏ chẳng cầu cám ơn.
Nhưng mà ơn vẫn là ân,
Gieo nhân gặt quả, phúc may tới mình.
Phúc này chẳng rõ tội tình,
Phúc này chẳng rõ do mình, do ai.
Cho nên nhận chẳng, đúng sai,
Tùy thời đón nhận, miễn người được vui.
Chớ nên chấp chặt người ơi,
"Của cho của nợ", ấy lời dạy răn.
Dạy răn là việc dạy răn,
Nào đâu cứ phải trăm phần đinh ninh.
Khéo ra tỏ rõ, đừng kinh,
Đừng nên sợ hãi khiến mình lo toan.
Mình vay mình trả rõ ràng,
Người cho cứ nhận, kết đàng về sau.
Một mai đường Đạo bắt đầu,
Nhờ duyên kết ấy, mới mau thành Tài.
Cho nên Trời Đất an bài,
"Vô tâm" cứu độ, tùy thời "nhận cho".
Ai người "Tiết" hạnh chớ lo,
Tới thời "Đại hữu" của kho tràn đầy.
Sửa bởi HieuHcmVN: 31/05/2025 - 21:22
VNhieu
31/05/2025
- Thưa Tiên nhân, phải chăng có điềm gì không may sẽ xảy đến với con Ta sao ?
- Tâu Bệ hạ, sẽ chẳng có gì xấu xảy ra với Thái tử đâu, chỉ là tôi khóc vì tôi thương cho số phận của mình, tôi sẽ chết trước khi Thái tử lớn lên và vì vậy mà tôi sẽ không thể nghe được những Lời dạy cao siêu thốt ra từ miệng của Thái tử. Tâu Bệ Hạ, Thái tử sẽ lớn lên và trở thành Chuyển Luân Thánh Vương trị vì cả bốn cõi, hoặc Ngài sẽ đi tu rồi thành Phật. Nói xong rồi, tiên nhân A Từ Đàm xin phép Vua Tịnh Phạn rồi lui về rừng sâu.
Vua Tịnh Phạn nghe lời tiên nhân biết được Thái tử sẽ đi tu, nên ra lệnh cho tất cả toàn thành, không được phép cho Thái tử thấy những cảnh khổ đau bệnh tật. Vua cho xây những lâu đài nghỉ dưỡng tráng lệ ở các xứ, tùy theo thời tiết từng mùa, để Thái tử có nơi nghỉ ngơi. Lại sai kẻ hầu người hạ chăm sóc kỹ càng, Thầy dạy các môn toán số thiên văn địa lý và kinh Vệ Đà. Thái tử lớn lên thông minh, học giỏi, lại có sức khỏe hơn người, tới tuổi thành hôn, Thái tử Tất Đạt Đa dành quyền kết hôn với công chua Da Du Đà La, khi chiến thắng cuộc thi tỷ võ. Công chúa sinh cho Thái tử một người con trai, tên là La Hầu La.
Nhân một dịp dạo khắp trong thành, tới từng cổng thành, Thái tử thấy người già, người bệnh, người chết mà trong lòng nảy sinh suy nghĩ về việc tương lai mình cũng như vậy, cho nên có trí xuất trần để giải quyết việc lớn sinh tử, làm sáng tỏ vì sao con người lại phải chịu cái cảnh sinh lão bệnh tử khổ đau như vậy ? Ngài vượt thành xuất gia trong đêm, trao đổi trang phục với người lạ gặp dọc đường, từ đấy có hiệu là Sa môn Cồ Đàm.
Ngài dành 5 năm tìm khắp các danh sư trong nước để học tập, mỗi khi thành tựu được như các Thầy thì Ngài lại dời đi nơi khác, cuối cùng vẫn không thỏa mãn vì chưa làm sáng tỏ được vấn đề Sinh tử. Ngài tự mình tu hành, ở nơi rừng sâu, cách xa làng mạc thôn xóm. Ngài thực hành khổ hạnh tới cùng cực, có khi một ngày chỉ ăn một hạt thóc, hạt mè; lâu dần cơ thể suy nhược, Ngài sau này tả cho để tư nghe: khi ta muốn thở thì da bụng phía trước nó như dính vào với da bụng phía sau. Khổ hạnh cùng cực tới kiết sực, mà Đạo vẫn chưa sáng. Ngài nhớ lại quá trình tu học của mình, có những lúc Ngài ngồi thiên an nhiên, hài hòa, cảm thấy rất an lạc; Ngài muốn trở lại trạng thái đó, thoát lý những cảm giác thống khổ hiện tại đang chịu đừng. Ngài rời khỏi hang, đi được mấy bước thì gục ngã vì kiệt sức.
Tình cờ có cô gái tên Sujata mang đồ vào rừng cúng Thần linh, thấy Ngài nằm bất động, cô liền mớm nước và thức ăn cho Ngài. Ngài nhân đó hồi phục trở lại. Ngài kể rõ đầu đuôi sự tình, Sujata cảm mến hạnh tu, ý chí mãnh liệt và mục tiêu cao thượng của Ngài, nên phát tâm mỗi ngày vào một giờ nhất định sẽ mang đồ ăn vào cúng dường cho Ngài. Ngài rất biết ơn và chấp thuận,
Nhờ sự tương trợ của Sujata, sức khỏe Ngài hồi phục, tinh thần Ngài sáng suốt. Ngài tự lập thệ nguyện, ngồi bất động tại gốc cây Bồ Đề, nếu Đạo không sáng thì không đứng dậy. Trải 49 ngày, nhân khi sao mai vừa mọc, Ngài thành Chánh giác, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Từ đây, nhân loại có được dòng chảy chánh pháp, dẫn đường chỉ lối cho con người vượt thoát khỏi vòng Sinh tử khổ não.
Qua câu chuyện của Phật, ta thấy, sự cực đoan hành hạ thân xác, không giúp cho Đạo cả chóng thành. Việc tiếp nhận sự trợ giúp đúng lúc từ người khác, việc thực hành con đường hài hòa cân bằng tức Trung Đạo, lại giúp khai mở ánh sáng Trí Tuệ, diệt ưu bi khổ não, được tâm tự tại giải thoát nhẹ nhàng. Vậy thì nếu không có sự "tiếp nhận", sự "thọ ân" làm sao có cái việc thành Đạo của Phật thuở trước, vì thế "thi ân" không chỉ là giúp người, mà nó còn tạo nên điều kiện thuận lợi hỗ trợ chính người thi ân, thành tựu được trí nguyện cao cả của mình nữa vậy.
Sửa bởi HieuHcmVN: 31/05/2025 - 23:48
VNhieu
01/06/2025
Thủy Trạch Tiết
節: 亨.苦節不可貞.
Tiết: Hanh. Khổ tiết bất khả trinh.
“Tiết” có nghĩa là giảm bớt đi. “Khổ tiết” nghĩa là cố gắng hết sức để giảm bớt đi. “Bất” nghĩa là không. “Khả” nghĩa là có thể. “Trinh” là tâm hồn trong sáng, là trong trắng, là tiết hạnh.
Kính nói: Tiết, hanh.
Như trên đã nói, việc thứ nhất đã thành thì mong việc thứ hai cũng được, việc nhỏ thành thì mong việc lớn cũng phải xong, được ít thì mong có nhiều, được nhiều thì mong có nhiều hơn nữa v..v đó là tâm lý chung của con người đang mưu cầu Danh Lợi tại thế gian. Vì đa phần mọi người đều nghĩ rằng: Càng có nhiều bao nhiêu thì lại càng tốt đẹp bấy nhiêu. Trong quá trình phát triển đi lên không ngừng ấy, nếu người chẳng biết “tiết” chế, biết giảm bớt đi những gì đã dư thừa, những gì không cần thiết, rồi đem chia sẻ và cho đi tới những nơi cần cái đó hơn mình, thế thì “Nguyệt mãn tắc khuy, thủy mãn tắc dật” – Trăng tròn rồi trăng lại khuyết, nước đầy thì nước phải vơi; của cải dư thừa rồi ắt phát sinh những điều “tệ, loạn” để làm cho mọi thứ quay về chỗ cân bằng chính trung của nó.
Cho nên, Thánh nhân dạy người Quân tử phải biết “tiết” giảm khi cần, để luôn đạt được sự “Hanh” thông như ý; chớ để đến khi quá mức quá độ, thì Trời cao sẽ tạo ra thử thách, cám dỗ, thuận nghịch đủ phương, rồi thì người cũng phải buông tay san sẻ mà thôi. Nếu đã nhất định phải làm, chỉ bằng chủ động tự mình làm trước, thế có phải thu về được thêm nhiều niềm vui nữa, thay vì mặc kệ thời thế tới lúc “Trời chiều”, đột nhiên “màn đêm” nó lấy đi tất cả, lúc đó thì lại thành khổ não vô cùng.
Kinh nói: Khổ tiết, bất khả trinh.
“Khổ tiết” là sự cố gắng tiết giảm quá mức, tới ngưỡng suy kiệt; giống như trường hợp của Phật Thích Ca trong quá trình tu hành khổ hạnh. Kết quả của việc “khổ tiết” luôn là sự bất như ý, ngay cả đối với việc duy trì đức Trinh của người Quân tử. Những trường hợp do lòng mong cầu quá mãnh liệt, thôi thúc con người ta bỏ qua những nhu cầu cần thiết của cơ thể và tâm trí; đầy cơ thể và tâm trí vượt qua giới hạn an toàn để duy trì một nền tảng khỏe mạnh, nó khiến cho các bệnh tật phát sinh: suy dinh dưỡng, căng thẳng thần kinh, lao lực v..v ấy đều là kết quả bất như ý của những ai đang trên con đường chinh phục ước mơ của mình, vô tình hay cố ý bước vào, đều chịu chung một kết cục là “giữa đường đứt gánh”. Thánh nhân nói “bất khả” để nhất mạnh sự sai lầm, nhấn mạnh rằng con đường “khổ tiết” dù ở Đời hay trong tu Đạo, đều không thể thành công bền vững được đâu.
Mỗi người hãy tự cân bằng, để thành tựu ước mơ của chính mình !
Sửa bởi HieuHcmVN: 01/06/2025 - 01:45
VNhieu
01/06/2025
Hỏa Thiên Đại Hữu
大有: 元亨.
Đại hữu: Nguyên hanh.
“Đại” nghĩa là to, lớn. “Hữu” là sở hữu, là sung túc. “Đại hữu” là vô cùng dồi dào, vô cùng sung túc, cũng có nghĩa là “sở hữu rất nhiều”.
Thế thì dồi dào sung túc cái gì ? sở hữu rất nhiều cái gì vậy ? Có phải là của cải gia tài, năm thê bảy thiếp, dục lạc phồn thịnh, vật chất dư thừa, danh vọng cao tột hay chăng ? Tất nhiên là không rồi, đó là hoa trái, là ngọn không phải là cái gốc của "sở hữu" bền vững thực sự. Lại nữa việc ai đó sở hữu nhiều của cải trong thực tế không nhất thiết là người có Đức Tài, đôi khi chỉ là người có mánh khỏe, sử dụng mưu mẹo và sự khôn lỏi để mà thu thập về thật nhiều tài sản; vì vậy mà Thánh nhân không dùng "Đại hữu" để mô tả cho sự phồn thịnh về Danh lợi địa vị vật chất, bởi nó không xứng và không thể vươn tới “nguyên hanh” được, nó rất tạm thời và không bền vững (như hoa trái thì bốn mùa thay qua thay lại, còn cây cối thì vẫn cứ ở đó chờ đợi đúng lúc để sinh sôi), người sung túc về Danh Lợi cùng lắm chỉ gọi là “tiểu hanh" hoặc "hanh" mà thôi. Thứ mà xứng với “nguyên hanh” thì chỉ có thể là Đạo Đức, Tài Trí.
Ở các quẻ trước đây đã nói rõ về nguồn gốc của sự giàu sang là Tài năng, là khả năng tạo ra của cải, mà muốn có Tài thì phải có đủ thứ Đức hạnh như siêng năng, thành thực, nhẫn nại, nhạy bén, thành kính v..v rất nhiều thứ cần phải hội tụ mới có thể thành tựu được Tài năng và sẽ cần phải rèn luyện không ngừng thì mới trở thành bậc Kỳ Tài xuất chúng. Trải qua rất nhiều gian nan rèn luyện mới có thể tinh thông một lĩnh vực nào đó tới tận gốc rễ, từ đấy mới tạo thành giá trị để trao đổi với thiên hạ mà đổi về lấy của cải gia tài. Gốc của sự giàu sang, sự sung túc bền vững luôn luôn là Đức Tài, đó là chân lý chắc thật.
Do đó ở đây, “đại hữu” tức là dồi dào, sung túc Đức Tài, vì thế mà gần với Đạo, tức “nguyên”, lại chẳng bị chướng ngại trên đường đời, chẳng có gì thực sự là khó khăn không thể vượt qua nên “hanh”. Ấy là ý nghĩa thực sự của “Đại hữu, nguyên hanh”.
Sửa bởi HieuHcmVN: 01/06/2025 - 10:06
VNhieu
01/06/2025
Tưởng yên một chỗ, Trời không toại lòng.
Muốn cho lăn lội non sông,
Đề mài kiếm bén, để lòng vững thêm.
Chí trai đã quyết thì nên,
Nề chi khổ ải, ngại gì chông gai.
Làm trai cho đáng nên trai,
Vót đũa cho dài, vươn gắp cho xa
Sóng gió, bình tĩnh vượt qua;
Nghề này chưa đủ, nghề kia bù vào.
Lo lắng thì cũng chẳng sao,
Nhưng mà đừng quá dựa vào thế nhân.
Tự mình rèn luyện bản thân,
Nề chi tuổi tác, ngại gì xa xôi.
50 Bác vẫn đơn côi,
Mà sau dựng cả cơ đồ vững yên.
Noi theo, trí vững tâm bền;
Vợ con no ấm, muộn phiền sẽ tan.
"Lý", "Quải" dẹp hết lo toan.
Vững chân đạp bước, vượt miền trần lao.
Sửa bởi HieuHcmVN: 01/06/2025 - 14:59
VNhieu
01/06/2025
Trạch Thiên Quải (Quyết)
夬: 揚于王庭, 孚號.
Quải (Quyết): Dương vu Vương đình, phu hiệu.
有厲, 告自邑.不利即戎, 利有攸往.
Hữu lệ, cáo tự ấp, bất lợi tức nhung, lợi hữu du vãng.
Chữ “夬”, âm Hán Việt có nhiều cách đọc khác nhau như: “Quái”, “Quải”, “Quyết”; nó cũng giống trong tiếng Việt chữ “chơn” và “chân” là đồng nghĩa, nhưng do âm vực mỗi vùng mà đọc khác nhau, nên khi phiên âm ra cũng có chữ khác nhau, mặc dù về mặt ngữ nghĩa là đồng nhau.
Ở đây lấy chữ “Quyết” trong quyết định vì nó thể hiện rõ ràng ý nghĩa của từ, chẳng những về mặt hình, còn về mặt thanh và lại có tính liên hệ phổ biến. “Quyết” nghĩa là dứt khoát, không còn phân vân, sau khi đã suy nghĩ về một vấn đề gì thật thấu đáo.
Kinh nói: Quyết, dương vu Vương đình, phu hiệu.
“Dương” nghĩa là giơ lên, là phô bày ra. “Vu” nghĩa là đối với cái gì. “Đình” là cái sân, cũng nghĩa là triều đình. “Vương” nghĩa là Vua, người có quyền quyết định cuối cùng và cao nhất. “Phu” nghĩa là thành tín. “Hiệu” nghĩa là kêu to, khóc lớn; cũng nghĩa là báo hiệu – cơ sở thực tế phải chấp nhận và làm theo.
Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Quyết định dứt khoát, đưa sự việc này ra trước triều đình cho Vua xem xét, kèm theo bằng chứng chân thật rõ ràng nhất.
Người Quân tử phàm làm việc gì đều thận trọng cân nhắc trước sau, không tùy tiện vội vã, một là tránh phạm phải sai lầm gây tổn hại cho mình và người, hai là để lòng mình được an yên, tránh phải hối hận dằn vặt về sau. Có những vấn đề không thể tự mình quyết định là đúng hay sai, là tốt hay xấu, là được hay mất, là tiến hay lui, là thuận hay nghịch v..v tóm lại là việc mình không biết phải làm sao cho phải. Thì khi ấy nên đưa nó ra trước “ánh sáng” Trí tuệ của những người có khả năng phân định và quyết định sáng suốt hơn. Ấy là nghĩa “dương vu”.
“Vương đình” là triều đình của nhà Vua, là nơi các quan Đại thần nghị sự, quyết trạch những việc trọng đại của đất nước. Ở đây hội đủ các ban văn võ, hội đủ các bậc trí tuệ trên nhiều lĩnh vực, phàm mang việc gì ra đây thảo luận quyết định, thì luôn được sự lợi ích lớn lao. Hàn Phi Tử nói: “ Vô tham nghiệm nhi tất chi giả, ngu dã” – không hỏi han khảo cứu kỹ càng, rồi kiểm chứng trong thực tế mà đã vội vã quyết định thì đó là ngu xuẩn. Thế thì người Quân tử kết giao khắp chốn, tứ hải giai huynh đệ, đem chỗ thắc mắc chưa sáng tỏ ra hỏi han rồi thu nạp ý kiến, sau đó tự mình khảo cứu lại cơ sở thực tế của nó thế nào, cuối cùng tổng hợp lại cân nhắc kỹ càng sự lợi hại thiệt hơn, mà quyết định tiến lui, ấy là cách làm đúng đắn để giải quyết vấn đề mà Thánh Hiền xưa nay đều khuyên dạy.
“Phu Hiệu” là thật thà nói ra, lấy cái sự thực tế khách quan làm cơ sở, không tùy tiện tin vào lời đồn hay suy diễn chủ quan của mình hay của bất kỳ ai, chỉ có thành thực và dựa trên sự thật đang là, mới giúp cho mọi nhận định và quyết định không phạm phải sai lầm “chủ quan duy lý trí”, như biết bao bài học đắt giá đã từng trong lịch sử trước đây, hậu quả của sai lầm ấy nhiều khi còn ảnh hưởng tới tương lai cả một Quốc gia, một Dân tộc. Rất cần phải thận trọng !
Kinh nói: Hữu lệ, cáo tự ấp
“Hữu” là có, “lệ” là gắng sức, cũng có nghĩa là nghiêm khắc. “Cáo” là đưa ra, nói cho biết một cách công khai. “Ấp” là thủ đô, “tự ấp” là thủ đô, là kinh đô của mình; ý chỉ nơi quan trọng mình thuộc về, có vai trò quyết định tới sự tồn tại của mình.
Việc nói ra vấn đề khó khăn đúng với sự thật, đôi khi không phải dễ dàng, tại sao lại như vậy ? Vì trước nay chỉ có mình mình biết, nay nói ra cho người thì chẳng biết người suy nghĩ đánh giá ra sao, có suy nghĩ tiêu cực hay tích cực gì về mình chăng ? Nhỡ như người không hiểu, thì chẳng những vấn đề không giải quyết được, còn lại tự chuốc lấy cái sự dèm pha, coi thường. Do đó, cần “hữu lệ” – tức lòng can đảm, sự cố gắng mới có thể mở lời chia sẻ đầy đủ chân thật, mà không sợ hãi hay lo lắng bất an.
“Tự ấp” là kinh đô, khi vấn đề thuộc về Đất nước; là trung tâm của một nơi, khi vấn đề nó thuộc về khu vực đó; cũng là hội nhóm, là gia đình, là tập hợp những người có mối liên hệ với người đang gặp phải vấn đề. Vì thế, “tự ấp” là lớn hay nhỏ, tùy thuộc vào giới hạn và sự ảnh hưởng của kết quả mà vấn đề đó mang lại.
Ví du: nếu người chồng, người cha đang gặp khó khăn trong sự nghiệp, thì “cáo tư ấp” nghĩa là thông báo rõ ràng đúng sự thật không che dấu cho gia đình vợ con được biết; một là có sự đồng cảm chia sẻ kịp thời, hai là có thể hỗ trợ san sẻ bớt gánh nặng, ba là làm cho mọi thành viên trong gia đình gắn kết với nhau hơn.
Vì việc “cáo tư ấp” này rất quan trọng tạo nên sức mạnh đoàn kết hiệp đồng, nên Thánh nhân đặc biệt lưu ý mà dặn dò cẩn thận.
Kinh nói: Bất lợi tức nhung, lợi hữu du vãng.
“Nhung” nghĩa là binh khí. “Tức nhung” ý chỉ chính là cái binh khí này – tức là một thứ binh khí đã được xác định đang tồn tại trong không gian thời gian cụ thể, không nói chung chung.
“Binh khí” là phương tiện chiến đấu của chiến sỹ, của người lính trong chiến trận nơi chiến trường. Thương trường lại như chiến trường, cạnh tranh khốc liệt, cạm bẫy lừa lọc phức đạp đủ loại, thế thì binh khí của người Quân tử nơi chiến trường kinh tế chính là Tài Đức, là kỹ năng nghề nghiệp, là lĩnh vực chuyên môn, là thứ mình sử dụng để “kiếm cơm”, để tồn tại. Nay nói “bất lợi tức nhung” thì ý chỉ là, vấn đề hiện tại dù là gì đi nữa, gốc rễ của sự không như ý và không được lợi ích là do mình, là do Đức Tài của mình quyết định. Quả thực như vậy, nếu mình đủ Tài Đức thì nó chỉ là thử thách, đâu còn gọi là vấn đề nữa. Mà đã là thử thách, thì như viên mài dao, nó ở đó để giúp dao gươm sắc bén hơn, chứ nó ở đó đâu phải để cản trở sự phát triển mà lại lo ngại mà suy nghĩ tới mức bất an.
Vậy nếu như vấn đề sinh ra không thể giải quyết được bằng Tài Đức hiện có, do đó thử thách biến thành nghịch cảnh bất như ý thì thế nào ? Không sao hết, hãy “hữu du vãng” – đi học hỏi, đi rèn luyện thêm, để cho Tài Đức mình “sắc bén” hơn, thì ắt được “lợi” ích mà thôi. Đừng quá lo lắng, mà đánh mất sự tự tin !
Ô hay ! Thánh nhân trên cao mà tỏ rõ tới chỗ thầm lặng nhất của tâm hồn người Quân tử trong bước đường mưu cầu Danh Lợi, mà đưa ra lời dạy trọng yếu, hòng giúp người Quân tử vượt qua được chướng nạn, đạp bằng được khó khăn , lợi dụng được thử thách mà thành tựu được như nguyện. Quả đúng như lời Y Xuyên Tiên sinh - Trình Di nói:“Thánh nhân lo cho đời sau như thế, có thể nói là tột bực !”
Sửa bởi HieuHcmVN: 01/06/2025 - 17:53
VNhieu
01/06/2025
Thiên Trạch Lí
履 虎 尾 , 不 咥 人 , 亨 .
Lí hổ vĩ, bất điệt nhân, hanh.
Kinh nói: Lí hổ vĩ.
“Lí” nghĩa là giẫm, xéo, đạp lên. “Hổ vĩ” là cái đuôi con hổ.
Hổ là loài sống đơn độc, chỉ kết đôi khi tới mùa sinh sản. Sư tử là vua của thảo nguyên Châu Phi và Ấn Độ; thì hổ là vua của rừng già Châu Á. Đuôi hổ, theo truyền thống, là vật biểu tượng cho sức mạnh. Trong tự nhiên, đuôi hổ cũng có rất nhiều tác dụng và có vai trò quan trọng tới đời sống của hổ như: giữ thăng bằng, hỗ trợ săn mồi, điều chỉnh nhiệt độ cơ thế hay giao tiếp với đồng loại v..v
Môt thứ vừa biểu tượng cho sức mạnh, vừa có vai trò quan trọng, đồng thời thuộc về “Vua” của rừng già, thế thì kẻ nào mà mạo phạm tới cái đuôi ấy tới mức “Lí hổ vĩ” – giẫm lên đuôi hổ, ắt hẳn chỉ có là “Cậu ông Trời” – tức con Cóc. Người xưa nói: “Thiềm độc công hổ báo” – độc của loài cóc còn hơn sức mạnh của hổ báo. “Thiềm khuyết tất hữu vũ” – cóc mà nghiến răng thì Trời ắt đổ mưa. Loài cóc tưởng như bé nhỏ mà “oai đức” và “sức mạnh” của nó lại “lớn” như thế ấy, thì có chẳng may giẫm xéo lên đuôi chúa sơn lâm thì chúa sơn lâm cũng chỉ gầm gừ mà cho qua chuyện thôi. Với cả, cóc cũng nhẹ ký, có giẫm lên thì cũng chẳng xi nhê gì, nên cũng dễ bỏ qua.
Nhưng Dịch làm ra vốn là để giúp người có Đức, thế thì Thánh nhân mượn vật, mượn tượng để hướng dẫn cho người, chứ thực ra không phải là để nói về tượng vật ấy. Trong Triều đình, trang phục (áo “bổ tử”) quan võ cấp cao thường được thêu hình hổ, màu sắc khác nhau thì phẩm vị khác nhau (như tứ phẩm màu xanh, nhị phẩm màu vàng v..v), vật đại biểu cho quyền chỉ huy thì gọi là “hổ phù”, tướng quân thiện chiến thì gọi là “hổ tướng” v..v. Giẫm lên đuôi hổ nghĩa là mạo phạm tới quyền lực của Triều đình. Nhưng Hổ lại là “Vua” rừng già, nên ở đây sự mạo phạm có thể liên hệ tới người đứng đầu trong Triều đình, tức là Hoàng Đế đương triều. (Vua còn tự xưng là Cô gia - người cô đơn, giống như Hổ sống đơn độc vậy).
Kinh nói: Bất điệt nhân, hanh.
“Điệt” là gặm, là cắn. “Điệt nhân” là cắn người. “Bất điệt nhân” có nghĩa là không cắn người.
“Cắn” là phản ứng lại mạnh mẽ khi bị “mạo phạm”, “Bất điệt” – không cắn, tức là không phản ứng lại một cách mạnh mẽ như thường lệ, tại sao lại như thế ? Vì người “mạo phạm” có chánh nghĩa, có chánh lý, có mục đích vì lợi ích chung, vì đại cuộc mà lên tiếng, mà hành xử như thế, cho nên dù mạo phạm tới uy quyền mà vẫn được “hanh” thông.
La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp từng vì thương dân và nghĩ tới đại cục lâu dài của đất nước, đã “mạo phạm” Vua Quang Trung, dâng lời khuyên can Vua thay vì vượt biên cõi mà đánh dẹp quân Thanh thì nên hòa hoãn, để dưỡng dân và củng cố chính trị kinh tế trong nước. Vua ban đầu nổi giận, xong sau đó không trị tội, mà còn khen ngợi rằng: “Khanh dĩ trực ngôn nghịch nhĩ, Trẫm tuy nộ nhi bất trách” – Ngươi dám nói lời thẳng thắn chói tai, Trẫm tuy rất giận nhưng sẽ không trách phạt.
Ấy chẳng phải là “Lí hổ vĩ, bất điệt nhân, hanh” hay sao !
Sửa bởi HieuHcmVN: 01/06/2025 - 23:01
VNhieu
02/06/2025
Vì trong lòng có nhiều điều oán than.
Mở lời một cách xổ sàng,
Vẻ như trách móc, lại thêm "gầm gừ".
Bởi do chưa tỏ, chẳng ưa.
Ghét thời chẳng phải, thương thời càng không.
Quay vào tự hỏi đáy lòng,
Là vì duyễn cũ chưa xong với mình.
Hỏi ngang, học dọc, làm kinh;
Thầy cao, thầy thấp tranh hùng bấy lâu.
Gom vào mốt mớ âu sầu,
Ngỡ là "bí kíp", "mật tâm" gia truyền.
Xài vô ứng phát linh liền.
Cớ gì có kẻ đâm xiên chê hoài.
Cáu gan, bấm bụng lời gài,
Muốn cho hắn lộ cái sai ra ngoài.
Rồi mình phân tỏ đúng sai,
Rồi mình bêu mặt hắn ngoài bờ mương.
Rồi mình hả dạ ếch ương,
Rồi mình sẽ tiếp, làm phường buôn gian.
Ngờ đâu gió thổi mây tan,
Ngờ đâu ánh sáng chiếu ngang giữa Trời.
Chân lý nó tỏa khắp nơi,
Hiện thực nó cứ phơi phơi ra ngoài.
Ai qua, ai lại thấy hoài;
Làm sao ta dẹp cho vơi căm hờn.
Ô hay, sao lại trách hờn;
Nếu mình chánh lý, lo gì người ta.
Ngẩng cao, chân bước, miệng ca;
Lời mà hiện thực, soi ra tỏ liền.
Dù cho hỏi đáp liên thiên,
Hễ mà như thật, soi liền được ngay.
Đời thật, là thước đo Thầy;
Là bùa chiếu phá, lòng ngay dạ trùng.
Hỡi ôi, ai dại mông lung;
Phải mau tự chỉnh, cuối cùng thoát ra.
Nói nữa cũng thế, chua ngoa;
"Khuê" là tranh cãi, "Cách" là đổi thay.
Giờ đấy xét cái tỏ ngay,
Người người Giác Ngộ, thầy thầy giậm chân.
Sửa bởi HieuHcmVN: 02/06/2025 - 01:41
VNhieu
15/06/2025
Hỏa Trạch Khuê
睽: 小事吉.
Khuê: Tiểu sự cát.
"Khuê" nghĩa là mâu thuẫn, là ngang trái, là trừng mắt nhìn. "Khuê" và "Tụng" có mối liên hệ với nhau.
"Tụng" - tranh cãi, là biểu hiện bên ngoài của "Khuê" - mâu thuẫn, do có bất đồng về lí tưởng, mục đích, lợi ích, quan điểm v..v mà chưa thể điều hòa, tạo nên sự mâu thuẫn. "Khuê" có tính chất ngấm ngầm, âm thầm, diễn biến riêng tư trong tâm trí, thi thoảng biểu lộ ra, nhưng có phần tế nhị không rõ rệt, không mạnh mẽ công khai như "Tụng".
Mối liên hệ giữa chúng gần giống mối liên hệ giữa Giận dữ và Khó chịu. Sự khó chịu thì vẫn trong tầm kiểm soát, tuy là không thoải mái trong lòng và biểu cảm đôi lúc hơi khó coi. Còn Giận dữ là biểu hiện của sư khó chịu vượt giới hạn chế ngự, nên bộc phát ra ngoài.
Quay lại với Tụng và Khuê, khi mâu thuẫn ngấm ngầm vượt quá khả năng kiểm soát, kìm nén, sư tránh né làm lơ trở nên vô dụng, thì Tranh cãi nổ ra, ầm ĩ và công khai. Khi Tranh cãi dâng lên đỉnh điểm, chỉ có hai con đường để đi: Hoặc là Cải cách thay đổi để điều hòa xoa dịu mâu thuẫn hoăc là Chiến tranh sẽ nổ ra để chấm dứt sự mâu thuẫn ấy bằng bạo lực.
Trong lịch sử thành văn của nhân loại, trên hầu hết lĩnh vực đều diễn ra quá trình: Mâu thuẫn - Tranh cãi - Cải cách hay Chiến tranh; nó chỉ khác nhau về mức độ, cường độ và hình thức. Lĩnh vưc xảy ra mâu thuẫn có thể là tôn giáo, chính tri, kinh tế, văn hóa hay đời sống xã hội, trong từng mối quan hệ xã hội v..v
Kinh nói: Khuê, tiểu sự cát.
"Tiểu" nghĩa là nhỏ bé, là vụn vặt. "Sự" là sự việc, là vấn đề. "Cát" là vui vẻ.
Mâu thuẫn là động lưc tạo nên sự phát triển, sự đi lên. Nếu sự mâu thuẫn dừng lại ở mức độ tranh cãi, rồi đi tới thống nhất, đi đến sự thay đổi để làm cho mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, thì sự mâu thuẫn ấy gọi là "tiểu sự", vì nó đi đến sự đổi mới, mâu thuẫn đã được giải quyết đưa đến sự đoàn kết nhất trí, nên Thánh nhân mới nói là "Cát" đó vậy.
Dưới đây là một vài ví dụ về sự Mâu thuẫn đưa đến Tranh cãi rồi Cải cách:
1. "Chúa không chơi xúc xắc" - Đây là câu nói nổi tiếng của Einstein khi thể hiện quan điểm về thuyết cơ học lượng tử, tuy nhiên thì sau này thực tiễn đã chứng mình rằng Einstein không đúng:
Albert Einstein phản đối thuyết cơ học lượng tử do Bohr và Heisenberg đề xuất, cho rằng nó phi logic. Tranh luận này diễn ra trong hàng chục năm đã giúp thúc đẩy hàng loạt thí nghiệm kiểm chứng, dẫn đến sự ra đời của lý thuyết rối lượng tử (quantum entanglement). Sự phản biện của Einstein giúp khoa học hiểu sâu hơn về Thế giới vi mô.
2. Charles Darwin bị chỉ trích dữ dội khi công bố "Nguồn gốc các loài" (1859), vì mâu thuẫn với quan niệm sáng tạo luận của Giáo hội. Tuy nhiên, thuyết tiến hóa đã trở thành nền tảng của sinh học hiện đại, thúc đẩy sự nghiên cứu của ngành di truyền học. (DNA v..v)
3. Phong Trào Đấu Tranh Dân Quyền (Mỹ, 1950s–1960s)
Người da màu đòi quyền bình đẳng với chính quyền phân biệt chủng tộc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ( khi thông qua đạo luật Jim Crow Laws), dẫn tới Đạo luật Dân quyền (1964) và Đạo luật Quyền bầu cử (1965) được thông qua, xóa bỏ phân biệt chủng tộc hợp pháp.
4. Kinh tế chia sẻ (Sharing Economy) cải cách Ngành vận tải
Uber/Grab ra đời phá vỡ mô hình taxi truyền thống , các hãng taxi truyền thống đệ đơn kiện, tài xế Uber/Grab không được coi là lao động chính thức. Dẫn đến ngành giao thông công nghệ phát triển (như giao hành nhanh, đặt xe qua App v..v) chính phủ EU phải điều chỉnh luật, công nhận "lao động nền tảng".
5. "Nho Giáo và Dân Chủ" Thời Duy Tân (Nhật Bản, Thế kỷ 19)
Xã hội Nhật Bản theo Nho giáo, đề cao tầng lớp samurai và tôn ti trật tự. Sau khi Mỹ ép mở cửa (1853), Nhật đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Minh Trị Duy Tân (1868) ra lệnh bãi bỏ lãnh địa phong kiến, giải tán Samurai thay bằng quân đội hiện đại, xây dựng chính quyền trung ương, đồng thời học hỏi phương Tây về khoa học, quân sự, giáo dục. Đưa Nhật Bản trở thành cường quốc châu Á, thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa.
Trạch Hỏa Cách
革: 已日乃孚, 元亨 利貞.悔亡.
Cách: Dĩ nhật nãi phu, nguyên hanh lợi trinh. Hối vong.
“Cách” có nghĩa là thay đổi, là trừ bỏ đi. Bỏ đi cái “mâu thuẫn, tranh cãi”, đổi lấy cái “thống nhất, hòa hợp”.
Kinh nói: Cách, dĩ nhật nãi phu.
“Cách” là thay đổi, thay đổi cái gì ? Thay đổi bản thân, thay đổi hoàn cảnh hay là thay đổi người khác ?
Con người thông thường bị chi phối bởi hoàn cảnh, khi hoàn cảnh thay đổi, con người sẽ có xu hướng thay đổi theo. Hoàn cảnh thì nó lại được tạo thành bởi nhiều yếu tố khác nhau, nó là sự hòa hiệp của Trời, Đất, vạn vật và con người. Trời Đất thì nằm ngoài sự làm chủ của phàm nhân, người khác và vạn vật mặc dù chúng ta có thể tương tác, có thể tác động gián tiếp hay trực tiếp, có thể ảnh hưởng tới một mức độ nhất định, xong những đối tượng ấy vẫn có lối đi riêng của họ, chỉ có bản thân mình là nằm trong tầm kiểm soát của chính mình mà thôi.
Luận Ngữ nói: “Bất năng chính kỳ thân, như chính nhân hà ?” – mình chưa sửa được mình, thì làm sao mà sửa người cho được ? Lão Tử nói: “Tự chi giả minh, tự thắng giả cường” – hiểu được mình thì gọi là người sáng suốt, nhưng chiến thắng được bản thân mình mới gọi là người mạnh mẽ. Vậy thì ai cũng có thói hư tật xấu, cho nên ai cũng cần phải học tập rèn luyện, rèn luyện thành rồi thì mới trở thành bậc Quân tử, bậc Đại nhân, bậc Hiền, bậc Thánh. Nay muốn thay đổi hoàn cảnh, thay đổi người khác thì cần phải thay đổi chính mình trước tiên, thay đổi chính mình tức là nhận ra thói hư tật xấu của chính mình, rồi cải sửa nó đi. Ấy tức là nghĩa “Cách” vậy.
“Dĩ nhật” là trải qua mỗi ngày, “Nãi” nghĩa là rồi thì, thì mới. “Phu” nghĩa là làm cho người tin phục; là tín nhiệm; cũng có nghĩa là sự thành tín;
Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Kiên trì sửa đổi mình mỗi ngày, bằng sự thành tín chân thật, thì mới có thể làm người tin phục, mới được người tín nhiệm. ( mới tự tin vào bản thân mình ).
Tại sao lại nói việc “sửa đổi bản thân mình” lại khiến mình tự tin vào chính mình ? Bởi thói hư tật xấu đã bám sâu chắc rễ nơi mình, nhờ có ý chí kiên định, có sự quyết tâm gang thép và sự kiên trì nhẫn nại, như mài sắt thành kim, mà trải qua thời gian mới thay đổi được; mới vượt thắng được sự trì trệ, sự kìm kẹp của thói hư tật xấu. Vượt thắng được rồi, sửa đổi được rồi, mình thấy mình tốt đẹp hơn trước đây, như chân tay dính bùn nay được rửa sạch đã thơm tho trở lại, bởi thế nên trong lòng sinh tâm vui thích, mới sinh sự tự tin vào bản thân vì đã làm được việc khó làm, vì đã trở thành “người mạnh mẽ” như lời của Lão Tử nói ở trên.
Không chỉ riêng Khổng Tử, Lão Tử, kể cả Phật Thích Ca trong Kinh Pháp Cú cũng nói: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”, thế thì phải biết rằng, việc sửa mình chính là gốc rễ của sự cải “Cách” mà Thánh hiền xưa nay đều răn nhắc.
Kinh nói: Nguyên, hanh, lợi, trinh. Hối vong.
“Nguyên, hanh, lợi, trinh” là đức hạnh của Trời, Trời ở trên cao tức chỉ sự hướng thượng, sự vươn lên. Quân tử rèn luyện bản thân, sửa đổi tính cách mỗi ngày là nhằm thành tựu đức hạnh của Trời, đó là chí hướng rộng lớn, cao cả, nhưng cũng đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều, bởi đây là việc khó làm bậc nhất.
Đã lấy việc hướng thượng, thành tựu đức hạnh cao dày của Trời Đất làm trí nguyện, làm mục tiêu, thì ắt trong mọi việc đều phải cẩn trọng, đều phải tỉnh xét, mỗi ngày đều phải nhìn lại mình xem ngày nay đã làm được những gì, đã sửa được những gì và còn cách đức hạnh ấy bao xa nữa ? Luận ngữ ghi lời Khổng Tử dạy Tăng Tử rằng: “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân” – nghĩa là mỗi ngày ta tự xem xét lại bản thân mình ba việc. Bậc Hiền xưa kia rèn luyện mỗi ngày như thế, há lại chẳng hợp ý Thánh nhân lắm hay sao !
Sửa mình mỗi ngày như thế thì tất nhiên lỗi lầm càng ngày sẽ càng ít đi, sai lầm càng ngày càng bớt đi và tới lúc "Hối vong" - chẳng phải ăn năn, chẳng còn điều chi phải hối hận nữa vậy.
Sửa bởi HieuHcmVN: 15/06/2025 - 21:04
VNhieu
22/06/2025
Đâu thể gấp rút chóng thành ngay mai.
Từ từ, sửa chữa đúng sai.
Dần dần chút một, “mài” hoài tất xong.
Một khi đã gắng bỏ công,
Thời phải khéo léo, chớ lòng vội nhanh.
Bởi việc vốn chẳng chóng thành,
Nếu mình gấp rút, hỏng nhanh được gì ?
Cho nên “Tiệm”, từng bước đi;
Đừng mà, “Quy muội” – bắt liền về ngay.
Phong Sơn Tiệm
漸: 女歸, 吉, 利貞.
Tiệm: Nữ quy, cát, lợi trinh.
Kinh nói: Tiệm, nữ quy.
“Nữ” nghĩa là người nữ, phái nữ, là con gái, là đàn bà. “Quy” nghĩa là theo về, là con gái đi lấy chồng.
Theo truyền thống văn hóa xưa, đặc biệt là Nho gia, thiếu nữ tới độ tuổi lấy chồng, muốn xuất giá phải thực hiện đủ 6 bước, gọi là “Lục Lễ”, thực hiện đủ sáu bước này thì tức là "nữ quy":
1. Nạp thái (纳采) – Dạm ngõ (hay Chạm ngõ)
Người làm mai mối đại diện nhà trai, mang theo lễ vật, đến gặp đại diện nhà gái để bày tỏ ý định. Nhà gái nhận lễ tức là đồng ý cho hai bên tiến tới.
2. Vấn danh (问名) – Hỏi tên, tuổi
Nhà trai xin hỏi rõ tên tuổi và ngày giờ tháng năm sinh của người con gái để xem tuổi Hợp, Xung, theo phong tục truyền thống.
3. Nạp cát (纳吉) – Báo tin lành
Nhà trai sau khi xem tuổi, nếu thấy phù hợp thì thông báo cho nhà gái kèm theo lễ vật để báo tin mừng, đồng thời lên kế hoạch sửa soạn lễ vật chọn ngày đính hôn.
4. Nạp trưng (纳征) – Đính hôn
Lễ vật mang đến phải thể hiện được sự nghiêm túc (“Trưng” – chứng tỏ, làm chứng), cam kết chắc chắn sẽ kết hôn trong tương lai.
5. Thỉnh kỳ (请期) – Xin ngày cưới
Nhà trai chọn ngày lành tháng tốt , sau đó ấn định với nhà gái để tiến hành lễ thành hôn.
6. Thân nghênh (亲迎) – Rước dâu
Chú rể đi ngựa, kiệu hoa đến nhà gái. Cô dâu từ biệt cha mẹ, đội khăn che mặt, làm lễ bái đường trước bàn thờ tổ tiên, sau đó lên kiệu hoa về nhà chồng.
Lễ vật có thể xa hoa hay đơn giản, tùy theo hoàn cảnh gia đình hai bên, nhưng tuyệt đối phải giữ nghiêm “Lục lễ” không được bỏ qua bước nào cả. Chính vì vậy, Thánh nhân lấy việc trọng đại của đời người con gái – vì chỉ có một lần, nam nhân xưa kia có thể có năm thê bảy thiếp, tức nhiều lần hơn nữ - thể hiện cho sự nghiêm túc trong việc sửa mình của người Quân tử, lấy các bước không thể bỏ qua của việc lấy chồng, làm chỗ minh họa cho sự tiến lên từng bước không được nóng vội của việc sửa mình. Thánh nhân lấy việc Đời để tỏ việc Đạo, quả là ân cần chu đáo, như “Cha” dặn “Con”, chẳng khác chi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni dặn dò đệ tử về phép “Tiệm thứ tu hành”: Giới – Định – Tuệ vậy.
Kinh nói: Cát, lợi trinh.
Tuần tự từng bước chẳng nóng vội bỏ qua bước nào, tiến bước nào chắc chắn thành tựu bước ấy, như người leo núi cách xa mặt đất lại không dây an toàn chỉ có tay chân bản thân làm chỗ dựa vào, sự sửa mình cẩn thận vững vàng như thế thì được sự “Cát” Hỷ, dẹp bỏ những suy tưởng hão huyền xa rời thực tế làm rối loạn tâm trí, giữ lòng mình trong sạch “Trinh”, như người thiếu nữ về nhà chồng mà còn vẹn nguyên tiết hạnh thì ắt được sự “lợi” ích rõ ràng.
Lôi Trạch Quy Muội
歸 妹: 征 凶 . 無 攸 利 .
Quy muội: Chinh hung. Vô du lợi.
Chữ “Quy” ở đây với ở trên là một, đều chỉ việc người nữ đi lấy chồng. Tuy cùng là một sự việc lấy chồng, nhưng tâm trạng tình trạng của hai người nữ lại khác nhau hoàn toàn, nếu không muốn nói là trái ngược.
Kinh nói: Quy muội.
“Muội” nghĩa là em gái nhỏ, nằm trong mối liên hệ “huynh, đệ, tỷ, muội” (anh trai, em trai, chị gái, em gái) của một gia đình, khi gọi tên “muội” thì ngầm hiểu rằng người gọi là “huynh” hoặc là “tỷ”, tức là ngữ cảnh ít nhất phải có hai người thân nhau trở lên. “Nữ” là chỉ người con gái đã đủ tuổi kết hôn, còn “Muội” là chỉ người con gái còn ít tuổi nên không được phép thành hôn, vì tâm sinh lý đều chưa đảm bảo để thực hiện việc đó mà không để lại di chứng hay hậu quả xấu về sau.
Nay chưa tới thời, tới tuổi mà lại phải đi lấy chồng, nhà nhiều người mà lại bắt "em gái" phải đi xa, thế thì rõ là một bên “được” còn một bên “bị”, cho nên xoay quanh chữ “Quy” mà “nữ” thì đứng trước, “muội” thì đứng sau. Đứng trước thì là người được hỏi ý kiến, được quyền quyết định; đứng sau thì là người không được quyền quyết định, chỉ có thể chấp nhận mà làm theo. Một bên thì chủ động, một bên thì bị động, một bên thì vui vẻ hạnh phúc, một bên thì âu sầu lo lắng, thậm chí còn có phần “sợ hãi”, bởi sắp đi tới một nơi hoàn toàn xa lạ, sống với người chẳng chút tình thân, huống hồ còn phải làm những việc gì, bản thân cũng chưa đủ “trải nghiệm” và “hiểu biết” để mà hình dung ra nổi, không lo lắng, không sợ hãi thì đúng là điều vô lý.
Nay Thánh nhân lấy hai hình tượng người nữ lấy chồng để tả cho cùng một việc quan trọng là sửa mình của người Quân tử. Nếu người Quân tử ý thức rõ ràng rằng việc sửa chữa lỗi lầm thiếu khuyết của mình là cần thiết, tức là ở tâm thế chủ động thực hiện, thì sự thực hiện ấy sẽ có thứ tự có lớp lang, không nóng vội và bình tĩnh tiến lên từng bước chắc chắn cụ thể, được bước nào thành tựu bước ấy thì ắt gặt hái được những điều tốt đẹp mà cũng có thêm niềm vui. Bằng như chẳng biết tới việc sửa mình, chỉ đợi tới khi hoàn cảnh bức bách, không thể phản kháng chống cự đành thuận theo, tâm thế ở tình trạng bị động như vậy, bản thân ở tình trạng ngơ ngác như vậy, thì chẳng khác nào em gái mới lớn mà phải đi lấy chồng, trước không biết sẽ gặp chuyện gì, sau không rõ sẽ đi về đâu, bơ vơ mông lung, chân bước hú họa theo dòng đời xô đẩy, theo nghiệp quả luân hồi, thế thì ắt phải gặp những điều trái ý nghịch lòng, những cảnh tượng âu sầu ưu uất, thành tựu cũng không mà hạnh phúc thì lại càng xa vời. Phải nên nhận thức mà tự cảnh tỉnh, ấy là nghĩa thực sự của “Quy muội”.
Kinh nói: Chinh hung, vô du lợi.
“Chinh” nghĩa là đi xa. “Du” nghĩa là nơi, chốn. “Hung” nghĩa là xấu, không tốt lành, là sợ hãi. “Lợi” nghĩa là tốt đẹp, có ích. “Vô” nghĩa là không có.
Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Đi xa xấu lắm còn lo, chẳng nơi tốt đẹp để mà về đâu.
Tuổi còn nhỏ - “muội” - như người còn nhiều lỗi lầm, còn nhiều lỗi lầm mà lại đảm đương trách nhiệm khó khăn, công việc trọng đại - "Quy", thì nhất định phải gặp trắc trở, tất nhiên phải gặp điều không tốt lành “hung”, chẳng kể là việc đó đưa mình tới đâu, có phải đúng nơi như mình kỳ vọng hay không, thì đều là không có “lợi” ích. Tình cảnh này nó ứng với câu sau đây của người xưa: “Tiểu nhân vị tu thân, tác đại sự tất bại” – Kẻ chẳng có trí sửa mình hướng tới đức hạnh của Trời Đất, thì đảm nhiệm việc lớn làm sao tránh khỏi sự thất bại.
Sửa bởi HieuHcmVN: 22/06/2025 - 12:07
VNhieu
23/06/2025
Mọi người mau chóng, tin Trời tin Tâm
Sửa mình gấp chớ mông lung,
Thánh Tiên đồng hiện giữa trần khổ đau.
Ngọc Hoàng ban chiếu rộng sâu,
Căn Tu Đồng Bói, mau mau tấu trình.
Cầu cho Thiên hạ thái bình,
Người người nạn khỏi, Thiên binh hạ phàm !
Địa ngục mở cửa khai quang,
Gia tiên tiền Tổ xum vầy cháu con.
Khuyên nhau thiện hạnh vẹn tròn,
Phước tăng, hoạ giảm, thọ còn gặp "Cha" !
Phật sinh hoá hiện Ta Bà,
Nghìn năm Hoa Hội tiếp đà nối theo.
Thượng nguyên lập lại sớm chiều,
Chánh tin gửi tới muôn người tỏ hay !
VNhieu
23/06/2025
Hỏa Lôi Phệ Hạp
噬嗑: 亨, 利用獄.
Phệ Hạp: Hanh, lợi dụng ngục.
“Phệ” có nghĩa là cắn bằng răng, cũng có nghĩa là thôn tính, xâm chiếm ( ý chỉ rằng, thay vì sửa mình thì người Quân tử lại buông lung thân tâm, dẫn đến thói hư tật xấu nó xâm nhập, nó xâm chiếm, nó thôn tính, nó thao túng con người mình, khiến mình trở thành phiên bản xấu tệ của tâm hồn vốn cao thượng trong sạch khi mới xuất hiện nơi cuộc đời này). “Hạp” nghĩa là đóng, ngậm, khép lại; cũng có nghĩa là làm cho hợp lại với nhau. “Ngục” là nơi giam giữ.
Kinh nói: Phệ Hạp, hanh.
“Phệ” là cắn, khi cắn thì người ta thường phải há miệng, hai hàm răng trên dưới mở ra, mở ra rồi thì mới đưa vật cần cắn xé vào giữa hai hàm răng, sau đó khép lại giữ vật, dùng sức của cơ hàm mà phá hủy mối liên kết của vật được đưa vào, tách vật ra thành từng mảnh, rồi khép hai hàm răng lại với nhau – tức là “Phệ hạp”, để phần bị cắn rơi vào trong miệng, nhai nhuyễn rồi nuốt xuống dạ dày mà tiêu hóa.
Vậy vật đưa vào để cắn là vật gì thế ? Có phải trái cây thơm ngon chăng ? Hay là thức ăn bổ dưỡng ? Không phải, tất nhiên là không rồi; vì Thánh nhân chẳng lấy sự cắn để nói việc ăn, như thế thì đâu cần tới Thánh nhân, nên để việc này cho bác sỹ răng hàm mặt hoặc bác sỹ chuyên khoa tiêu hóa thì sẽ thích hợp hơn. Xuyên xuốt cả quyển Kinh Dịch, đều là sự khuyên răn về rèn luyện Đức Hạnh, Tài Trí để làm người hướng thượng, làm người hữu ích, làm “bông hoa” đẹp giữa cõi trần ô trược. Thánh nhân khéo léo đan xen, ẩn chứa trong từng hình tượng thí dụ của đời sống thường nhật, vì thế biết rằng ở đây, ý nghĩa cũng lại xoay quanh nhưng điều trọng yếu như thế mà thôi.
Vật đưa vào miệng mà Thánh nhân nói tới chính là “thói hư tật xấu”, hai hàm răng tức là Giới – Định theo nhà Phật, cũng tức là kỷ luật và quyết tâm, là khuôn phép và lòng kiên định duy trì khuôn phép đó, theo ý nghĩa phổ thông của người đời.
“Thói quen xấu tệ” có cái dễ bỏ, dễ phá hủy, dễ “tiêu hóa”; cũng có cái bền vững, khó bỏ, khó diệt trừ. Vậy thì “Phệ hạp” tức là lấy Giới – Định, lấy kỷ luật và quyết tâm hòa hiệp lại, như hai hàm rằng khép lại với nhau, làm vũ khí triệt tiêu thói hư tật xấu. Người Quân tử phải tỉnh táo để nhận ra khuyết điểm, cần dũng cảm để nói ra, phơi bày khuyết điểm ấy cho mọi người dạy bảo; cuối cùng, phải dùng hết ý chí và lòng tự tin ứng dụng Giới – Định mà thành tựu thiện pháp, xóa bỏ thói hư tật xấu thì được mọi sự tốt đẹp “hanh” thông. Ấy là thật nghĩa của “Phệ Hạp, hanh”.
Kinh nói: Lợi dụng ngục.
“Ngục” là nơi giam giữ kẻ tệ ác xấu xa, nay ví thói hư tật xấu cũng giống như kẻ tội phạm, cho nên Thánh nhân sử dụng hình ảnh ngục tù để biểu đạt cho người Quân tử biết rằng: thói xấu cần phải nhốt giam lại bằng “ngục tù” Giới luật ( nhà Nho gọi là Lễ Nghĩa ), nhốt giam nó lại thì nó không phương hại tới người khác và chính mình. Nhốt rồi thì làm sao nữa ? Phải quản thúc nó, phải dạy dỗ nó, phải uốn nắn nó, cho tới khi nó từ “ác” thành “thiện” rồi mới được trả nó về với xã hội bên ngoài, khi đó sẽ trở thành người Đạo Đức mà làm lợi ích cho nhân loại.
Cho nên, nói “dụng ngục” – tức là sử dụng hình phạt, sử dụng kỷ luật, là sự tự quở trách bản thân, là sự tự răn nhắc bản thân với vô vàn hình thức đa dạng khác nhau như trách móc, khuyên nhủ, chỉ ra sự nguy hại, cho thấy hậu quả bất như ý v…v mỗi khi Thân Tâm lệch lạc sai đường, như chú bé chăn trâu dùng roi đánh vào mông trâu, mỗi khi trâu đi không đúng nơi đúng chỗ, ăn vào lúa mạ của người. Trâu đi sai đường là thói xấu cần bỏ, ăn lúa mạ là tổn hại cần tránh, đó là việc làm tiêu mòn phước đức, chú bé là Tâm người Quân tử quyết trí rèn luyện Đức Hạnh, roi là “ngục” hình , là kỷ luật, là hình phạt thể hiện sự cứng rắn mạnh mẽ mỗi khi bản thân làm sai trí hướng đã chọn, làm sai lời dạy của Hiền Thánh đã trao truyền. Do sự sửa mình mạnh mẽ và đầy lòng quyết tâm ấy, lỗi lầm có lỡ xảy ra cũng liền được khắc phục, lâu dài cái lực của thói xấu nó yếu đi, sự chi phối thân tâm không còn mạnh mẽ như trước, lặp lại và giữ gìn lâu dài như thế thì tất nhiên mọi việc từ từ rồi sẽ được “hanh” thông như ý thôi. Ấy là từ bức tranh được trâu, tới bức tranh cưỡi trâu thong dong, là hình ảnh lột tả quá trình “Phệ Hạp, lợi dụng ngục” mà bậc Thánh nhân khéo léo sử dụng hình tượng mà răn dạy người Quân tử đó vậy.
VNhieu
24/06/2025
Thủy Phong Tỉnh
井: 改邑不改井, 无喪无得, 往來井井.
Tỉnh: Cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh.
汔至, 亦未繘井, 羸其瓶, 凶.
Ngật chí, diệc vị quất tỉnh, luy kì bình, hung.
“Tỉnh” là cái giếng, cũng nghĩa là đào sâu xuống lấy mạch nước để dùng.
Trên thì “lo ăn”, dưới thì “lo uống”, kể ra Thánh nhân cũng “bận rộn” với việc thường nhật, không thua gì phàm nhân tại thế gian cả. Chỉ có khác người thường ở chỗ, người thường vì mình mà lo lắng, Thánh nhân vì người mà “lo toan", cho nên phải nói ra, kẻo người vì “vô minh” che mờ nên chẳng rõ, rồi lại phạm sai lầm, khiến cho một đời trôi qua, sinh ra thì khóc oe oe, đi rồi nước ngắn nước dài chảy ra, chẳng hiểu sao lại đẻ ra, sinh rồi lại tử hóa rồi hoàn không. Cho nên, nỗi lo của Thánh nhân cũng giống như lòng thương rộng lớn của Trời Đất, vì thế khi làm người phải biết ơn ấy để gắng sức luyện rèn thân tâm, theo lời dạy ân cần mà sống một kiếp người khỏi uổng phí vô ích.
Kinh nói: Cải ấp bất cải tỉnh.
“Cải” là sửa, là chữa. “Ấp” là kinh đô, là đất được phong, là một vùng đất. “Cải ấp bất cải tỉnh” nghĩa là có thể đổi kinh đô, có thể đổi trú xứ mà chẳng thể đổi giếng nước. Vì sao vậy ? vì giếng đào lấy nước ngầm từ lòng đất, nước ngầm chảy theo mạch ở dưới sâu, đâu thể thay đổi, nên giếng cũng phải thuận theo mà giữ nguyên hiện trạng đó thôi. Thân thể như cái ấp có thể thay đổi trẻ hóa già, yếu hóa mạnh, chứ tâm hồn thì nó vẫn cứ trơ trơ ở đó, trường tồn với trăng sao muôn thủa.
“Tâm hồn” là giếng nước, ý niệm trong sáng thiện lành là dòng nước mát không bị vẩn đục ô nhiễm. ( Có những cái “giếng” tâm hôn, mà "nước" không uống được, không dùng được, bởi dòng nước chảy trong tâm hồn ấy chứa đầy “độc tố” như : oán hờn, thù ghét, giận dữ, ganh tị, mưu hại, gian dối v..v ). “Thân thể” là vùng đất quan trọng mà tâm hồn “giếng” đặt để, nương vào. “Cải ấp” tức là sửa đổi thân miệng ý sao cho nó thiện lành, tốt đẹp như lời dạy của chư vị Hiền Thánh. Thân thì sửa, tại sao tâm lại không sửa ? Bởi Tâm là cái giếng, giếng có thể đục, có thể trong, sự trong đục là ý niệm "dòng nước" lăng xăng trôi chảy không ngừng trong tâm hồn “giếng”, chứ tâm “giếng” vốn chẳng động, chẳng thay đổi, chẳng thiện ác, nếu tâm “giếng” lúc khởi ý ác thì chuyển thành tâm ác thế làm sao cái thiện nó sinh ra được nữa ? (VD: có những kẻ sát nhân máu lạnh, nhưng lại rất hiếu thuận cha mẹ yêu thương con cái, thế thì cái hiếu thuận là thiện, sự mất nhân tính là ác, vậy lúc hiếu thuận cái ác nó ẩn khuất chỗ nào ? khi nó xuất hiện thì cái hiếu thuận nó lại lẩn trốn đi đâu ? Vì thế biết rằng, ý niệm có thay đổi thiện ác, chứ tâm hồn thì luôn như thế, chứa đựng chứ không ô nhiễm.) Do vốn thường trụ nên không cần “cải” sửa, mà thực tế thì muốn thay cũng thay không nổi nữa, nó vô hình vô tướng, lấy gì mà thay nó được đây ? Cho nên nói “bất cải”, là ý chỉ cần giữ vững sự thiện tâm được rồi, không cần thay đổi theo sự thay đổi của thân thể. Vì thân thể có sinh có diệt, ý niệm theo cảnh vật xoay chuyển có mừng, giận, buồn, vui; nhưng tâm hồn thì sinh ra đã thế, chết đi vẫn vậy, cho nên “bất cải” cũng là nhắc rằng chỉ cần giữ nguyên như ban sơ là được, như lúc mới sinh vậy, là tốt đẹp lắm rồi.
Lão Tử nói: “Chuyên khí trí nhu, năng anh như hồ ?” – Tập trung chí khí tới mức mềm mại, có thể như là đứa trẻ thơ chăng ?, tức là lấy sự thuần khiết như trẻ thơ làm con đường trở về với Đại Đạo. Mạnh Tử nói: “Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm dã” – Bậc đại nhân, là người không đánh mất tấm lòng thơ trẻ. Cả hai vị tiền nhân đều nhấn mạnh sự “trong sáng” như trẻ thơ, là yếu tố quan trọng để thành tựu Đạo Đức, so với nghĩa “Trinh” mà Kinh Dịch để cập cũng có những nét tương đồng nhất đinh, gọi là tương đồng bởi vì đức Trinh trong Dịch nó “trưởng thành” nên có trong sự trong sáng, trong sạch, tinh khiết, một bầu trời Trí Huệ vô cùng rộng lớn, cho nên vừa giúp đời giúp người lại thành tựu luôn cả cho mình nữa vậy. Còn “trẻ thơ” thì chỉ có thể trong sáng, mà thiếu cái dụng “trí Đức”, vì thế chỉ nói là tương đồng, chứ chẳng nói là giống nhau. Như trong 10 bức tranh Thiền, thì tâm “trẻ thơ” có thể tới được “Quên trâu còn người” hay “Người trâu đều quên”. Còn ở đức Trinh của Trời Đất có thể tới chỗ “Trở về nguồn cội” hay “Thỏng tay vào chợ.” Ấy là chỗ khác biệt sâu sắc, ở đây chỉ nói lược qua mà không bàn sâu nữa, sẽ dành cho chủ đề ấy vào một dịp khác thích hợp hơn.
Kinh nói: Vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh
“Táng” là đánh mất, là rơi mất. “Đắc” là đạt được, có được, gặp phải. “Vô” là chẳng phải; là đừng, chớ, không nên; cũng có nghĩa là dù cho. “Vãng” là đi. “Lai” là đến. “Tỉnh tỉnh” là nước lên không ngưng; cũng có nghĩa là sáng suốt, là tỉnh táo – tức có ý thức và hiểu rõ mọi chuyện đang diễn ra. ( Đây là cách nói khác của từ “Chánh niệm” hay để tâm, đặt tâm – nó ngược nghĩa với “vô tâm” hay thất niệm).
Toàn câu Kinh trên có hai tầng nghĩa, một là: Chẳng vơi chẳng đầy, thay nhau mà múc. Hai là : Chẳng phải lo đánh mất, chẳng phải cố đạt được, tới lui đều sáng suốt.
Người Quân tử trên bước đường sửa chữa lỗi lầm, hoàn thiện bản thân mình; tất nhiên là sẽ có lúc hăng hái tiến tới, lại có lúc lui sụt thả trôi - ấy là bản tính của phàm nhân. Cho nên hết kiếp này sinh rồi kiếp khác tử, sửa mình luôn luôn như đun nước cho sôi, nhưng cứ nước gần sôi lại rút củi dập lửa, thành ra trải qua bao thời gian mà vẫn dậm chân tại chỗ. Chính vì hiểu rõ tình trạng ấy, Thánh nhân đặc biệt khuyên răn: trong lúc sửa mình, thay đổi thân tâm cho nó hướng thiện hướng thượng, giả như có bị lui sụt, lúc được lúc không, lúc thì như Bụt hiện thân, khi thì lại như La Sát giáng thế, thì cũng không sao, chớ lo, đừng có bận tâm mà suy nghĩ nặng nề quá, biết sai sửa sai, chưa thành thì làm lại, sự sửa mình vốn dĩ không phải là cuộc đua ai nhanh thì về đích sớm, ai sớm thì được quà to, mà ở đây là làm cho mình, để cho mình tốt lên mỗi ngày mỗi kiếp, vì thế không có được hay mất gì cả, chỉ là không ngừng đi lên, không ngừng tiến bộ, luôn giữ lòng trong sáng và thành thật, nhìn nhận rõ ràng thân tâm mình trong mọi lúc mọi nơi, khi tới khi lui miễn là rõ ràng sáng suốt, biết mình như nào và cần phải làm gì tiếp theo là được. Có đi không ngừng thì có ngày tới đích. Đừng có nản lòng mà tự ti bỏ cuộc !
Luận Ngữ, ghi lại lời Khổng Phu Tử rằng: ”Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” – tức là biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết, đó mới thật là biết vậy. Thế chỉ cần biết mình đang làm gì, chớ mà bận lòng sự được mất, chính cái biết rõ ràng bản thân tức là “ngọc quý” cần giữ gìn và nuôi dưỡng trong sự sửa mình đó vậy. Tâm niệm, suy nghĩ mình thay đổi tích cực hay tiêu cực, Thân mình thay đổi dễ chịu hay khó chịu, hết thảy đều biết rõ ràng, rồi từ từ điều chỉnh cho đúng hướng, như thế thì sự sửa mình của ta đã đạp tiếp dấu chân của hiền Thánh tiền nhân rồi đó.
Kinh nói: Ngật chí, diệc vị quất tỉnh, luy kì bình, hung.
“Ngật” là nước cạn. “Chí” là đạt đến. “Diệc” là tuy. “Vị” là chưa. “Quất” là sợi dây kéo nước từ giếng lên. “Bình” là gầu đựng nước, đồ đựng nước buộc vào sợi dây – “Quất”; “kì bình” là cái bình mà buộc vào xợi dây ấy. “Hung” là xấu, không tốt lành.
Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Nước giếng tới mức cạn rồi, lấy dây thả bình để kéo nước mà chưa được nước đã bể mất cái bình, thật đúng là xui xẻo.
Thánh nhân lấy việc thường ngày hay làm là kéo nước giếng lên sử dụng, thế mà bao ngày kéo nước chẳng sao, tự nhiên nay nước thì không lấy được còn làm bể mất cái bình, chỉ vì trước lúc lấy nước không coi giếng có còn nước hay chăng ? Thế thì có phải là làm việc mà không để tâm, làm mà chẳng biết mình đang làm gì, chỉ có làm như cái máy, lặp lại một cách vô thức, cho nên mới xảy ra cái việc "bể bình", hối tiếc như vậy hay sao ?
Việc thường ngày còn không để tâm, việc nhỏ còn chẳng để ý thì những việc lớn lao hơn, tế nhị hơn, trọng đại hơn làm sao mà không để xảy ra hư hỏng, sao mà chẳng chịu “hung” xấu cho được. Rốt cục cũng tại bởi chẳng giữ viên ngọc quý “chánh niệm” thường biết rõ ràng trong mỗi việc làm mà ra cả.
Ô hay ! Lời Thánh nhân quá đỗi chân thường, trải ngàn năm rồi vẫn vẹn nguyên giá trị, âu cũng tại lòng người lao xao, nên lãng quên mà bỏ lỡ !
Sửa bởi HieuHcmVN: 24/06/2025 - 10:00
VNhieu
24/06/2025
ThienKhoi8666, on 24/06/2025 - 15:46, said:
Do cháu đã viết ra những lời không được hay cho lắm trên diễn đàn. Nay cháu hối hận quá, mong quản trị viên giúp cháu xóa tài khoản
Xin cảm ơn!
Cha mẹ cho ăn học Đại học, tức là cũng sướng hơn nhiều người rồi mà em, muốn được chú ý thì phải làm gì có ý nghĩa, chứ spam cả Diễn Đàn chỉ vì muốn mình "không còn xuất hiện" trên đây thì là người phá hoại rồi !


