←  Kinh Dịch - Bốc Dịch - Lục Hào

Tử Vi Lý Số :: Diễn đàn học thuật của người Việt

»

KINH DỊCH có gì hay ?



3 4 5 6 7 |»|

VNhieu's Photo VNhieu 24/06/2025

Có khi nhiếc móc chẳng xong,
Có khi kìm nén để lòng tạm yên.
Có khi rộng lượng, được liền;
Cũng khiến dạ phiền nhẹ bớt âu lo.
Sửa mình khéo léo thuận cho,
"Căng", "chùng" đúng lúc, thì không mệt nhoài.
Đường dài việc khó gắng ai,
"Giá" thời trả hết, việc thời thành công.
"Tổn", "Hàm" ta bước thong dong,
Thả trâu gặm cỏ, ngồi nằm rung chân.


Sơn Trạch Tổn
損: 有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有攸往
Tổn: Hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng.
曷之用 ? 二簋可用享
Hạt chi dụng? Nhị quỹ khả dụng hưởng.


“Tổn” nghĩa là đè nén xuống, là giảm bớt; cũng có nghĩa là nhiếc móc, đay nghiến; là làm hại, là hủy hoại. “Phu” nghĩa là sự thành tín; “Hữu phu” là có sự thành tín. “Nguyên” tức ban sơ, là khởi thủy; là trạng thái trong sáng lúc mới có mặt trên cuộc đời này. “Cữu” là lỗi lầm; “Vô cữu” là không phạm lỗi lầm. “Khả” nghĩa là có thể; là thích hợp; “Trinh” là sự trong sáng, trong trắng, là tiết hạnh cao quý. “Hữu du vãng” là đi ra ngoài; “Lợi hữu du vãng” là đi xa ra ngoài thì có lợi. “Chi” nghĩa là thuộc về. “Hạt” nghĩa cớ gì, tại sao. “Hạt chi dụng ?” nghĩa là dùng nó bằng cách nào ? “Quỹ” là bình đựng lúa, nếp, kê v..v để cúng tế thời xưa ( "Quỹ" thường có hình tròn, có nắp đậy, có hai quai cầm hai bên và có chân đế. Chất liệu phổ biến là đồng, nhưng cũng có thể làm bằng gốm hoặc các vật liệu khác.) “Hưởng” là dâng lên, là tiến cống. “Khả dụng hưởng” là có thể sử dụng để dâng lên.

Toàn bộ các câu Kinh trên nghĩa là: Hãy giảm bớt hình thức, có sự thành tín với tâm trong sáng như thủa phát tâm ban đầu là đủ khiến vui lòng rồi, mà cũng không phạm lỗi lầm chi cả. Khi có việc ra ngoài, chỉ cần giữ gìn sự thuần khiết phù hợp là sẽ được lợi ích. Cách làm như thế nào ? Sử dụng hai bình đựng lúa nếp để dâng lên là được.

Thánh nhân lấy hình thức tế lễ giản dị để biểu đạt cho sự sửa mình của người Quân tử, cái quý nằm ở chỗ “thành tín”, “trong sáng” và “kính cẩn”, nghĩa là ở sự chân thật nội tâm, chớ không phải ở nơi, ở lúc, ở hình thức bên ngoài cho người khác thấy, để người khác coi. Tu sửa mà chỉ để cho người khác coi vào, nhìn vào và cố làm sao để họ không chê bai mà khen ngợi mình, thì ấy không phải là sự sửa mình chân chánh. Việc làm như thế chỉ nuôi lớn bản ngã, là sự làm màu ra vẻ, không đi vào thực chất. Nó chỉ khiến tăng thêm sự che đậy, sự giả dối của nội tâm. Không có ích chi cho sự thành tựu Đức Hạnh chân thật, nó không khiến ta đạt được sự an vui đích thực và khả năng bình thản trước sóng gió nghịch cảnh. Nó sẽ làm ta mệt mỏi hơn vì phải đóng diễn nhiều vai nơi thế gian.

Kinh nói: Tổn, Hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng.

“Tổn” là giảm bớt, là nhiếc móc, là đay nghiến, là sự hủy hoại. Tại sao sự nhiếc móc xuất hiện, sự đay nghiến xuất hiện ? Vì ta làm sai cách hay vì người không thích ta; hay vì ta tức giận chính mình vì sửa chữa hoài mà không hết thói hư tật xấu ? Tại vì thói xấu còn thì chướng nạn dĩ nhiên xuất hiện, “nhiếc móc”, “đay nghiễn” chỉ là một trong những thử thách thường tình để hỗ trợ ta bào mòn thói xấu thôi, không có gì bất ngờ cả, thậm chí cần phải cảm ơn vì nó xuất hiện, chớ nó không xuất hiện thì ta lại cứ nghĩ mình ổn rồi, khỏi cần sửa chữa gì thêm nữa, nghĩ rằng ta đã tốt đẹp rồi khi mà ta chưa như thế ấy là nuôi lớn sự nguy hại âm thầm, ắt sẽ phải chịu quả đắng về sau.

Người ta thường nói: “Cái gì cũng có cái giá của nó”, sự tu sửa bản thân dĩ nhiên cũng vậy, cái “giá” cũng không hề “rẻ”, giá đó là gì vậy ? Là nhận chịu thiệt thòi ! Tại sao sửa mình là việc trong mình lại phải nhẫn chịu thiệt thòi ? Vì sửa mình cốt làm cho lòng trong lặng hơn, nghĩa là phải bỏ cái Tôi của mình qua một bên, bỏ cái ý riêng mà thay vào đó là cái lợi chung. Cho nên, không làm việc mưu cầu cho bản thân mình thì dĩ nhiên phải thuận theo khát vọng của người, vì người mà quên mình thì cái Tôi nó mới tiêu mòn, thói hư tật xấu nó mới không có nơi trú ngụ. Bằng không thì người bảo anh làm vậy không đúng rồi, thì mình đáp không đúng gì mà không đúng, tôi làm vậy suốt có sao đâu ! Hoặc khi có người nói, anh đừng như thế nữa chẳng có lợi đâu, thì mình nói đấy là quyền tự do của tôi, không khiến anh bận tâm, tôi thích thì tôi làm, có vấn đề gì nào ? Thế đấy, cứ hễ mà người ý kiến là mình phản bác lại liền, để bảo vệ quan kiến cá nhân. Bo bo giữ lấy ý mình thì cái Tôi nó lớn dần theo năm tháng, sự cố chấp nó nở rộ như cỏ dại mùa Xuân thì làm sao mà thói hư tật xấu nó thay mầu đội dạng thành thói lành việc tốt cho được. Dẹp trừ bản ngã là gốc của tu sửa, do đó, nhẫn chịu thiệt thòi là cái giá phải trả đi. Nói là thiệt, chứ thật ra, nếu mình bỏ đi cái dở mà thu về cái tốt lành, thì rốt cục mình là người được lợi nhất chớ có ai được lợi hơn mình đâu. Nên bỏ cái dở, hạ cái Tôi, lắng nghe cái đúng và tự sửa cái sai thì ấy là tự mình thương mình, tự mình cứu mình, tự mình làm điều tốt mang lại hạnh phúc an vui lâu dài cho chính mình đó vậy. Đó là vì sao tuy “tổn” mà lại được “Cát”, “lợi”. Thánh nhân nhấn mạnh trong quá trình tự sửa mình, thì nhẫn chịu “tổn” hại thiệt thòi là thứ bậc đầu tiên.

Vậy khi bị chỉ trích, khi bị lên án, khi bị góp ý v…v tức là khi bị người tác động tới thì mình nên làm sao ? Cứ thành tín “hữu phu” là được. Chỉ cần vậy là đủ rồi, dụng đúng cái chỗ dạy của bậc Hiền Thánh: Biết sao thì nói vậy, không biết thì nói là không biết, làm được hay không làm được thì cứ nói thẳng ra, khó khăn chướng ngại ở đâu thì cứ khai cho hết…vậy đó, phơi bày gan ruột ra cho thiện hạ mổ xẻ, thì ắt là người có lòng sẽ chỉ vẽ cho ta con đường ta đi mà cũng không chấp nhất ta làm gì, vì ta là người thành thực không che dấu. Ai mà lại không yêu quý sự thành thật cơ chứ ? Chỉ có kẻ muốn chịu khổ về sau thì mới ghét bỏ sự thành thật mà thôi !

Hễ muốn thành thật thì phải giữ tâm trong sáng, cũng như sự thành thật sẽ giúp việc giữ gìn tâm trong sáng được dễ dàng hơn “khả trinh”. Không có so đo suy tính thiệt hơn, không để trong tâm có chút lòng toan tính lao xao nào, như Trời trong xanh không mây che phủ, thuần khiết “trong sáng” thì sự thành thật nó mới lột tả được đúng hiện thực, nó mới mang lại “Cát” hỷ niềm vui cho cả mình và người đón nhận. Không tin ư ? Làm thử coi ! Khẩu quyết Thánh nhân dạy là: “lòng trống rỗng và nói ra sự thật”, đơn giản vậy đó, tu sửa “dễ như ăn kẹo”, thêm bớt nhào nặn mới khó, chứ khai thật ra những gì hiện hữu thì khó gì đâu nào phải không ?

Như trước đây đã từng nói, việc đi ra ngoài cuộc đời, va chạm cuộc sống, tức là sự cọ sát mài dũa tâm tánh nó luôn có “lợi” cho việc sửa mình, hơn là chỉ ngồi yên một chỗ xa cách tất cả, vì do có sự tương tác nên nó dễ bộc lộ thói quen – thứ mà phản ứng lại ngay khi bị tác động là thứ chân thật – lấy đó làm chỗ nhìn nhận học tập, làm chỗ tu sửa. Vì thế việc ra ngoài “hữu du vãng” mang theo tâm hồn thành thật không quanh co, khả dĩ có “lợi” cho sự rèn luyện tâm tánh, để làm lộ ra đức “Trinh” thuần khiết tiềm ẩn bên trong, là điều nên làm vậy.

Kinh nói: Hạt chi dụng? Nhị quỹ khả dụng hưởng.

Ấy là Thánh nhân đặt mình vào vị trí của phàm nhân mà tự hỏi để mà tự đáp, vì nhiều khi phàm nhân cũng không biết có việc đó để mà hỏi, hoặc có biết cũng chẳng dám hỏi vì sợ bị chê trách. Nên thôi thì, Thánh nhân có lòng, gọi là “tự biên tự diễn”, tự hỏi tự đáp. Tu sửa bản thân phải chịu thiệt thòi, thế làm sao để nhẫn chịu thiệt thòi mà không đòi đè người ra đánh hay là khóc tu tu như trẻ em bị dựt mất kẹo cầm tay đây ? Đơn giản như đang giỡn: “lấy hai cái bình dâng lên”.

Trên nói ăn, nói uống, nay lại nói bình nói lọ nói lúa nói kê, quả là các Ngài cũng thật thảnh thơi, nên nơi nơi đều đảo mắt tới, chính thế mà thích đem cái thí dụ gần kề trước mắt để tỏ cái Đạo sâu sắc bên trong. Tại sao phải lấy bình đựng lúa ? Tại sao phải là hai không phải là ba bốn năm hay một ? Vì tu sửa cần cân bằng khéo léo, nên lấy hai; vì khổ não chẳng khi không mà rớt xuống, đều từ tương tác mà sinh ra nên nói hai; vì sự biết và cái biết luôn song hành không rời nên lấy hai mà không phải là con số khác. Lại nữa vì “bình” có thể chưa đựng lúa kê, là thứ quan trọng cho sự sống và “tâm hồn” lại có thể chứa đựng những ý niệm, là cội gốc sinh ra hành động thiện ác thuận nghich, thế thì lấy “bình” tượng cho “tâm”, lấy “lúa, kê” tượng cho ý niệm thiện lành ích lợi, đem cái ý tốt đẹp trao dâng cho người, đổi lấy lấy cái chỉ trích, cái khó chịu, cái thiệt thòi mà người mang đến cho mình. Nói nôm na là lấy ân báo oán theo kiểu thế tục, vì người đời hay ví von sự nghịch cảnh mình gặp là điều “oán than” vậy đó.

Người xưa nói: “ Oán oán tương báo, hà thời liễu ?” – Đem oán thù đáp trả thù oán thì bao giờ mới kết thúc ? Lại nói : “Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh, thối nhất bộ hải khoát thiên không” – nhẫn một lúc sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng Trời cao. Y cứ vào đây thì biết cái gốc của sự thành tựu đức “nhẫn” tức là chịu “tổn” mà không khởi sinh ý định báo thù, không khởi lên cái ý muốn báo oán, muốn làm đối phương phải chịu sự đau khổ tương xứng giống mình. Làm như thế thì sao gọi là “tu sửa” gì nữa, đó là trả đũa, là hơn thua mất rồi.

Hãy vui vẻ nhẫn chịu sự “tổn thương” mà hoàn cảnh bất như ý nó mang tới, nhưng sự tổn thương ấy không phải sinh rồi thì giữ nó lại để nó hành hạ thân tâm mình, mà đem sự tổn thương ấy, bỏ vô cái lọ “bình an” mà dâng lên Trời cao với đức Trinh thuần khiết - nghĩa là buông xả nó đi, hóa giải nó đi bằng tâm khoan dung, trong sáng, cao thượng vốn sẵn nơi mình. Trời Đất sẽ đón nhận hết, coi như là lễ vật quý, trao cho Trời Đất cái đó thì lòng mình nhẹ lại, ấy là nghĩa thô nghĩa tế của sự khéo dụng tâm khi phải gặp điều trái lòng khó yên. “Nhẫn khổ thì hết khổ” ấy là chân lý chắc thật, chớ nên lo lắng hoài nghi thêm làm gì !

Chẳng thể mà hễ bị oán than thì ai nấy lại kêu hai tiếng: Trời ơi ! Kêu mà không gửi gì cho nhau thì người ta gọi là kêu réo ầm ĩ, đã kêu Trời ơi rồi, thì nên tặng cho Trời cái nỗi lòng của mình nữa, thì mới được coi là trọn vẹn câu chuyện.



Sửa bởi HieuHcmVN: 24/06/2025 - 23:00
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 25/06/2025

Trạch Sơn Hàm

咸: 亨, 利貞, 取女吉.
Hàm: Hanh, lợi trinh, thủ nữ cát.


“Hàm” nghĩa là vị mặn; cũng có nghĩa là cảm ứng, cảm mến, giao cảm. “Thủ” là chọn lấy; “Nữ” là con gái. “Thủ nữ” là lấy vợ - chọn người nữ để lấy làm vợ. “Cát” là vui vẻ. “Hanh” là thông. “Lợi” là có ích. “Trinh” là trong trắng, trong sạch, trong sáng.

Trong ngũ vị (chua, cay, mặn, ngọt, đắng), theo Đông Y, vị mặn thuộc hành Thủy, là chất dẫn nuôi tạng Thận – đây là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của con người, có mối liên hệ mật thiết tới sức khỏe sinh lý, khả năng tình dục và sức sống. Tình dục quá độ có thể gây tổn thương thận, rút cạn sức sống khiến cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi uể oải, dẫn đến khả năng làm việc có ích cho Đời cũng sẽ theo đó giảm sút rất nhiều. Nay Thánh nhân lấy từ “Hàm” để nói ra sự thu hút, mối liên hệ vô hình giữa người với người, giữa nam với nữ. Lại lấy hình ảnh “thủ nữ” – lấy vợ để nói tới trong quẻ “Hàm”, dĩ nhiên ẩn nghĩa sâu sắc rất nhiều, nay chỉ có thể lược nói vài điểm trọng yếu:

Thứ nhất, nam nữ bị hấp dẫn nhau phổ biến nhất là bởi nhan sắc, nhà Phật gọi là sắc dục. Kinh Tăng Chi Bộ, bài Nữ sắc ghi: “Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như sắc người đàn bà. Này các Tỷ kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”. Nay Thánh nhân dạy người Quân tử phải biết rèn luyện Đức Hạnh, lập trí hướng thiện hướng thượng, ắt biết chỗ làm “siêu vẹo” lòng người Quân tử nhất, làm cho người Quân tử khó đứng vững nhất trên sự Đạo Đức đó chính là “nữ sắc”. Vì vậy đặc biệt lấy việc hấp dẫn của sắc đẹp, lấy việc “vui thú” của tình dục làm chỗ cảnh báo cần nên tiết chế, cần phải tiết độ, nếu không sẽ gây nguy hại cho chính mình, mà sự rèn luyện Đức Hạnh cũng khó thành được vậy. Người xưa nói: “Anh hùng nan quá mỹ nhân quan” – người anh hùng ( người có ý chí rất mạnh mẽ ) cũng khó qua nổi ải mỹ nhân. Khó chứ không phải không làm được, nhưng nó khó tới độ Phật Thích Ca còn “than thở” rằng: “Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Ðạo được cả!” <Chương 24, Kinh Phật nói Bốn mươi hai chương>

Thứ hai, ham muốn sắc dục quá độ thì một vợ chưa đủ phải thêm năm thê bảy thiếp, vợ mình chưa đủ thì thấy vợ người hấp dẫn cũng tìm cách để chiếm đoạt, đâu có kể nhân nghĩa Đạo Đức, đâu có kể thị phi phải trái, đâu có kể danh dự nhân phẩm, đâu có kể quả báo về sau. Vì thế mới sinh ra câu nói: "Mẫu đơn hoa hạ tử, tố quỷ dã phong lưu" - Dẫu có phải chết dưới bông hoa mẫu đơn, thì ta vẫn cứ là con ma phong lưu. Quả là "tật bất khả vi" - bệnh hết thuốc chữa !

Do đó, từ chỗ hấp dẫn tới chỗ mê đắm, từ chỗ mê đắm tới chỗ “tham muốn vô độ”, ắt kéo người Quân tử ra khỏi đạo lộ rèn luyện Đức Hạnh, xô đẩy vào vòng tà ác bất nhân. Thực tế trước đây cũng như hiện tại, hành vi “tà dâm” (quan hệ tình dục nam nữ bất chính) dẫn tới tan nhà nát cửa, vợ chồng ly tán, con cái bơ vơ, thậm chí mất mạng tù tội v…v vẫn hiệu hữu như một lời cảnh tỉnh cho Người trên con đường rèn Đức luyện Tài, mang lại lợi ích và hạnh phúc cho Đời, phải nên tự giác mà cẩn trọng.

Kinh nói: Hàm, hanh, lợi trinh.

Người đã thành tâm tu sửa bản thân, thì tất nhiên điều tốt lành người khác cũng cảm nhận được. Nó không chỉ ở lời nói, mà nó là kết quả thực tế thông qua việc làm, lợi ích trong hiện thực chạm tới trái tim người được tiếp xúc nên sinh ra sự cảm mến, sự giao cảm ấy là nghĩa của “Hàm”.

Lại nữa, tâm thành kính hành Đạo Đức giữ Nhân Nghĩa, sửa Tâm Tánh, chẳng những cảm tới người mà còn thông tới các cõi u huyền, còn lên tới tận Trời cao, thấm xuống tận Đất sâu. Vì sao vậy ? Vì “Đức cao quỷ thần kính” – người có Đạo Đức thì quỷ thần đều kính trọng; “Hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ” – Trời không thiên vị, chỉ giúp người có Đức.

Người Quân tử chịu tủi nhục, trải cay đắng, nhẫn khó nhọc mới thành tựu được Đức Hạnh, làm được việc người khác khó làm, nhẫn được việc người khác khó nhẫn, cho nên tự nhiên có sự giao cảm với Trời Đất, mà cũng chạm tới thế nhân, khiến người cảm mến, Trời thương tình, làm cho mọi sự tự nhiên cũng được “hanh” thông thuận “lợi”, đức “Trinh” sáng rỡ thì nơi nào còn chướng ngại được nữa mà lại chẳng thuận. Hết thảy khó khăn trở thành thử thách, hết thảy thử thách giúp bào mòn thói xấu, như thế thì càng khó càng tốt đẹp hơn, càng mài dũa càng sáng tỏ ra. Ấy là lý do vì sao Thánh nhân nói “Hàm, hanh, lợi trinh”.

Kinh nói: Thủ nữ cát.

Tu thân tốt đẹp rồi thì tất nhiên phải nghĩ đến việc thành gia lập thất, “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng” là chuyện thường tình nơi thế gian. Ở đây Thánh nhân dạy người sống nơi Đời mà rèn luyện Đức Tài để giúp ích cho Đời, cho nên việc “lấy vợ” cũng là việc có thể làm và nên làm để duy trì một nhân loại trường tồn hạnh phúc. Chẳng riêng gì con người, mà mọi loại đều như thế cả, ấy là việc cần thiết tự nhiên. Vả lại, trong lòng còn luyến ái nam nữ mà bảo đừng làm sự ấy thì cũng chẳng thể được. Tùy thuận nhân gian là việc mà người Trí nên theo, giả như thiên hạ vô sinh thì Phật Thích Ca cũng chẳng cần thọ thai mà ứng hiện giáo hóa, cõi này chẳng gọi là cõi Ngũ Trược, thời này chẳng gọi là thời Ác Thế, Ta Bà Địa Cầu trở thành Cực Lạc nhân gian, lời trong Kinh Dịch của Thánh nhân cũng chỉ là thói thường ngày của mọi người sinh sống. Sách này cũng chẳng cần truyền vì người sống đã phản chiếu ý Kinh hết rồi đó vậy.

Thánh nhân thường mượn việc đời mà làm sáng tỏ việc Đạo, nên việc lấy vợ “thủ nữ” cũng có ẩn ý sâu xa của nó. Tại sao người Quân tử phải lấy vợ ? Có phải vì dục vọng nam nữ, thèm muốn xác thịt mà lấy vợ ? Đó là một lý do, nhưng không phải là lý do chính. Nếu chỉ vì thỏa mãn dục lạc thì cũng có nhiều chỗ , nhiều cách để làm việc đó, nhất là vào thời xa xưa như: vào nhà thổ, nhà chứa, kỹ viện v..v. Việc kết đôi nam nữ có ý nghĩa quan trọng hơn, để nhằm duy trì nòi giống, để sinh con đẻ cái, nên mới cần phải thành hôn.

Duy trình nòi giống tức là truyền trao “tinh hoa” cho thế hệ sau. Đối với người con gái đi lấy chồng thì “trinh” tiết là thứ quan trọng, họ giữ gìn và chỉ trao cho một người duy nhất là người chồng hợp pháp. Đối với Đạo pháp thì là Đức “Trinh” - sự trong sạch của tâm hồn cao thượng, thuần khiết từ khi mới sinh ra đời chưa nhiễm bụi đời – là thứ quan trọng nhất. Thánh nhân muốn nói rằng, khi người Quân tử biết tu sửa và đã tu sửa được thành tựu, đã làm sáng tỏ được Trinh đức của Đất Trời nơi mình, thì cần đem cái lối đi, cái đường hướng ấy trao lại cho thế hệ sau, để đời đời người người được hưởng sự lợi ích, chẳng cho “Trinh” đức bị chôn vùi theo năm tháng thời gian. Ấy cũng là một trong các lý do vì sao, Kinh Dịch vẫn tiếp tục được giữ gìn, được trao truyền không ngừng từ thời Thượng cổ cho tới tân bây giờ. Đó là nỗi lòng, là hoài bão của Thánh nhân, muốn làm lợi ích cho nhân loại muôn đời mãi mãi.

Nhân loại có thể sẽ bị diệt vong nếu không còn sự kết đôi và sinh sản. Thánh nhân lấy hình ảnh “thủ nữ” có ý nghĩa quan trọng tới sự tồn vong của nhân loại để biểu đạt cho sự tiếp nối và duy trì Đạo Đức, sự rèn luyện Đạo Đức cũng có ý nghĩa quan trọng như thế. Không có Đạo Đức, con người không còn coi trọng Đạo Đức, không còn ai muốn rèn luyện Đạo Đức, không còn ai giữ gìn Đạo Đức, nhân loại nhất định sẽ đi tới sự tự diệt. Tại sao ư ? Như trên đã nói, sự Mâu thuẫn ngấm ngầm âm thầm sẽ đưa đến Tranh cãi công khai, rồi nếu ai ai cũng chỉ giữ lấy bản ngã, giữ lấy quan điểm, giữ lấy tư lợi, thế thì sự Cải Cách trong hòa bình chắc chắn là không xảy ra rồi, không Cải Cách trong hòa bình thì chỉ có cải cách trong bạo lực, tức là Chiến tranh. Chiến tranh không ngừng vì không còn ai đủ Đạo Đức để lãnh đạo, để hòa giải, để chấm dứt chiến tranh, tất cả chỉ có ích lợi cá nhân và sự thù ghét lẫn nhau, như thế chẳng đưa tới sự hủy diệt quy mô lớn, đưa đến sự tật diệt còn gì ? Vì thế mà cần truyền trao lại cho thế hệ mai sau, sự quan trọng, sự thiết yếu của rèn luyện Đức Hạnh, trau dồi Trí Tuệ nhằm gìn giữ sự hòa bình, gìn giữ sự tốt đẹp, gìn giữ nhân loại lâu dài trên Trái Đất thân yêu.



Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 25/06/2025

"Lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa,
Biết bao nhiêu là sự khó khăn?
Chỉ đìu hiu một mảy gió xuân,
Cũng lo sợ lửa khi tắt mất.
Nghi ngút khói, mặc dầu thổi quạt,
Che một bên lại tạt một bên,
Khi lửa đà chắc chắn bén lên,
Thì mưa gió, chi chi cũng cháy."


Lời Bác Hồ ngày xưa răn dạy,
Nay xét mình kể cũng đúng thay.
Người Quân tử, sửa tánh chóng, chầy.
Lơ đãng chút lại thụt lui như trước.
Tiến một bước mà lùi hai bước,
Tưởng như là muôn kiếp chẳng xong.
Chỉ vững tâm, thường tự nhắc lòng:
Đây việc khó, phải cần nhẫn nại !
Không ngừng bước, sau rồi tất được.
Đấng nam nhi chớ quản gian lao.
Cứ "Đại tráng" - ngay ngắn bước nào,
"Quán" thông suốt, còn chi chướng ngại.
Hai Quẻ ấy Thánh nhân đã dạy,
Nay xét tiếp cho tỏ lòng Trời.
Cầu mong cho Nhân Loại sáng ngời,
Trong Đất Nước, người người hạnh phúc.


Phong Địa Quan
觀: 盥而不薦, 有孚顒若
Quan: Quán nhi bất tiến, hữu phu ngung nhược.


Chữ “觀” có hai cách phiên âm: “Quan” hay “Quán”, đều có nghĩa là quan sát, xem xét; là chiêm nghiệm. Khi đối tượng xem xét, chiêm nghiệm có tầm vóc rộng lớn thì “Quán” được đọc thành “Quan”, như phong tục văn hóa – “quan phong”, thiên văn địa lý – “quan tượng” v..v.

Phật giáo cho rằng Thân Tâm con người và Vũ trụ là một khối thống nhất ("Nhất thiết duy tâm tạo" - tất cả do Tâm tạo). Đồng thời, chia Thân Tâm con người ra thành năm phần (Hán tự: “蘊” gọi là “Ấm” mang nghĩa che đậy, ngăn che – ngăn che Trí Tuệ, ngăn che đức “Trinh” hay “Uẩn” tức là gom nhóm, kết tụ - tích tụ hành vi suy nghĩ thành thói quen, kể cả “tốt” đưa đến như ý an vui hạnh phúc (“Cát”), lẫn “xấu” đưa đến bất như ý, khổ đau, bất hạnh (“Hung”). Ngũ Uẩn bao gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ở đây, chỉ xem xét ý nghĩa của Ngũ Ấm (Uẩn) trong giới hạn phục vụ sự tu sửa thói hư tật xấu, giúp mọi người dễ quan sát và tự nhận thức về bản thân mình cho đúng. Chứ nếu mở rộng ra đầy đủ để trình bày một cách trọn vẹn, thì dù dành hết thời gian một đời người chỉ để nói về Ngũ Uẩn, cũng không có cách chi nói hết cho được. Vì sao như thế ? Vì Thân Tâm con người chính là “tiểu vũ trụ”, vũ trụ phức tạp thế nào thì Thân Tâm con người phức tạp như thế ấy.
  • “Sắc” là phần cơ quan cảm giác, như mắt để nhìn, tai để nghe, mũi để ngửi, lưỡi để nếm, thân để xúc chạm. “Thọ” - hệ thống dây thần kinh liên hệ tới từng cơ quan cảm giác, khi cơ quan cảm giác tiếp xúc sự vật nhất định thì nó rung động, đưa thông tin cảm nhân: khó chịu, dễ chịu hay bình thường của sự vật đã tiếp xúc về não bộ xử lý – phân tích, đánh giá, phân loại, định tính, định lượng v…v chúng liên hệ tới cái gọi là Thân.
  • “Tưởng” là khả năng nhận thức - phân biệt sự vật như đây là cái gì, kia là cái chi, cái này và cái kia giống nhau ở điểm gì, khác nhau ở điểm gì. “Hành” là phần ý thức, có khả năng đắn đo, cân nhắc, đưa ra chọn lựa và quyết định hành động. “Thức” là phần tiềm thức, nó có mặt ngay khi trào đời, có khả năng chứa đựng kinh nghiệm, kiến thức, ký ức về hành vi đã tạo; cũng như nghiệp tội và phước báo của hành vi đó, bất kể đó là do suy nghĩ, lời nói hay việc làm tạo ra, tất cả đều lưu giữ tại đây, đều thu nạp về đây; chúng liên hệ tới cái gọi là Tâm.
Việc chia tách này cũng chỉ mang tính chất tương đối nhằm mục đích nghiên cứu xem xét cho nó được sáng tỏ chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận tạo nên cả quá trình, chứ đã là một khối thì không có cái nào đứng độc lập mà hoạt động đúng với vai trò của nó được.Tương tự các bộ phận của một chiếc xe máy vậy, chia ra thành tay ga, trục chuyền động, khung, vỏ, sên, bình xăng, động cơ v…v hợp lại thì gọi là chiếc xe, tách ra thì đó là vật, nhưng sên nếu chẳng gắn với các bộ phận khác thì nó đâu còn gọi là sên nữa, nó là cục sắt có hình dạng “kỳ quái”, những bộ phận khác cũng lại như thế. Sự vật chỉ là sự vật khi nó hiển bày được tác dụng của nó, trong mối liên hệ tổng thể với môi trường mà nó tồn tại, bằng không nó không còn là nó nữa mà nó trở thành một dạng khác với bản chất khác với tên gọi của nó, nó trở thành vật mới có chức năng bất định.

“Sắc” thì có tiếp xúc sự vật mà chưa nhận biết được sự vật.

“Thọ” là có nhận biết sự vật, mà chưa phân biệt được sự vật.

“Tưởng” là có sự nhận biết, có sự phân biệt, những chưa rõ phải làm gì với nó.

“Hành” là ý chí đắn đo suy nghĩ, quyết định, lựa chọn hành động với sự vật mình tiếp xúc.

“Thức” là kho chứa đựng kinh nghiệm, kiến thức, ký ức, tội và phước của hành vi đối với sự vật tiếp xúc.

Ví dụ: Bông hoa trên cây ngoài vườn đang nở, con mắt (sắc) tiếp xúc bông hoa, dây thần kinh thị giác tạo cảm giác dễ chịu khi nhìn bông hoa đó (thọ), thông tin về bông hoa và cảm giác dễ chịu được truyền tới não bộ, não bộ định danh nó là “hoa” và cho nó là đẹp (tưởng), quyết định được đưa ra, sử dụng dây thân kinh xúc giác điều khiển chân đi tới gần, tay hái bông hoa mang về cắm trong lọ để chưng (hành). Thấy hoa, hái hoa, cắm hoa, ngắm nhìn hoa từ khi còn tươi đến khi tàn lụi, từ khi ngoài vườn trên cây tới khi vô lọ cắm bình v..v tất cả những sự kiện liên quan tới bông hoa ấy được ghi nhận lại, lưu trữ lại trở thành kinh nghiệm, kiến thức, ký ức về việc hái hoa, về việc cắm hoa; đồng thời hành động hái hoa, cắm hoa, ngắm hoa v..v ấy tạo nên tội phước gì với cá nhân, với bông hoa và với con người cùng thế giới xung quanh, tất cả đều được giữ gìn ở một nơi gọi là Tâm Thức. Sau này khi thân người ngưng thở, tâm thức này sẽ chuyển hóa thành dạng sống mới, hoàn cảnh mới phù hợp để sự sống tiếp theo được bắt đầu nhịp nhàng, không gián đoạn.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Quyền 8, Đức Phật dạy rằng: “Tất cả thế gian sanh tử nối nhau, sống thì tùy thuận theo tập khí, chết thì biến đổi theo dòng nghiệp”. Những hành vi nhỏ nhiệm như hái hoa, ngắm hoa, thích thú với vẻ đẹp của bông hoa v..v nếu lặp lại nhiều lần thành quen “tập” thì nó tạo nên một lực vô hình “khí”, lôi kéo chúng ta trong những hoàn cảnh tương tự có xu hướng hành động giống như vậy, ấy là nghĩa của “tùy thuận theo tập khí”. Còn “chết thì biến đổi theo dòng nghiệp”, tức là trong một đời chúng ta có vô số các hành vi lặp lại nhiều lần, tần suất càng nhiều thì lực kéo lực đẩy càng lớn, sự trói cột càng chắc chắn, nó ví như một “dòng” chảy âm thầm có khả năng biến đổi và kiến tạo ra Thân Tâm và Thế giới mới khi kiếp sống này kết thúc. Như hoa nở rồi hoa tàn chuyển thành trái, trái chín thì rớt suống đất, đất lại mọc lên một cây mới có tính chất như hạt của hoa, ấy gọi là sự luân hồi, sự tái sinh, một vòng lặp vô hạn của nhân sinh, vạn vật trong Vũ trụ rộng lớn.

Phật giáo chỉ dạy hai cách thức phổ biến để xử lý “thói hư tật xấu” gọi là Chỉ và Quán.
  • Chỉ là đình chỉ, là ngăn dừng. Nó giống như “lợi dụng ngục” trong lời Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp bên trên. Nó sử dụng ý chí để chấm dứt tạm thời hành vi không mong muốn, có tính chất mạnh mẽ, sử dụng động lực nội tại, do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan, thô thiển hay tế nhị đưa tới. (VD: trong một phòng họp mọi người đang trò chuyện tán dóc vui vẻ giờ giải lao, khi Sếp bước vào, lập tức mọi người đình chỉ lại hoạt động trò chuyện ấy và thay đổi tác phong. Đó cũng là một hình thức của “Chỉ”. Khi người chồng đang hút thuốc lá phì phèo vì cơn thèm dâng lên, bỗng đâu cô con gái nhỏ chạy tới bên cạnh để khoe với ba bức tranh mới vẽ, người cha liền dập tắt điếu thuốc, nở một nụ cười và ôm con vào lòng, đó cũng là một hình thức của “Chỉ”.
  • Quán là xem xét mà không đánh giá phê phán để hiểu rõ đối tượng đúng với hiện thực, ở đây đối tượng nói tới là “thói hư tật xấu”. Theo dõi quá trình từ xuất hiện, tới phán triển, bùng nổ mạnh mẽ thôi thúc hành động – nhưng không chạy theo, làm theo để thỏa mãn sự thôi thúc đó , kiên nhẫn cho tới khi sự thôi thúc ấy nó suy yếu rồi biến mất trong Tâm Thức. Sau đó chiêm nghiệm lại cả quá trình, để tìm ra nguyên nhân phát sinh của nó, điều kiện hoàn cảnh nào thì hỗ trợ nó xuất hiện mạnh, yếu khác nhau, cuối cùng là kết quả sau khi nó được thỏa mãn và không được thỏa mãn là như thế nào. Từ đấy, tìm cách loại bỏ nguyên nhân, tránh xa điều kiện và tự mình cảnh giác nhắc nhở bản thân về sự nguy hai hay tốt đẹp mà điều đó đưa tới nếu bản thân tùy thuận theo nó.
Để có thể thực hiện “Quán” thành công, người thực hiện phải có một ý chí kiên cường nhất định mới không bị “thói hư tật xấu” nó cuốn đi mà chẳng kịp nhìn nhận được điều gì. Sự “kiên cường” đứng vững trước “thói quen” nhà Phật gọi là Định lực. Định lực không tự nhiên sinh ra, như đưa bé mới sinh thì chỉ có thuận theo nhu cầu cơ thể chứ không có khả năng không chế và kiểm soát nhu cầu đó, nhưng trải qua thời gian sống rèn luyện học tập, “Định lực” được lớn lên và trở thành một sức mạnh vô hình, giúp đứa bé lựa chọn hành động phù hợp theo những Quan Điểm được cho là nền tảng, là tiêu chuẩn của "lẽ phải".

Cho nên, “nhân Giới sinh Định” – dựa trên những tiêu chuẩn không được vi phạm (Giới), mà bám giữ thuận theo những tiêu chuẩn đó, dần dần sẽ có sức mạnh kiểm soát hành vi, tức Định. “Từ Định phát Huệ” – nghĩa là khi có thể đứng vững trước sự thôi thúc của những việc đã tập quen, những phản ứng xảy ra khi hoàn cảnh xuất hiện mà không cần suy nghĩ, những việc gọi là thói quen, thì người Quân tử có thể nhìn nhận ra bản chất và ý nghĩa tồn tại của thói quen ấy, từ đó lựa trọn dẹp trừ hay nuôi dưỡng nó một cách chủ động, với sự hiểu biết đầy đủ từ Nguyên nhân tới Điều kiện tồn tại, cũng như Hệ quả của việc làm dẫn đến mai sau. Sự hiểu biết đúng đắn với hiện thực thì gọi là Huệ đó vậy.

Thánh nhân sử dụng chữ “Quan” làm tên Quẻ, cũng nhằm ý chỉ cho phương pháp “Quán” này.

Kinh nói: Quán nhi bất tiến, hữu phu ngung ngược.

“Quán” nghĩa là rửa tay cho sạch. “Tiến” nghĩa là cúng; dâng lên. (tại sao lại "dâng lên" mà không phải "hạ xuống", tại vì người Quân tử thực hiện phép "Quán" để tu sửa bản thân, để hướng thiện hướng thượng chứ không để hướng ác hướng hạ, cho nên lấy hình tượng "dâng lên" mà không lấy "hạ xuống"). “Bất tiến” nghĩa không cần cúng dâng. “Nhi” nghĩa là nhưng mà. “Phu” là thành tín; “hữu phu” có sự thành tín. “Ngung” là nghiêm chỉnh. “Ngược” là thuận; là tự nhiên.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Rửa tay cho sạch mà chưa cúng dâng, với sự trang nghiêm và thành tín một cách tự nhiên. (xuất phát từ lòng chân thật, không phải giả bộ nghiêm cẩn cho mọi người thấy hay ra vẻ oai nghiêm tề chỉnh mà trong lòng xào xáo tính toan).

Thời xa xưa, hoạt động tế lễ diễn ra phổ biến, nó thể hiện sự tôn kính của con người đối với nơi mà con người tồn tại – bầu Trời và mặt Đất; hay với người lãnh đạo cao nhất giúp dẫn dắt cộng đồng tồn tại phát triển an toàn, bền vững. Trước khi thực hiện nghi lễ bất kỳ, việc rửa tay sạch sẽ “Quán” và đứng nghiêm trang, lắng đọng tâm hồn trước khi dâng cúng lễ vật hay cầu xin điều gì, là bước đầu giúp cho nghi lễ được diễn ra trang trọng, đúng mực, tốt đẹp.

Sửa mình cũng như tế lễ vậy, nó là việc nghiêm túc có ý nghĩa quan trọng, không được nóng vội cẩu thả. Cần nhất là sự “thanh tịnh”, mục đích là để Thân Tâm được thanh tịnh, được trong sạch, được trong sáng thì cái Đức Trinh của Trời Đất nó mới bộc lộ được ra ngoài, như tấm gương bám bụi, thì bụi chính là thói hư tật xấu, lau chùi hết bụi thì tấm gương Đức nó mới phát huy được ánh sáng, nó mới mang lại được lợi ích cho mình cho người và cho cuộc đời nhiều điều tốt đẹp.

“Quán nhi bất tiến” nghĩa là quan sát để hiểu rõ, chứ không phải để làm theo như thế. Tại sao không phải để làm theo ? Vì đối tượng là thói hư tật xấu, nên không thuận theo; chỉ nhìn để biết rõ nguyên nhân, kết quả và điều kiện khiến nó phát sinh. Hiểu rõ rồi thì mới tránh né và ngăn dừng được. Lâu dần nó sẽ bị suy yếu và triệt tiêu, như cây bị nhổ lên khỏi mặt đất, như vật bị ướt phơi dưới ánh nắng trưa hè, chỉ cần tách nó ra khỏi môi trường khiến nó tồn tại thì chỉ cần có lòng kiên nhẫn, do thiếu điều kiện, tự nó sẽ “chết đi” mà chẳng cần phải tác động gì tới nó nữa vậy.

Như người nghiện rượu, nghiện ăn nhậu tiến hành quan sát cơn thèm rượu, cơn thèm nhậu để hiểu nó diễn tiến như thế nào và cuối cùng nó đi về đâu, kiên trì giữ vững như thế mà không chạy theo thì hiểu được tiến trình từ sinh tới diệt của nó, nhờ vậy mà không bị nó kiềm tỏa và không chế, nhờ thế mà từ bỏ được nó. Muốn được vậy thì phải có Định lực nhất định để giữ cho thân yên, tâm lặng mà không bị thói xấu làm cho loạn động bất an, khiến cho từ bỏ sự thiện lành để rồi “bệnh cũ lại tái phát”.

Có rất nhiều người, họ cố gắng tìm đủ mọi cách từ bỏ một thói hư bị cho là xấu tệ, nhưng họ chưa bao giờ dừng lại không chạy theo và quan sát nỗi thèm khát ấy từ sinh tới diệt một cách trọn vẹn, họ chỉ cố làm xao lãng tâm trí bằng đối tượng khác, cách bỏ như thế thì tạm thời còn được, lâu dài như đá đè cỏ, mới trông thì không thấy cỏ tưởng cỏ “thói xấu” chết rồi, đến khi cỏ đội đá lên, mới tá hỏa là cỏ tốt um hơn trước. Thói quen xấu tệ cũng vậy, nếu xao lãng nó bằng hành vi khác, tạm thời thì nó yên không phá hoại cuộc sống và tâm hồn, nhưng khi nó đủ vững và đủ "cứng", nó sẽ đẩy mình ngược trở lại hố sâu tệ hại với sức mạnh còn gấp 3-4 lần trước khi kìm nén. Đó là lý do chính khiến cho việc từ bỏ thói quen xấu tệ nó trở nên khó khăn và nó phản tác dụng khi gồng mình sai cách.

Thay vì ngồi yên thả lỏng để quan sát nó diễn ra như thế nào nơi thân tâm, để hiểu nó, để có cách xoa dịu nó và loại bỏ nó; chúng ta lại dùng cách mạnh bạo hoặc lảng tránh, ấy không phải là phương pháp đúng đắn để trừ diệt tận gốc rễ của thói hư tật xấu.

Phải sử dụng “Quán” để nhìn cho thấu, nhìn cho tỏ rõ, nhìn cho ra nhân – duyên – quả ( nguyên nhân, điều kiện hỗ trợ và kết quả cuối cùng) của thói hư tật xấu; Khi ấy mới có thể “buông bỏ” thói hư tật xấu một cách triệt để, mà trở nên trong sạch như ban sơ lúc mới trào đời chẳng có tì vết, khi ấy Trinh Đức mới hiển lộ rõ ràng sáng rõ nơi mình trọn vẹn.

Kinh nói: Hưu phu ngung nhược.

Phàm làm việc gì trên đời, nếu chẳng để tâm và quyết tâm thì việc đó khó thành, dầu có thành cũng chẳng được như ý. Cho nên, Thánh nhân nói “hữu phu” để nhấn mạnh yếu tố quan trọng ấy khi tiến hành tu sửa bản thân mình.

Trước đây đã nói, tu sửa không phải là để khoe khoang hay làm màu cho người khác thấy, để người khác đánh giá mình cao, mà là để tốt cho chính mình, là mình tự thương mình, mình tự cứu mình khỏi hậu quả xấu do nó tạo ra mai sau. Cho nên, cần “ngung nhược” – nghiêm chỉnh, nghiêm túc, chân thật mà cũng không gò bó, cần “tự nhiên” (nhược), thả lỏng thoải mái, không gồng không gấp không chùng không căng, như vậy mới phát huy được hết tác dụng của sự “Quán” chiếu sửa tâm.

Lại nữa “nghiêm chỉnh” (ngung) thì không tặc lưỡi buông xuôi lặp lại điều đã biết là dở tệ, có sự “thành tín” (hữu phu) và “tự nhiên (nhược) thì không phê phán đánh giá bản thân để sinh ra sự tự ti, sự dằn vặt tiêu cực. Cứ thành thật để nó lộ ra, ôm ấp nó như mẹ dỗ con ngưng khóc, để nó vùng vẫy trong vòng tay “Giới- Định”, để hiểu nó rõ hơn và để khiến nó bình an một lần và mãi mãi.



Sửa bởi HieuHcmVN: 25/06/2025 - 14:13
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 25/06/2025

Lôi Thiên Đại Tráng

大壯利貞.
Đại Tráng lợi trinh.


“Tráng” nghĩa là mạnh mẽ; là lớn lao; cũng có nghĩa là khâm phục, khen ngợi. “Đại Tráng” là vô cùng mạnh mẽ, vô cùng lớn lao; Khiến người khâm phục, xứng đáng được khen ngợi. "Trinh" là bản thể vô nhiễm, trong sáng thanh tịnh, nguyên sơ trong sáng từ thủa chưa lọt lòng mẹ. "Lợi" nghĩa là tất cả đều được ích lợi, chẳng kể giống loài, chẳng kể địa vị, chẳng kể không gian thời gian biên giới. Cái "lợi" này như Đất Trời mang tới cho muôn loài vạn loại đó vậy.

Các bậc Hiền Thánh từ xưa tới nay, từ Đông sang Tây, đều đồng thuận với nhau rằng: người chiến thắng được “thói hư tật xấu” bám rễ ăn sâu nơi Thân Tâm mình tức là người “mạnh mẽ”.

Nay người Quân tử biết sai sửa sai, lại sửa chữa đúng cách, kiên trì nhẫn nại vượt qua gian nan thử thách, làm tới nơi tới chốn, nhổ tận gốc rễ của thiếu sót sai lầm, của thói hư tật xấu thì chẳng những bản thân tự cảm thấy niềm vui, như người bị trói bị tù lâu ngày mà được thoát ra, như Ngộ Không bị nhốt dưới núi Ngũ Hành 500 năm được vươn vai tung bay giữa Trời Đất rộng lớn. Còn gì thích chí hơn ?! Chẳng những lợi ích cho bản thân, mà người khác cũng cảm nhận được sự ấy mà “khâm phục”, “khen ngợi”. Chiến thắng được bản thân mình là việc khó nhất trong những việc khó, việc đáng khen nhất trong những việc đáng khen. Người chiến thắng được bản thân mình là người mạnh mẽ nhất trong những người mạnh mẽ vậy.

Thói hư tật xấu đã êm dịu nằm yên, càng khô mòn lụi tàn theo năm tháng thì đức Trinh theo đó càng sáng rõ lấp lánh tương xứng, dụng "Trinh" Đức mà hành sự nơi Đời thì muôn phần “Lợi” ích, không gì có thể diễn tả hết nổi ! Cho nên, Thánh nhân nói lời ngắn gọn mà trọn vẹn: “Đại Tráng, lợi trinh”.



Sửa bởi HieuHcmVN: 25/06/2025 - 20:51
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 26/06/2025

Dẹp yên thói cũ xưa nay,
Nhưng mà "bóng tối" chưa thay, đổi màu.
Nhìn ra Bốn bể Năm châu,
Mông lung dường chẳng rõ đâu bến bờ.
Đức Tài Trí Huệ đâu chờ,
Khổ công rèn luyện, "dùi mài" sáng ra.
Cậy Thời, cậy Thế, cậy Người;
Nào bằng nhờ cậy dựa nơi chính mình.
Phá tan tăm tối vô minh,
Trong ngoài tỏ rõ, việc gì chẳng xong.
"Mông" là u tối trong lòng.
"Kiển" là tập tễnh, bước không vững vàng.
Tuy là Giới Định sẵn sàng,
Huệ kia muốn tỏ, Đức thời phải Trinh.
Tiếp theo xét rõ sự tình,
"Mông", "Kiển" chỉ chỗ, cho mình tìm ra.



Sơn Thủy Mông


蒙: 亨, 匪 我 求 童 蒙, 童 蒙 求 我 .
Mông: Hanh, Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã.
初 筮 告 , 再 三 瀆 , 瀆 則 不 告 .利 貞 .
Sơ phệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo. Lợi trinh.


“Mông” nghĩa là không rõ ràng; là che đậy; là tối tăm, là tâm trí ngu muội. “Phỉ” là chẳng phải. “Ngã” là bản thân; “Phỉ ngã” là chẳng phải tôi (ta, mình). “Cầu” là nhờ, xin; là đòi hỏi, tìm tòi; “Đồng” là đứa trẻ con (15 tuổi trở lại); là con trai có tội phải làm đầy tớ cho Quan; là người ngớ ngẩn, ngu muội. “Phệ” là bói toán (như thời xưa sử dụng “cỏ thi” để xin Quẻ, y theo lời Quẻ mà dự đoán Cát, Hung ). “Sơ” nghĩa là lần đầu; bắt đầu; cũng nghĩa là bổn lai, xưa nay; “Sơ phệ” nghĩa là bói lần đầu; cũng có nghĩa là hỏi về “bổn lai”. “Cáo” là nói cho biết; bảo cho biết; “Sơ phệ cáo” nghĩa là lần đầu bói hỏi thì nói cho biết; cũng nghĩa là hỏi về “bổn lai” thì sẽ được nói cho biết. “Tái” nghĩa là lần nữa; làm lại; cũng nghĩa là nhiều lần. “Tam” là ba; “Tái tam” là lặp lại lần ba. “Độc” nghĩa là quấy nhiễu, khinh nhờn, bất kính. “Tắc” nghĩa là thì, liền ngay; cũng nghĩa là quy tắc, khuôn phép, gương mẫu; là noi theo. “Bất” nghĩa là không; chẳng; chả. “Trinh” nghĩa là trong trắng; là ngay thẳng, chính đính, trung thành, khảng khái. “Lợi” nghĩa là tốt đẹp; có ích; dùng được; cũng nghĩa là thuận tiện, dễ dàng. “Hanh” nghĩa là thuận lợi; thông suốt.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Lúc tâm trí ngu muội mà muốn được thông suốt, chẳng cần mình đi tìm đứa trẻ ngây thơ để hỏi, hãy để tâm trí như đứa trẻ ngây thơ tự tìm tới mình. Hỏi ngay lần đầu mà được cho biết thì tốt rồi. Chớ nên hỏi đi hỏi lại hai ba lần lại thành khinh nhờn bất kính. Khinh nhờn bất kính thì ắt chẳng cho biết. Cứ ngay thẳng trong sáng thì tốt đẹp, mà lời khuyên ấy lại có thể dùng được.

Kinh nói: Mông, hanh, phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã.

Người xưa nói: “Hài tử khẩu trung hữu chân ngôn” – trong miệng trẻ con chứa đựng lời chân thật. “Đồng ngôn vô cấu” – lời trẻ con không dối trá. Tục ngữ có câu: “Đi xa hỏi già, về nhà hỏi trẻ” – ý chỉ người già có kinh nghiệm, trẻ con có sự chân thật; ra ngoài muốn được việc thì lợi dụng kinh nghiệm của người già, đi xa về mà có điều lạ xảy ra, không rõ ràng thì tìm trẻ em để hỏi thì sẽ được nghe lời chân thật.

Cho nên khi tâm trí rối bời, khi mọi sự không rõ ràng, khi sự thật bị che lấp, ở trong gia đình có trẻ con, thì người ta tìm tới trẻ con để hỏi cho rõ sự tình, nếu nó biết nó sẽ trả lời như thật không hề dối trá. Ấy là lý do vì sao Thánh nhân lấy hình tượng “đồng mông” – trẻ nhỏ ngây thơ và nhắc tới “cầu đồng mông” vào thời khắc u mê, tối tăm mờ mịt. Thế thì ắt có những trẻ không có ngây thơ, vì nó lanh hơn do hoàn cảnh điều kiện giáo dục, cho nên “đồng” không chưa đủ, phải “mông” nữa mới là chỗ đáng tin cậy.

Dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức, xã hội; người ta dễ dàng phán định được “thói quen” nào là “thói hư tật xấu”, nhưng tại sao lại xuất hiện nó thì có thể lại mờ mịt. Hơn nữa, “thói quen” của mình thì chỉ mình rõ nhất, người khác cũng chẳng rõ ràng hơn mình được, nên ở đây khi sửa chữa "thói hư tật xấu", khi tìm lại cội nguồn gốc rễ của “thói hư tật xấu”, Thánh nhân không khuyên chúng ta chạy ra ngoài tìm người có thể nói thật (“đồng mông”) để hỏi cho ra nhẽ, cho ra vấn đề; mà dạy chúng ta phải để tâm mình lắng lại, trong sáng lại, chớ khuấy động tâm trí mình, như tâm hồn “trẻ thơ”, rồi đem chỗ không rõ, không hiểu hỏi chính cái tâm hồn trẻ thơ ấy, thì ắt là có được đáp án, được cho biết rõ ràng mà thôi. Tại sao lại như vậy ? Vì tâm trong sáng, không ý niệm lăng xăng, không nghĩ Đông nghĩ Tây, không lo lắng bất an, không bồn chồn vội vã, nó giống như “mặt hồ phẳng lặng”, “dòng suối trong vắt”, có thế thấy rõ nguồn đáy, có thể thấy rõ sự sống ở dưới mặt nước. Cũng thế, tâm hồn khi vắng lặng trong suốt sẽ có tác dụng phản chiếu, có tác dụng khai mở trí huệ, giúp câu trả lời được hé lộ ra ngoài.

Ở điểm này sẽ dễ hiểu hơn khi liên hệ tới những phát minh của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, rất nhiều vấn đề hóc búa mang tính chất thời đại, đã được giải mã khi họ để tâm mình đạt tới trạng thái “trẻ thơ”, như câu chuyện “Newton dưới gốc cây táo” phát minh ra Định luật Vạn vật hấp dẫn và “Archimedes trong bồn tắm” phát minh ra Nguyên lý Archimedes v..v

Kinh nói: Sơ phệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo. Lợi trinh.

Quá khứ có thể biết, hiện tại có thể hiểu, song tương lai thì rất khó đoán định. Khi đối mặt với những quyết định trọng đại thiếu dữ kiện, thiếu thông tin có cơ sở vững chắc, để tránh đưa ra quyết định sai lầm, người xưa thường dành ra khoảng lặng, chọn chỗ trang nghiêm, lựa lúc thanh tịnh, đem việc còn băn khoăn lưỡng lự đặt để trong tâm, sử dụng các phương pháp khác nhau để “xin quẻ”, để “bói toán” nhằm có được những lời gợi ý cần thiết, ngõ hầu giúp cho quyết định được tự tin và chắc chắn hơn. Chủ yếu là mong muốn, tránh “Hung” – xấu, tìm “Cát” – tốt, vạn sự tốt lành như ý, cho nên mới cần phải làm như vậy.

Đây là lý do vì sao Thánh nhân lấy hình tượng bói toán “phệ”, để ẩn dụ phương pháp khai mở Trí Huệ trong khoảnh khắc tâm trí bị rối ren, u tối. Người chưa hiểu Đạo lý của Trời Đất thì dựa vào Thần linh, dựa vào thế lực “siêu nhiên” bên ngoài. Người đã hiểu Đạo lý, biết gieo nhân gặt quả, biết gieo thiện nhân thì gặt quả “cát” hỷ, gieo ác nhân thì gặt quả “hung” xấu, cho nên chỉ cần có Trí Huệ rõ ràng nhân quả, mọi sự của mình đều có thể tự mình quyết định, mà vẫn đạt được sự tốt lành như ý (tuy là dựa vào mình nhưng tuyệt nhiên chẳng được khởi ý khinh Thiên bạt Địa, coi thường Quỷ Thần, như thế thì muốn sống yên thân e rằng cũng khó, vả lại đã có tâm khinh thường Trời Đất Quỷ thần thì biết đó chẳng phải là Trí Huệ chân chánh, có thể đó chỉ là sản phẩm của “Ngũ Ấm Ma” mà thôi !).

Mục đích của việc tu sửa là để khai mở Trí Huệ, dẹp trừ “thói hư tật xấu” thì tâm tưởng được thiện lành, thanh tịnh; nhân chỗ thanh tịnh mà Trí Huệ vốn sẵn nơi Tiềm thức bị “che chặn” (Ấm) được “thoát ra”(Khai). Vì như trên “quẻ Quan” đã làm rõ, Tâm thức là nơi chứa đựng toàn bộ kiến thức, ký ức, kinh nghiệm, tội phước v..v của vô lượng kiếp sống trong quá khứ, hiện tại và vị lại; thế thì một khi Tiềm thức được “mở cửa”, toàn bộ tri thức trong đó mỗi người có thể tùy ý tiếp cận, có câu hỏi nào mà trong đó lại không biết để giải đáp cho ta cơ chứ. Đây là chỗ thâm ý, thật nghĩa của từ “phệ cáo”.

Chữ “sơ” tức là lần đầu, ở đây không có ý chỉ là “một lần”, mà là quá trình hỏi như thế có thể lặp lại rất nhiều lần, số lần không giới hạn, nhưng khi mà cái “lần đầu” được cho biết, lần đầu mình có được câu trả lời rồi ấy thì nên dừng lại. Vì cái sự cho biết, trải qua thời gian chờ đợi lâu dài, đó là “minh triết chánh lý” rồi đó ! Chớ nên “hoài nghi” thêm nữa, mà phải ngay lập tức sử dụng cái “chánh lý” ấy áp dụng vào thực tế đi, bởi thực tế là cơ sở quyết định nó là chánh hay tà, nếu như được đáp án rồi, mà cứ hỏi tới hỏi lui, thì lại thành ra sinh tâm “nghi ngờ”, ấy rốt cục là hành vi chẳng “tôn kính” cái Đại Trí nơi Tiềm thức ("Vô sư Trí"), biết rồi mà hỏi nữa hỏi mãi thì tất nhiên là chẳng cho biết thêm gì nữa ! Đóng cửa, tiễn khách !

Cuối cùng, luôn luôn là như vậy, rải rác ở khắp mọi nơi trong Kinh Dịch như là cương lãnh, muốn được “lợi” ích thì phải duy trì “Trinh” đức.

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Quyền 1: kể về câu chuyện Ngài Anan, một trong Mười Đại Đệ Tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, được tôn xưng là Đa văn đệ nhất. Trong một lần Ngài Anan đi khất thực một mình, đi ngang qua nhà của một “dâm nữ” (kiểu như "gái làng chơi" hay "gái bán hoa" bây giờ), do thấy Ngài Anan đẹp trai, nên “dâm nữ” Ma Đăng Già mới sử dụng “tà chú” của Phạm Thiên, khiến tâm trí Ngài Anan bị mê hoặc mất kiểm soát bản thân, thế là nàng ta dụ dỗ Ngài ấy vô nhà, tính “xàm sỡ”, rất may là Phật có Đại thần thông biết sắp có điều không hay xảy ra, nên mới nhờ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tới nơi cứu Ngài Anan về, đồng thời giáo hóa độ cho Ma Đăng Già luôn. Khi về tới nơi Ngài Anan bật khóc nói:

“A Nan gặp Phật, đảnh lễ rơi lệ, hối hận xưa nay chỉ ham học rộng nghe nhiều, chưa tròn đạo lực, nay ân cần thỉnh hỏi Như Lai về phương tiện đầu tiên của ba thứ thiền quán: Sa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền Na mà mười phương Như Lai đã tu được thành chánh giác."


Thế thì Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp nói về phép “Samatha” tức “Chỉ”. Quẻ Phong Địa Quan nói về phép “Tam Ma Bát Đề” tức “Quán”. Còn ở đây, Quẻ Sơn Thủy Mông nói về phép “Thiền na” tức “Tham thiền” của Thiền Tông đó vậy. Tại sao lại biết ? Bởi do chữ "phỉ ngã", "sơ phệ" và "cầu" - hàm nghĩa tìm tòi ở nơi "vô ngã", tìm về "bổn lai" của chính mình, ấy đích thị là tông chỉ của Thiền tông rồi !

Kinh Dịch ra đời trước thời điểm Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh, giáo lý trong đây chẳng những thâu tóm cương lĩnh tu tập cốt tủy của Phật giáo, mà còn hàm chứa cả "kim chỉ Nam" của Lão - Trang, Khổng - Mạnh, Tiên Thiên. Quả là “bảo vật” hiếm có xưa nay, mọi người hữu duyên tõ rõ nghĩa lý của Kinh, rất cần bảo tồn cung kính và trân trọng !



Sửa bởi HieuHcmVN: 26/06/2025 - 09:01
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 26/06/2025

Thủy Sơn Kiển

蹇 利 西 南, 不 利 東 北, 利 見 大 人, 貞 吉.
Kiển lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc, lợi kiến Đại nhân, Trinh cát.


“Kiển” là chân đi tập tễnh; là khốn ách, gian khó; cũng nghĩa là ngạo mạn, láo lếu (Do ngạo mạn, láo lếu khiến cho gặp sự khốn ách, gian khó, nên dụ như người bị khuyết tật, chân phải đi tập tễnh. “Ngạo” là do ngu mê mà ra, nếu hiểu biết rồi thì chẳng còn cái “ngạo khí” này nữa. “Ngạo” không giống “Tự tin”, “Tự tin” là biết mình hiểu người, “Ngạo” là tự mãn về mình mà chẳng rõ đối phương ra sao cả.) “Đại” là to, lớn; là lớn lao, cao cả; là vô cùng. “Nhân” là người, giống “khôn” nhất trong các loài động vật. “Cát” là tốt, lành; là điều lành, việc có lợi; là việc gì vui mừng.

Kinh nói: Kiển lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc.

Quẻ Khôn có bàn tới sự lợi hại của Tây Nam và Đông Bắc, lại phân tích rõ tại sao Tây Nam thì “lợi” mà Đông Bắc thì “bất lợi”, nay ở đây chỉ lược nói lại: sự “bất lợi” và “lợi” chính là do cách sống của mình với người, mình sống mà khiến người mến thương muốn kết giao bằng hữu thì gọi là “lợi”, ngược lại người xa lánh mình, gây thù chuốc oán với người, khiến tình bạn tan vỡ thì gọi là “bất lợi”. Nay lúc “Kiển” là thời kỳ gặp gian khó do ngu si sinh tâm kiêu mạn mà ra, cho nên có gặp người chỉ vẽ cho chỗ ngu tối thì mới thoát ra được, bằng không cứ ôm cái ngạo mạn ấy thì chỉ có thể “hướng hạ” rồi “hạ huyệt” nữa là xong Đời. Vì thế “Tây Nam” là hướng "được bạn" nên “lợi” đó vậy. Dĩ nhiên, đang lúc khó mà còn mất bạn (“Đông Bắc táng bằng”), mất người tương trợ thì có phải là khổ chồng thêm khổ, “tuyết thượng gia sương” – sương rơi thêm trên tuyết lạnh buốt – nữa còn gì ! Thánh nhân gọi là “bất lợi” thì cũng thuận theo lẽ tự nhiên, lại hợp nhân tình thế thái, không có gì là khó hiểu cả.

Kinh nói: Lợi kiến Đại nhân, Trinh cát.

“Đại nhân” là người có tâm rộng lớn, nhờ tâm rộng lớn mà Trí Huệ theo đó cũng vĩ đại theo sau. Tâm nhỏ hẹp, hẹp hòi thì gọi là “Tiểu”, Tâm rộng lớn bao dung như bầu Trời thì gọi là “Đại”. “Đại” của Đại nhân là là Đại Trí Huệ. Chứ chẳng phải Danh to Lợi lớn, Quyền cao Chức trọng, Khoái lạc phồn thịnh mà gọi là “Đại” đâu. Cho nên, chữ “Đại” này biểu đạt cho cái chẳng những rộng như bầu Trời, còn rộng ngang không gian Vũ trụ, nó vô cùng chẳng có biên giới, nó chính là “bản giác tánh thanh tịnh” trong nhà Phật. Người chạm tới kho Trí Huệ trong Tiềm thức, thí mới đúng nghĩa “Đại” mà Thánh nhân nói tới, muốn người Quân tử hướng đến.

Kẻ đang trong lúc ngu mê bế tắc mà gặp người Đại Trí thì ắt là “lợi” ích lắm, sẽ có đường lối để thoát thân thôi. Gặp được người Trí mà đem tâm “Trinh” – ngay thẳng, thành thật, trong sáng - ra thưa hỏi những chỗ khúc mắc thì lập tức được giải trừ nghi ngờ, khai mở được con đường sáng tỏ, do đó mà nói “Lợi kiến Đại nhân, Trinh cát”.

Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát Nhã nói: Thiện tri thức, Trí Bồ đề Bát Nhã của chúng sanh vốn tự có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ Đại Thiện Tri Thức khai thị dẫn dắt để đi đến kiến Tánh. Phải biết Phật tánh của kẻ ngu người trí vốn chẳng sai biệt, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, nên mới có kẻ ngu người trí. Nay ta thuyết Pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, khiến cho mọi người đều được Trí Huệ.

Người Quân tử biết tu sửa bản thân, có hiểu biết đúng đắn và mong ước dẹp bỏ điều xấu tệ để thực hành việc tốt đẹp thiện lành thì tức là “Thiện tri thức”. Người đã khai mở được kho tàng Trí Huệ sẵn có nơi Tiềm thức mỗi người thì gọi là người “kiến Tánh”, lại có thể sử dụng nó làm lợi ích cho đời thì gọi là Đại Thiện Tri Thức, cũng tức là tên gọi khác của “Đại Nhân” đó vậy !

Từ “Đại Nhân” ở trong Kinh Dịch, tùy tình huống hoàn cảnh đề cập nơi mỗi Quẻ, có phạm vi nghĩa lý rộng hẹp khác nhau, đối với các danh từ lặp lại nhiều lần khác cũng có tính “co giãn” về ý nghĩa như thế. Bởi dụng ít lời mà hiển bày nghĩa sâu rộng khắp cả thiên hạ, lượng cả vạn Giáo, thâu cả Trời Đất tất nhiên là khó tránh khỏi trùng điệp nghĩa lý cạn sâu khó dò, ấy là điều có thể thông cảm được cho Thánh nhân.

Quả thật, nếu chẳng phải Thánh nhân quảng trí đại tài, e rằng chẳng ai nơi thế gian có thể làm được cái việc: đem tri thức rộng lớn ngang thiên hà đại địa, rồi bỏ vô "một hạt cải", dễ dàng như tại Kinh Dịch, để hậu thế mở xem đọc xét, rồi mỉm cười thán phục, thư thả gập sách, buông hồn nhẹ nhàng như chiếc lá sen hồng cưỡi gió đặt mình trên dòng suối trong mát, mang theo hỷ lạc, chảy mãi tới ngàn năm.


"Thích, Đạo, Nho vốn là một nhà.
Điều quan trọng là Tâm an, Lý đắc, Thần Quang, con không nên cố chấp !"
< Trích lời thoại trong phim, phút 43:08>>


Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 27/06/2025

Thủy Địa Tỷ


比 吉 . 原 筮 , 元 永 貞 , 无 咎

Tỷ cát. Nguyên phệ, nguyên vĩnh trinh, vô cữu.

不 寧 方 來 , 後 夫 凶 .

Bất ninh phương lai, hậu phu hung.​


Chữ “比”-Tỷ , nghĩa sâu sắc nhất là nằm trong chữ “Tỷ Kheo” (比丘) – là người tinh tấn tu tập theo Giới – Định – Huệ, dẹp trừ phiền não (mừng, giận, buồn, vui, sầu, bi, ưu, não v..v) và những điều tệ ác xấu xa nơi mình.

Chữ “Tỷ” nghĩa phổ thông là so sánh. So sánh điều gì ? Có hai ý lớn:

Thứ nhất sự lợi hại giữa thực hành Đạo Đức với làm theo “thói hư tật xấu”, hai hướng hành động ấy có sự tốt xấu ưu khuyết nó ra làm sao ? Khi người ta tiến hành so sánh, nghĩa là người ta đang đắn đo để lựa chọn phương án tốt nhất. Trước khi hành động, đặc biệt là những hành động mang tính chất quyết định tới vận mệnh hiện tại và mai sau, thì sự đắn đo càng cẩn trọng tỉ mỉ hơn bình thường. Ở đây cũng vậy, sự so sánh để quyết định lý tưởng sống, nguyên tắc sống, mục tiêu sống, nền tảng sống đang được đưa ra để xem xét, lựa chọn.

Thứ hai, so sánh sự tăng giảm sau thời gian rèn luyện tu sửa: hôm nay tiến bộ hay thụt lùi so với hôm qua, tháng này so với tháng trước thì có thay đổi gì không, năm vừa qua so với năm hiện tai đã chuyển biến được bao nhiêu rồi v…v cho tới kiếp trước và kiếp này - tức là hoàn cảnh lúc niên thiếu với hoàn cảnh lúc “xế chiều” – có phát triển hơn gì không ? Nhỏ là hành vi hiện tại với tiêu chuẩn Đạo Đức, Xã hội; Lớn là hoàn cảnh sống trước đây với bây giờ như thế nào ? Tất cả đều được đem ra mổ xẻ, chiêm nghiệm để biết hướng đi của mình là đúng hay là sai.

Ngoài ra, ”Tỷ” cũng nghĩa là làm theo, bắt chước; làm theo Giới luật, bắt chước Giới luật – khi xét theo khía cạnh người Tu. Giới luật được thay bằng Lễ Nghĩa, khi xét ở khía cạnh người Đời. “Tỷ” cũng nghĩa là gần gũi; gần gũi người có Đạo Đức, gần gũi Thầy sáng bạn lành. “Tỷ” cũng nghĩa là thi đua, không phải thi đua với người mà thi đua với chính mình, lấy sự tiến bộ làm phần thưởng, lấy Đạo Đức là mục tiêu. Mình tự nhắc mình, mình tự động viên mình, mình tự đối chiếu, chiến đấu với chính mình, chiến thắng sự trì trệ của chính mình, nhằm đạt được Giới hạnh, Đạo đức.

Đây là lược nói một số ý nghĩa nổi bật ẩn chứa bên trong chữ “Tỷ” của Thánh nhân.

“Nguyên” là lúc đầu, lúc ban sơ; là bắt nguồn ở, phát sinh từ; cũng nghĩa là suy cầu cho tới nguồn gốc; cũng nghĩa là tha thứ cho, suy đến cội nguồn chân tình để có thể tha thứ được. “Nguyên phệ” là bói toán để hỏi về nguồn gốc phát sinh, để hiểu được bản chất sự việc, để có thể buông xả sự trói buộc, hòng giải thoát tâm hồn, giúp tâm hồn trở nên rỗng rang tự tại. “Vĩnh” nghĩa là lâu dài, mãi mãi. “Nguyên vĩnh” là bản thể vĩnh hằng, chữ “nguyên” ở đây nghĩa là đầu tiên, cơ bản, to lớn, đứng đầu; là “nguyên” trong “nguyên, hanh, lợi, trinh”. Nên nói “vĩnh” để nhấn mạnh tính bền vững, tính thường trụ chẳng hoại của “bản thể thanh tịnh”, của nguồn gốc Vũ trụ vạn loại; là căn bản, là gốc rễ của mọi thứ Giới hạnh, Đạo đức. “Bất” nghĩa là không; sử dụng để phủ định; “Ninh” là yên ổn, yên lặng, yên tĩnh; cũng nghĩa là thăm hỏi, vấn an; là an toàn. Cũng nghĩa là thà (thà chịu điều gì đó tổn thương, thiệt thòi chứ nhất định không chịu làm điều gì trái với mong ước, với lý tưởng, tiêu chuẩn của mình đã định hình và giữ gìn noi theo, ở đây nghĩa suy rộng ra là: thà chịu thiệt thòi tổn thương, có thể là mất mạng, chứ nhất định không làm điều trái Đạo Đức, không hủy phạm Giới luật Lễ nghĩa). “Bất ninh” nghĩa là chẳng thà.“Phương” là trái lời, không tuân theo; là nơi, chốn, khu vực; là biện pháp; là so sánh, phê bình; là ngay thẳng; là đương khi; là phương hướng. “Lai” là đến, là xảy ra; là sắp tới. “Hậu” là lúc sau, phía sau; là sau này; đời sau. “Phu” là chồng, là đàn ông; cũng nghĩa là người bình thường, chỉ con người nói chung.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: So sánh phấn đấu, đạt tới cái gốc rễ của sự bói toán, tức là đức trinh vĩnh hằng nguyên thủy, thì ắt trong mọi sự chẳng có lỗi lầm. Chẳng thà cố gắng đi đúng hướng (mà chông gai, khó khăn, chậm chạp ) còn hơn là người chịu đựng hậu quả xấu về sau.

Kinh nói: Tỷ cát, nguyên phệ, nguyên vĩnh trinh, vô cữu.

Như trên đã từng nói, Thánh nhân dụng ít lời mà tỏ nhiều nghĩa, đúng theo cách dụng văn của người xưa, “ý tại ngôn ngoại” – ý nghĩa đôi khi còn nằm ngoài cả lời nói, đòi hỏi người học xét phải cởi mở tâm hồn, tránh tự gò ép vào một khuôn mẫu sẵn có nào cả, thì mới hàm thụ được đầy đủ, mới thấy hết được ý vị của Thánh nhân, bởi việc nói trong Dịch là cho muôn người cho ngàn Đời, nếu tự định khuôn nghĩa thì chẳng khác nào lấy thau nước đòi đựng hết cả biển khơi, đâu có lý nào mà trọn vẹn thành tựu cho được.

Ở đây, “Tỷ” tuy là so sánh, là gần gũi; lại cũng nghĩa là “bắt chước” là “thi đua”, cho nên lấy từ “phấn đấu” để biểu đạt được cả hai nghĩa này, khi nào mình phấn đấu thì đồng nghĩa mình có cái mốc, có cái đích để hướng tới để nhìn vào, cũng có chỗ để đối chiếu để rèn luyện, như thế trong nó đã hàm chứa sự “so sánh”, sự “bắt chước” rồi.

Lại lấy Đạo đức, lấy Đức hạnh làm chỗ vươn tới, làm đích đến trong hành vi, thì tất nhiên, đó là cơ sở, là cội gốc của sự “bói toán” - tức là tránh “Hung”, tìm “Cát”. Đạo đức là gốc của mọi điều thiện, khi đã lấy Đạo đức làm nền tảng, làm cơ sở ra quyết định và hành động, thì tất nhiên chẳng cần phải “bói toán”, đó là chánh nhân của điều “Cát” rồi, gieo nhân thiện thì gặt quả “Cát” hỷ, ấy chẳng phải là điều mong muốn cuối cùng của người thực hiện "bói toán" hay sao ? Bởi thế, mới nói “Tỷ cát, nguyên phệ”.

“Trinh” đức, nơi người Quân tử thì không thiếu, nơi Thánh nhân thì không dư, nơi Trời Đất thì trọn vẹn đầy đủ. “Trinh” đức của người Quân tử như ngọc trong đá, vàng trong cát, cần phải gạn bỏ tạp chất, cần phải tinh luyện nung nấu trong thời gian nhất định thì tánh chất nguyên thủy nó mới lộ diện rõ ràng. Ở đây lấy cái trọn vẹn “nguyên vĩnh trinh”, so sánh với cái “Trinh” đức hiện tại đang ẩn tàng, đang mờ bụi nơi lòng người Quân tử, để khích lệ, nhắc nhở người Quân tử hãy nên cố gắng, hãy nên kiên trì nhẫn nại, “kiến tha lâu cũng đầy tổ”, “nước chảy đá mòn” v..v hễ cố công kiên trì rèn luyện thì cái tánh Đức bất biến trường tồn sáng ngời của Trời Đất “nguyên vĩnh trinh” nó sẽ phản chiếu đầy đủ nơi mình mà thôi. Hãy phấn đấu không ngừng ! Nhất định sẽ thành tựu, một khi thành tựu, một khi hiển lộ đầy đủ rồi, thì ắt là trong mọi việc đều được sự không lỗi lầm “vô cữu” đó thôi.

Kinh nói: Bất ninh phương lai, hậu phu hung.

“Bất ninh” nghĩa là chẳng thà. Khi nói từ “chẳng thà”, thì luôn hàm ý rằng phía trước có nhiều điều chông gai trắc trở, nhiều khó khăn thử thách; nhưng vì đó là phương hướng nên đi, là con đường đúng đắn nên chọn, do đó chớ vì ngại khó khăn trước mắt, mà lại lựa chọn sự dễ dàng, sự thuận lợi nhanh chóng hiện tiền; bởi “nhanh mà sai hướng” đâu có ích lợi gì, cái quan trọng là kết quả cuối cùng, chớ đâu cần phải quá bận lòng tới lộ trình trở ngại. Bởi cái gì cũng có cái giá của nó, nếu như khó khăn trở ngại thử thách ấy là cái giá phải trả, thì cứ vui vẻ mà đón nhận, sự thành tựu cuối cùng nó mang lại lợi ích chẳng nhưng cho hiện đời, mà còn mãi mãi về sau. Ấy là lý do Thánh nhân nói "bất ninh".

“Phương lai” hướng đến, chữ “lai” nghĩa là tới một nơi chưa xác định trong tương lai. Ở đây có hai nghĩa:
- Thứ nhất, nếu cố gắng vận động hướng tới một nơi nào đó, bất kể là nơi nào, nhưng xa rời Đạo đức và che mờ Trinh đức, thì nơi ấy ắt khiến người phải chịu điều xấu tệ “hậu phu hung”.
- Thứ hai, nếu biết hướng về đức Trinh, lấy “Nguyên vĩnh trinh” là đích đến, làm điểm nương tựa, làm chỗ hướng tâm, là chỗ tìm tòi khám phá, thì bất kể nơi nào hướng tới trong tương lai, cũng đều được “Tỷ cát”.

Cho nên, Thánh nhân trước nói “Cát”, sau lại nói “Hung”, dụng từ “Tỷ” thì có hàm nghĩa so sánh cân nhắc, chỉ ra rõ chỗ lợi hại hơn thiệt cho người Quân tử tự do chọn lựa, muốn người dụng hết sức trí mà lựa chọn cho đúng con đường để bước tới, bởi “Cát” hay “Hung” đều là do hướng đi của mình quyết định mà ra. Nếu hướng về Đạo đức, lấy Đạo Đức làm thước đo, làm chuẩn mực, làm cơ sở thì bất kể muốn tới đâu đều sẽ được “Cát” cả. Ngược lại, nếu chẳng nương theo Đạo Đức, chẳng trừ dẹp thói hư tật xấu, chẳng rèn luyện Đức Hạnh thế thì chẳng kể anh muốn đi đâu, kết quả đã xác định trước rồi, chỉ có là “hậu phu hung” mà thôi !


Sửa bởi HieuHcmVN: 27/06/2025 - 09:02
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 27/06/2025

Trạch Địa Tụy

萃 : 亨, 王假有廟.利見大人.
Tụy: Hanh, Vương cách (giả) hữu miếu. Lợi kiến đại nhân.
亨, 利貞.用大牲, 吉, 利有攸往.
Hanh, lợi Trinh. Dụng đại sinh, cát, lợi hữu du vãng.



Chữ“萃”- Tụy nghĩa là họp, tụ tập, tụ lại, hợp lại; nó khác với “胰” – tụy, trong “tuyến tụy” là cơ quan tiết dịch tiêu hóa hay “悴” – tụy, trong “tiều tụy” là gầy gò, xanh xao, ốm yếu.

“Vương” là Vua, người đứng đầu một vùng đất. Chữ “假”phiên âm là "cách" hoặc "giả", nghĩa là mượn hay nương tựa, nhưng vì mượn hay nương đều là tạm bợ, chẳng phải thực lực thực chất của chính mình, nó đồng loại với từ "giả tạm", vì vậy xét ra thì nên phiên âm là "giả" sẽ hay hơn. “Miếu” là miếu thờ, là nhà thờ tổ tiên của Vua. Vậy câu “Vương cách hữu miếu” ý là nương nhờ Tổ tiên phò Trợ. “Kiến” là gặp, thấy; “Đại Nhân”, như trên đã phân tích là người có tấm lòng rộng lớn, trí tuệ sáng suốt hơn người. “Lợi kiến đại nhân” là gặp người Đại Trí thì có lợi. “Sinh” là gia súc dùng cúng tế; “Dụng” là sử dụng. “Dụng đại sinh” là sử dụng gia súc lớn để cúng tế.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: Tụ tập lại, chẳng chướng ngại, Vua đứng trước miếu thờ với lòng kính ngưỡng xin sự phò trợ, muốn được sự lợi ích từ việc gặp gỡ bậc Đại trí. Chẳng có gì ngăn ngại được, lòng trong sáng sẽ được sự lợi ích. Dùng vật lớn cúng tế, có cảm giác thật hân hoan, trước khi ra đi để làm điều ích lợi.

Kinh nói: Tụy hanh, Vương cách hữu miếu.

Con người sống giữa Trời Đất, lệ thuộc vào Trời Đất, so với Trời Đất con người quả là nhỏ bé. Những gì con người có thể tạo ra được đều dựa vào tài nguyên nơi Đất, những gì con người được hưởng thụ đều nhờ dưỡng khí của Trời, thế thì việc quay về nhớ ơn, việc coi trọng kính ngưỡng Trời Đất ấy là người hiểu lẽ sống nên làm. Nếu chẳng như thế thì “Thiên tru Địa diệt” Trời Đất bất hòa, thiên tai triền miên, làm sao mà người đứng vững giữa Đời tạo dựng cơ nghiệp ngàn thu cho nổi.

Vua là người tôn quý, xưng là Thiên tử (con Trời), việc thi hành cúng lễ kính Thiên là làm gương cho trăm họ muôn dân noi theo, vị Vua biết tùy thời hành sự ấy cho phải phép thì có thể coi là Hiền Quân, lại khéo tu dưỡng Đức Tài thì trở thành Minh Quân, như thế chẳng những bản thân Vua làm tròn sứ mệnh trị vì quốc gia được thịnh vượng, mà còn khiến trăm họ cũng được ơn hưởng thọ sự ấm no thái bình. Cái việc tuy nhỏ mà thể hiện được cái gốc Đạo sâu xa, cho nên ở quẻ “Tụy”, Thánh nhân dụng từ “hanh, lợi” lặp lại 2-3 lần là ý này đây.

“Vương cách hữu miếu” là hình ảnh Vua đứng trước tông miếu Tổ tiên, bày tỏ lòng thành, trình bày ước vọng, mong Tổ tiên Trời Đất linh thiên ứng cảm phò trợ cho vạn sự được như ý, được thông lợi. Như người Quân tử, với hoài bão lớn lao trong lòng, muốn dẹp yên thói xấu tật hư, làm trong lành thân tâm, thành tựu Đức Tài mà làm lợi ích cho Đời, cho mọi người mọi loại, cũng nên dành khoảng lặng để quay về nhìn lại nguồn cội, để mà vững bước tiến lên, để mà vượt thắng những ham muốn tầm thường, làm nên những sự tốt đẹp cao cả, như thế mới chẳng phụ thâm ân của Trời Đất, của muôn sự hi sinh cho mình được ngày nay thành Người "đầy đủ".

Kinh nói: Lợi kiến đại nhân, hanh, lợi Trinh. Dụng đại sinh, cát, lợi hữu du vãng.

Thánh nhân lấy hình ảnh “nương nhờ” Trời Đất Tổ Tiên, tức là “nguồn cội” của Người, để cầu được sự tốt đẹp; làm chỗ biểu trưng cho người Quân tử quay lại “nguồn gốc” của Tánh Đức để khai mở cái Trí tuệ nơi Tiềm thức sẵn có. Nếu xoay vào bên trong mà “kiến” được “Đại nhân” tức mở mang được kho Trí tuệ nơi mình thì ắt là “lợi” ích vô cùng. Vì khai mở được Trí tuệ thì biết được con đường, rõ được cách làm dĩ nhiên sự phải “hanh” rồi. Muốn khai mở Trí Tuệ thì phải trong sáng thành thực với chính mình, cho nên để “kiến Đại Nhân” thì cần “Trinh” đức, cả hai đều hiện hữu thì tất nhiên “lợi” ích nhân đôi cũng là điều dễ hiểu.

Thánh nhân có lòng hiếu sinh như Trời Đất, cành cây ngọn cỏ con chim con thú cũng chẳng nỡ phá hại, sao lại lấy sự “dụng đại sinh” làm việc “Cát” hỷ vui thích ? Bởi “sinh” tức gia súc là giống ngu muội, lấy “sinh” tượng cho “sự ngu tối”, thì “đại sinh” tức là chỗ ngu tối nhất, chỗ tăm tối nhất; nhà Phật gọi là “vô thủy vô minh” – là nguồn gốc của sự ngu muội, là chỗ khởi đầu của sự ngu tối từ thủa ban sơ. Nay “dụng đại sinh” tức là phá bỏ ngu tối, vì ngu muội thì chẳng hiểu biết đúng đắn, dụng chỗ chẳng hiểu biết đúng đắn tức là “sơ phệ cáo” của quẻ Mông – hỏi lần đầu được biết, quay về chỗ ngu tối hỏi điều chẳng rõ ràng, từ đó phát minh ra sự hiểu biết, “cáo” cho biết được câu trả lời, tức là nghĩa của “dụng đại sinh” vậy ! Phá mê được ngộ, thì ắt là việc “Cát” hỷ nhất rồi, biết phải làm gì, biết nên làm gì rồi thì ra ngoài hành sự sao lại chẳng lợi ích cho được, do đó mà nói “dụng đại sinh, cát, lợi hữu du vãng”.

Thánh nhân thuận theo thói Đời mà hiển bày ý Đạo, chớ chẳng phải khuyến khích sự ấy hay khen ngợi sự ấy, dù cho không nói thì sự ấy ở thời xa xưa vẫn diễn ra như thường, đã nhất định phải nói tới chi bằng ta nói cho đúng như thật mà lại nhẹ nhàng đưa vào trong đó những ý nghĩa sâu sắc, khiến người tỉnh ngộ thoát mê, ấy chẳng phải là pháp phương tiện khéo léo vô cùng đó hay sao !

Sửa bởi HieuHcmVN: 27/06/2025 - 18:12
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 28/06/2025

Tập Khảm

習坎: 有孚, 維心亨, 行有尚.
Tập Khảm: Hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng.


“Tập” là hai lần; là theo điều đã học mà thực hành. “Khảm”là hố, trũng, chỗ hõm; là hiểm hóc; “Hữu phu” là có sự thành tín. “Duy” là duy trì, giữ gìn; là chỉ, chỉ có; là dây buộc; “Tâm” là tim – người xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cái gì thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm; là lòng dạ; là suy tư, mưu tính. “Thượng” là tôn sùng, coi trọng; còn nghĩa là khoe khoang, tự phụ.

Kinh nói: Tập khảm, hữu phu.

Tại sao lại là tập khảm ? Vì khảm là chỗ khó khăn, là sự hiểm hóc trên đường Đời, sự khó khăn nhân đôi khi mà lúng túng không biết phải làm sao, phải xử lý thế nào cho phải, bởi trước Khảm là “Mông” – tâm trí ngu tối, do đó mới gọi là “tập khảm” – nhân đôi sự hiểm nguy.

Trên quẻ Mông nói không biết phải hỏi lại, cái sự hỏi là quay về nội tâm, hướng về cội gốc của Tâm là Tiềm thức để hỏi cho ra nhẽ, khi được cái sáng suốt, cái lối đi rồi thì tin tưởng mà đem cái đó vô để thực hành thực hiện chứ không phải hỏi đi hỏi lại hai ba lần, thế thì “hữu phu” tức là đặt niềm tin vào điều Tiềm thức mình mách bảo.

Kinh Kālāma còn có tên gọi khác là Kesamutti sutta,nằm trong Tăng Chi Bộ Kinh, thuộc cuốn I, chương Ba Pháp ( Tikanipata) phần Đại Phẩm (Mahavagga) ghi lại lời dạy đức Phật về những điều chớ vội tin:

Này đại chúng Kālāmā,
(1) Chớ vội tin điều gì chỉ vì đó là lời truyền khẩu. Chớ vội tin điều gì chỉ vì đó là truyền thuyết.
(2) Chớ vội tin điều gì chỉ vì đó là điều truyền tụng.
(3) Chớ vội tin điều gì chỉ vì điều đó được truyền thừa trong kinh điển.
(4) Chớ vội tin qua lý luận suy diễn.
(5) Chớ vội tin chỉ vì diễn giải tương tự.
(6) Chớ vội tin qua sự đánh giá hời hợt những dữ kiện.
(7) Chớ vội tin chỉ vì phù hợp với định kiến, với kiến thức nền của mình.
(8) Chớ vội tin chỉ vì điều đó nghe như hợp lý.
(9) Chớ vội tin chỉ vì vị Sa- môn nói ra là sư phụ của mình.


Như vậy thì ở đây “hữu phu” tức là có niềm tin chẳng những vào điều nội tâm Tiềm thức cho hay, lối đi hé mở từ sâu nội tâm của mình, mà còn là tự tin vào bản thân mình, tự tin vào việc nếu con đường đó là đúng đăn, nếu lối đi ấy là chân lý thì thời ta hãy ứng dụng nó vào vấn đề đang bế tắc, ắt là thực tế sẽ cho ta lời khẳng định chính xác, mà chẳng phải bị rơi vào những điều “chớ vội tin” mà đức Phật đã cảnh tỉnh ở trên đây.

Kinh nói: Duy tâm hanh, hành hữu thượng.

Người xưa nói: “Tâm thông tắc sự thông” – tư tưởng thông suốt thì hành động tất thuận lợi; lại nói: “Dĩ tâm minh đạo, dĩ đạo ngự vật” – dùng tâm để làm sáng tỏ đường lối, dùng đường lối mà điểu khiển mọi việc; thế thì cái sự thông suốt tư tưởng trong lúc gặp cảnh “hiểm hóc” khó khăn ắt có vai trò quan trọng, nó chẳng những tăng thêm sự tự tin, còn khiến cho hành vi có mực thước tầng bậc rõ ràng, làm mà biết rõ mình làm gì, biết rõ vì điều gì mà mình làm việc đó, được vậy thì sự làm ắt “hanh”, mới cần phải “duy tâm” – giữ gìn cái tâm sáng suốt mà hành sự, thì việc mới nên và mới vượt thành được sự khó.

Tâm dù biết phải làm gì rồi, nhưng đó mới là “bản vẽ, bản đồ”, chưa phải là cái thực tế “thông suốt”, biết thì đã biết mà ứng dụng cái biết vào để chuyển hóa cái vướng ở hiện tại lại là một chuyện khác nữa, cần nhất là không được vội vàng, không được gấp gáp khinh xuất, vì đây là lối đi mới để xử lý vấn để mới mẻ với mình, cho nên rất cần “hữu thượng” – cọi trọng, không phải sự coi trọng bình thường mà có thể nói là như người dưới “tôn sùng, kính trọng” người trên vậy, coi cái sự thành bại của việc làm nó trọng tới mức phải dè dặt, phải nhún nhường chẳng được khoe khoang. Tại sao lại sinh tâm khoe khoang ? Vì việc người khác không biết phải làm sao mình lại biết làm, chỗ đang tối tăm được mình rọi vào đó ánh sáng, nghĩ mình hơn người nên sinh lòng ấy, đó là việc không tốt. Bởi tất cả mới chỉ ở mức “cho là” sẽ thành, chữ sự thì chưa đạt tới. Vậy nên, gặp lúc khó khăn, trước là phải đả thông tư tưởng, tìm ra phương cách, kiểm tra kỹ càng rồi từ từ áp dụng vào chuyển hóa thực tế, ấy mới thực là chỗ “duy tâm hanh, hành hữu thượng” mà Thánh nhân khuyên dạy. Cách tiếp cận này chẳng những đúng với việc làm, còn đúng với việc sửa mình nữa vậy. Rất cần phải lưu tâm.
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 28/06/2025

Phong Thủy Hoán

渙: 亨.王假有廟.利涉大川.利貞.
Hoán: Hanh. Vương giả hữu miếu, Lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.


Cụm từ “Vương cách hữu miếu” có nhắc tới trong quẻ Tụy, ấy là khi mọi người tập trung lại cùng Vua đối trước Tổ tiên Trời Đất mà bày tỏ lòng mình, cầu mong có được sự sáng suốt thông thái để hành sự thành công mà tránh được lỗi lầm không lường hết được. Ở đây, một lần nữa lại nhắc tới, thế thì biết rằng việc này có tầm quan trọng không hề nhỏ, vì vậy mới phải kính Thiên lễ Tổ.

Kinh nói: Hoán, hanh.

“Hoán” nghĩa là tan tác; phân tán, chia lìa; là loại bỏ. “Hoán” là việc phải làm khi thời “Cách” tới.

“Cách” thay đổi, đổi mới; muốn đổi mới thì phải loại bỏ đi những cái không còn phù hợp, tạo nên “không gian” để cho cái mới mẻ tốt tươi có cơ hội nảy sinh, có thể gieo hạt ươm mầm những nhân tốt tiến bộ nhằm hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn, sự loại bỏ ấy tức là “Hoán” vậy. Nguyên nhân phát sinh “Hoán” không giống như ở “Khuê” mâu thuẫn, hay “Tụng” tranh cãi, nó cần thiết khách quan và mang tính tích cực. Chính vì thế nó mang lại sự “hanh” thông.

Sự thay đổi của “Cách” muốn thành tựu, suy tới cùng là phải thay đổi bản thân mình, thay đổi bản thân mình tức là sửa đổi thói hư tật xấu của mình, nhưng gốc của thói hư tật xấu nằm ở tâm niệm bất thiện. Trước đây, trong quẻ Tỉnh, Thánh nhân mượn hình ảnh giếng nước dụ cho Tâm, trong Tâm thì có dòng chảy như vô tận âm thầm phía dưới gọi là dòng “ý niệm”, dòng ý niệm này có thiện ác, tốt xấu, hỷ nộ, ái ố v..v như dòng nước có trong có đục, khi mà dòng nước “suy nghĩ” bị “ô nhiễm” bởi những ý niệm xấu xa, trái với chuẩn mực, nó sẽ thôi thúc xuất sanh hành động không chính đáng, lâu ngày cứ niệm sinh thì hành động hiện, tích tụ thành thói quen, gọi là “thói hư tật xấu”. Do đó, nay cần “Hoán” bỏ những tạp niệm xấu tệ ấy đi, để chỗ cho những ý niệm tốt đẹp có khoảng không gian phát triển, lớn mạnh; mỗi ngày vun tưới cho nó thì trở thành thói lành việc tốt, như cây trái lớn mạnh chiếm giữ không gian thì cỏ dại tự động thui chột dần dần, nếu lại siêng năng cuốc xới – “Hoán” - ắt là một ngày kia, cả “khu vườn” Tâm chỉ toàn hoa thơm trái ngọt "ý thiện, lòng lành", không còn sự um tùm của cỏ “tệ niệm xấu ác” bủa vây.

Kinh nói: Vương giả hữu miếu, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.

Việc “Hoán” tuy là tích cực, nhưng chỉ tích cực khi nó được thực hiện chuẩn xác, loại bỏ đúng cái cần bỏ. Muốn vậy thì rất cần sự “tịnh tâm sáng suốt”, do đó mới có việc “Vương giả hữu miếu”, người đứng đầu là Vua phải tới trước nơi thờ Tổ tiên để lắng lòng, đón nhận sự minh mẫn cần có. Đã có trí huệ lựa chọn đúng nơi cần bỏ, đúng người cần chia li rồi thì ắt việc lớn sẽ thành, khó khăn sẽ vượt qua để mang lại kết quả tốt đẹp thôi, nhưng cũng như trước đây và mãi mãi về sau, trí huệ chỉ hiện diện trong một tấm lòng trong sáng rỗng rang, cũng như sự lợi ích chỉ nảy sinh khi việc làm được thực hiện bởi một tấm lòng trong sạch như thế. Do đó, Thánh nhân nói rằng: “lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh”. Lợi ích nhân đôi nhờ Trí sinh bởi đức “Trinh” sáng rõ.

Tâm là “Vua”, Ý là “Quan”, Thức là “lính”, toàn bộ “tâm hồn tiềm thức” là đất nước. Nay “đất nước” Tâm hồn có giặc tham lam, thù ghét, bỏn xẻn, oán hại v..v xâm nhập, “Vua” Tâm nhận biết sự nguy hại, mới chia “Quan” Ý đi các nơi dẹp trừ, loại bỏ - tức “Hoán”, “Quan” ý xem xét tình hình đánh giá lợi hại rồi quyết định phương án hành động, giao việc cho Lính “thức” phân biệt thông qua Óc, điều khiển mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tạo tác việc lành, lánh xa việc dữ, tập thành thói tốt v..v cho tới một ngày thân tốt, miệng lành, thức thiện thì khi đó Ý an, Tâm tịnh, “đất nước” tâm hồn được hưởng thái bình thịnh trị, tức là hỷ lạc an yên không còn lo ưu phiền muộn. Khi ấy thì sự “Cách” thành tựu nhờ sự “Hoán” thực hiện đủ đầy tạo nên !
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/06/2025

Lên cao vui lắm ai ơi,
Quyền Tài đủ cả hơn người thích ghê ?
Nhưng mà "Lợi" ắt hiểm "Nguy",
Ẩn tàng sau nó lụy bi cũng nhiều.
Khuyên người khôn - dại nhớ điều:
Tùy lòng biết đủ, khéo chiều thế nhân !

Bạc vàng chất núi tiêu dần,
Mang ra sẻ bớt tích âm Đức mình.
Của mình ắt thuộc về mình,
Cầu chi tới mức hủy thân làm càn.
Phước phần tích chứa giang san,
Tùy thời chiêu cảm, Tài thần xuất kho.

Nhọc chi bụng dạ âu lo,
Nhọc chi khổ lụy, lừa ta dối người.
Nhọc chi cất giữ khắp nơi.
Của người người lấy, lẽ Đời trả vay.

Ha ha, nhân thế nhọc chầy,
Bởi do chẳng rõ, chẳng hay Đạo Trời.
Dù Trời dạy tỏ khắp nơi,
Mà người đâu biết, sống thời bất an.

Được duyên, nay nói rõ ràng.
"Thăng", "Cổ" tiếp nối, rẽ ngang đôi đường !
Sửa bởi HieuHcmVN: 29/06/2025 - 08:47
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/06/2025

Địa Phong Thăng


升: 元亨, 用見大人, 勿恤, 南征, 吉.

Thăng: nguyên hanh, dụng kiến đại nhân, vật tuất, nam chinh, cát.


Kinh nói: Thăng nguyên hanh.

“Thăng” nghĩa là lên cao, lên đến. Vì sao mà phát triển “Thăng” lên được ? Vì giữ cái gốc “nguyên”- tâm hồn trong sáng như trẻ thơ mới lọt lòng - chẳng có mưu tính hơn thiệt , chỉ giữ lòng trong sạch mà nỗ lực hết mình khi gặp nghịch cảnh khó khăn, rèn Đức luyện Tài, học hỏi không ngừng, do đó mà khi Đức đủ Trí thành thì Tài năng phát huy rực rỡ, có Tài thì tất nhiên có đất dụng, nên được “Thăng” lên là lẽ đương nhiên.

Thế thì ắt là có những sự “thăng” chẳng dựa vào Đức Tài mà dựa vào mưu mô nhóm hội thế lực nâng đỡ ? Đúng vậy ! Nhưng như thế thì chẳng thể “hanh” được lâu dài, Thánh nhân dạy người Quân tử sửa mình, tuy là khó khăn vất vả, nhưng cốt để có được sự “hanh” lâu dài, chứ chẳng phải “ăn xổi ở thì” tạm bợ, mới nắm tay này mà bay ngay sang tay khác, do đó dạy cái Gốc của Quyền chức cao sang, dạy cái nền của “Cát” “Hanh” “Lợi” ích, chú trọng sự rèn luyện Đức hạnh giữ lòng trong sáng trong sạch, nhẫn chịu thiệt thòi khó nhọc, để sáng cái Trí nội tại bên trong, vì trong lòng vốn sẵn có biển trí vô biên, hễ khai thông ra thì sử dụng vô cùng, xài hoài không hết. Vì thế mà Phật Hoàng Trần Nhân Tông có dạy trong bài Cư trần lạc Đạo phú rằng: "Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch" - trong nhà có báu thôi tìm kiếm; cũng nhằm ý chỉ cho cái Trí huệ “vô sư”- không thầy, sẵn có nơi mỗi người, không do học mà được !

Vậy cái Trí này có tồn tại thật sự hay sao ? Dĩ nhiên rồi, nếu chẳng tồn tại, thì nhân loại từ khi hiện hữu trên Trời Đất, bao nhiêu phát minh phát hiện vốn chẳng sẵn có, vốn là không thể giải quyết thì do đâu mà lại có thể, chẳng phải các nhà khoa học khi dụng trí tới chỗ cùng đường thì Ý buông Tâm lặng mới phát lộ được cái mới mẻ hay sao ? Ấy là minh chứng rõ ràng nhất rồi, tự mình chẳng tin thì uổng mất cơ hội chạm đặt được của báu vô lượng, như “nồi cơm” của Thạch Sach ăn hoài không hết, thì Trí Huệ sẵn có nơi Tiềm thức mỗi người, nếu ai khai mở ra rồi, ắt là Trí Tuệ thông suốt, học một biết mười, chẳng có việc gì nơi thế gian mà lại không thông hiểu, hễ học là hiểu, hễ làm là thành thì Tiền bạc không cần khởi lòng, tự nhiên là ầm ầm kéo tới !

“Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” – một việc đã rành rẽ thì thân mình thời được hưởng an nhàn sung sướng rồi, huống chi là “bách nghệ tinh thông” – trăm việc đều rành, thì cần gì phải khởi tâm mong cầu cho thêm nặng đầu chi nữa ? Cứ rèn Đức luyện Tài, nghĩ làm điều Thiện, không ngừng cố gắng như vậy thì chẳng thiếu thốn cái gì trong kiếp người ngắn ngủi này đâu !

Kinh nói: Dụng kiến đại nhân, vật tuất.

Trước đây chỉ “kiến đại nhân” – gặp bậc cao đức, quyền hành, trí tuệ. Nay lại “dụng kiến” thì nghĩa thế nào ? “Dụng” nghĩa là sai khiến; là sử dụng, thi hành, làm. Người quân tử gặp bậc Đại nhân thì tức Quân tử ở vị trí “tiểu” rồi, nên sự sử dụng, sai khiến này nên hiểu là dựa vào cái Trí của Đại nhân mà thi hành, thực hiện, triển khai trong thực tế, là áp dụng lời hướng dẫn vào trong việc làm, dĩ nhiên không phải là sai khiến người Đại nhân đi làm thay mình rồi !

“Dụng” tức là chủ động, muốn “Thăng” lên vị trí cao, lên trình độ mới, lên hoàn cảnh tốt đẹp hơn thì phải “chủ động” mà dụng cái Trí Đại nhân sẵn có nơi mình hay lời dạy bảo từ người có Đức Tài đã thành tựu, dụng cái đó thì được lợi cho việc “Thăng” tiến trong công danh sự nghiệp, trong đường Đời nhiều lối rẽ nhiều gian truân. Tại sao phải nhận lãnh lời khuyên từ bậc có Đức ? Vì người đứng trên đỉnh vinh quang cũng có nhiều hạng loại, có kẻ do phước phần quá khứ mà gặp thời vận khôn khéo đạt được vị trí cao, tài lộc lớn nhưng Đức tánh chẳng thuần hòa, chỉ là mưu lợi thủ đoạn được chỗ tạm thời cao quý hơn người, vì thế thì chẳng nên học hỏi và ứng dụng theo người như vậy, hãy lựa người thành công mà có Đức thì nó sẽ giúp sự thành công của mình bền vững hơn ! Thực tế trong xã hội, những kẻ thành công sớm mà hậu vận cuối đời tù tội gông cùm, bệnh tật hoạn tai rất nhiều v…v cho nên, cổ đức dạy rằng: chọn bạn mà chơi, chọn Thầy mà học ! Chớ không phải bạ đâu học đó, nói gì nghe nấy, cứ để lòng tham và tâm nóng vội sai khiến hành vi thì ắt là lợi bất cập hại – không thể nào tránh khỏi nỗi gian nan về sau chưa lường hết được đâu !

“Vật” là đừng, chớ, dừng lại; là không nên. Chớ nên làm gì ? Chớ nên “tuất” – lo buồn, ưu lự, thương cảm. Vì sao lại xảy ra tình trạng này ? Vì trước “Thăng” là Tụng, ấy là việc chướng nạn, tranh cãi, do đó mà ắt sinh ưu tư lo nghĩ; một là không biết phải làm sao để hòa giải êm đẹp; hai là “thương cảm” cho chính mình vì lỡ làm điều không hay khiến bản thân rơi vào hoàn cảnh không được tốt đẹp ! Lại cũng có nghĩa là, khi mưu tính sự nghiệp, phía trước chẳng biết đường đi, phía sau áp lực hoàn cảnh ( như gia đình, vợ con, cha mẹ, nợ nần v…v) trước sau bủa vây, lòng rất khó yên vì thế mà sinh ưu tư phiền muộn. Thánh nhân thấu tỏ lòng người, nên dặn dò kỹ càng chớ nên như thế - “vật tuất”, vì sao ? Vì cái gì cũng có nhân quả của nó, muốn cái quả thì phải trồng cái nhân, quan trọng là vun trồng nhân đúng chứ ngồi lo âu thì tổn thần hại thân chứ có ích lợi gì đâu, ấy thế mới cần phải “Tu thân” – rèn luyện Đức hạnh, giữ gìn Tâm tánh, thay tính đổi nết, sửa chữa thói hư tật xấu v…v tất thảy đều chỉ dạy rõ ràng, cốt để lòng người yên lặng chẳng hoang mang trong mọi cảnh Đời biến động. Hễ Tâm yên thì Trí sáng, Đức đủ thì Tài sinh, cứ trồng nhân lành thì tới thời đúng chỗ quả trổ, người Quân tử sẽ gặt được thành công thôi mà !

Kinh nói: Nam chinh, cát.

“Nam” là phương Nam, là nơi ánh sáng rực rỡ, là mùa Hè chói chang, là tiếp sau mùa Xuân muôn hoa đâm chồi nảy lộc. Hoa kỳ thảo dị ví như Đức hạnh Tài năng, ươm mầm vun bón cả mùa Xuân rồi thì tới mua Hạ này là lúc hoa thành quả gặt, nên nói phương Nam là hướng Đức hạnh nở rộ, là hướng thành tựu trí nguyện, là thời vạn sự sẽ được “Cát” hỷ vui vẻ đẹp lòng như ý.

Hướng về Tài Đức, Trí Huệ tức là hướng Nam, sử dụng Đức Tài cùng với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ Xuân xanh, lòng khát khao cùng niềm đam mê vươn lên “Thăng” tới những nơi tốt đẹp tức là “Chinh” – là đi xa, đánh dẹp ( tức là không ngại khó khăn, không ngại đường xa, đánh dẹp tất cả, đạp bằng tất cả khó khăn chướng ngại ). Do đó Thánh nhân nói phương “Nam” là ẩn dụ cho sự màu nhiệm thuận theo lẽ Trời cũng như bốn mùa xoay qua chuyển lại. Hễ muốn đạt tới điều tốt đẹp nơi mùa Hạ, thì phải gieo xới ươm mầm chăm bón lúc Xuân sang, đó là lẽ Đời vốn thế, chẳng có lối tắt đường nhanh đạt tới thành công đâu ! Nếu có thì cũng như trên đã nói, chóng nở sớm tàn, ngàn năm vẫn thế !



Sửa bởi HieuHcmVN: 29/06/2025 - 10:42
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/06/2025

Sơn Phong Cổ


蠱: 元亨, 利涉大川.先甲三日, 後甲三日.

Cổ: Nguyên hanh, lợi thiệp đại xuyên. Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật.


“Cổ” là con vật nhỏ độc hại, là thứ làm hại người; cũng nghĩa là làm cho mê hoặc.

Các loài vật có độc trong tự nhiên như rắn, ếch, nhện, bướm v..v phần lớn có màu sắc rất nổi bật sặc sỡ vừa để hấp dẫn con mồi, vừa để cảnh báo kẻ thù. Thánh nhân lấy hình ảnh các loài ấy trong tự nhiên dễ gặp dễ biết để so sánh, với “dục lạc, danh lợi” nơi thế gian, chúng cũng có cái vẻ ngoài cuốn hút hấp dẫn tương tự, thế thì hẵn là hấp dẫn nhường nào, lại ẩn chứa độc hại nhường ấy, rất cần phải e dè cẩn trọng.

Nhờ “Thăng” lên vị trí cao mà đạt được quyền cao lợi lớn, nếu ngự trị trong tâm chỉ toàn là mưu mô thủ đoạn, thế thì lợi bất cập hại, trở thành thứ “Cổ” không tốt cho người, bất lợi cho Đời. Thánh nhân răn dạy người Quân tử tránh “hung” tìm “cát”, bằng cách gieo cái thiện, hành Đạo đức, thay vì để thói hư tật xấu nó sai khiến làm điều tà vạy, trở thành thứ "Cổ" độc hại cho nhân gian thì hãy trở thành hoa đẹp tỏa hương, làm điều lợi ích cho mình cho người.

“Thăng” tiến thì ắt đạt được Danh Lợi, Danh Lợi rất hấp dẫn, nó “mê hoặc” tâm trí con người vì giá trị mà nó mang tới lớn lao, khiến cho cái điều “bất như ý” trở nên thành “như ý”, cái khó thành dễ, cái thiếu thành thừa v..v vì thế mà người người cầu Danh, người người tranh Lợi; hại nhau thù nhau cũng từ đây mà ra; tệ ác xấu xa cũng từ đây mà hiện, thiếu sự tu dưỡng thì người đạt gặt Danh Lợi sẽ bị nó làm cho biến chất, làm cho tha hóa, làm cho phước thiện tiêu mòn, do đó mà họa tai rồi dần xuất hiện, ấy là gốc của sự “Hung” xấu; ấy là chỗ răn của Thánh nhân cho người Quân tử biết trước mà lánh tránh trừ đi. Ở trên cao thì phải khiêm liêm khiết bạch, phải ít muốn biết đủ, phải làm lợi ích cho người cho Đời, như thế thì Danh tự chánh, Lợi tự hòa, ấy là cách giữ cho Danh Lợi trường tồn mà hữu ích cho thiên hạ thế nhân.

Danh Lợi không xấu, địa vị cao sang không có lỗi, lỗi tại người có nó đạt nó chẳng biết tự chế tự dưỡng Tâm tánh cho nó phù hợp, cho nó tương xứng với chỗ cao chỗ quý, vì thiếu tu dưỡng nên ở chỗ cao mà không được lâu dài, đạt được lợi mà lợi sớm rời đi, thiếu Đức hạnh Tài năng Trí tuệ, mọi thứ đều theo đạo Dịch mà chuyển hóa thay màu, ấy là luật lệ Trời Đất xưa nay, người và vạn vật chỉ có thể tuân theo mà không tài nào chống cự cho nổi. Cho nên, phép thọ trường của vạn hữu ấy là cân bằng hài hòa chớ để nó bị quá, bị chướng ngại, ngăn trệ, thiên lệch.

Sự tiếp nối của các Quẻ có tính nhân quả, ấy là Thánh nhân khéo léo trình bày đạo lộ có thể xảy ra để người Quân tử tự lường tự cảnh giác mà tránh phạm phải sai lầm. Trước quẻ Cổ là quẻ Thăng, sau quẻ Cổ là quẻ Tỉnh. Ý chỉ “Thăng” tiến thì gặt hái được lợi danh, lợi danh là thứ “Cổ” – hấp dẫn, làm mê hoặc, có thể trở thành “vật hại người”, thế thì cần Tỉnh – sáng suốt, chánh niệm để giữ mình không bị tha hóa, bị chuyển hóa theo hướng bất thiện, tiêu cực và hướng hạ.

Kinh nói: Cổ nguyên hanh, lợi thiệp đại xuyên.

“Cổ” là chỗ mê hoặc do Danh Lợi che mờ tâm trí, nhưng xét tới cùng thì cũng nhờ nhân phước thiện đã gieo quá khứ của chính mình tạo nên, nhân xưa kia khổ học khổ hành để có Tài kiến tạo nên đời sống vật chất đầy đủ mà ngày nay vươn lên tới địa vị cao sang, nếu khéo lợi dụng cái thành quả điều kiện thuận lợi ấy mà khai mở tâm trí, thành tựu Đức Trinh thì ắt được “nguyên hanh” – là sự thông lợi của Đạo Đức đủ đầy, rất có “lợi” cho việc vượt thắng khó khăn chướng nan “thiệp đại xuyên” giữa cuộc Đời xuôi ngược bôn ba.

Kinh nói: Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật.

“Tiên” là trước, “Hậu” là sau, lấy sự “Cổ” mê hoặc ở chính giữa. Thánh nhân dụng ý khéo léo mà nhắc người Quân tử rằng: thấy cái “hấp dẫn, mê hoặc” trước mắt thì phải nghĩ tới cái “độc hại nguy hiểm” đằng sau về sau; chớ chẳng nên thấy cuốn hút rồi bị cuốn theo, để nó dẫn dụ sai khiến, thành ra phá hoại chính Đức Hạnh của bản thân mình, khiến cho mai sau phải ăn năn ân hận.

Dịch là đạo của sự biến chuyển, mô tả cái hiện thực không ngừng biến đổi theo thời gian của vạn sự vạn vật, vậy cái thành tựu ngày nay có được thì ngày mai có thể tan bay theo gió, cái sung sướng ngày nay đang thọ hưởng có thể là tiền đề cho cái hung họa ngày sau mình đón nhận. Người xưa lấy từ “nhật” để tượng cho thời gian trôi chảy không ngừng, chữ “tam” để chỉ cho cơ hội, giới hạn thử nghiệm, như “quá tam ba bận” – thử tới ba lần chẳng được thì nên xem xét lại. “Giáp” là một can đứng đầu trong Thiên Can, biểu trưng cho cơ hội Trời cho, Trời cho cơ hội để mình làm nên sự nghiệp mà thành Danh được Lợi, thế thì trước khi thành tựu đã rèn luyện Đức hạnh thế nào thì sau khi thành tựu cũng phải rèn dũa Đức hạnh như thế ấy, trước sau như một cũng là nghĩa An Trinh của quẻ Khôn.

Đối mặt với hấp dẫn cuốn hút của Tài, Sắc, Danh, Thực, Dục lạc v…v những thứ hấp dẫn của Danh Lợi đưa tới, muốn được bền lâu An hưởng thì phải dụng cái Đạo Đức, rèn cái Đức Hạnh và nhất là phải duy trì nó ngày này qua ngày khác, trước cũng như sau, giữa chốn đông người cũng như khi ở một mình, nhất nhất đều giữ gìn cẩn trọng như thủa ban đầu phát tâm: lấy Đạo Đức làm nền tảng, lấy Giới Hạnh Lễ Nghĩa làm chuẩn mực hành vi. Như thế thì dù cho có vào thời “Cổ” cũng vẫn cứ được “nguyên hanh” chẳng gì khiến cho mình suy vi bại nhược được nữa.

Người xưa nói: “Tranh danh đoạt lợi, tất hữu kỳ ương” – tranh giành danh lợi ắt gặp họa tai. “Lợi lộc thân tâm, cốt nhục tương tàn” – lòng tham ham lợi, tới người thân ruột thịt cũng tàn hại nhau. “Sắc thị khoái đao, lợi thị nan nhẫn” – sắc đẹp như dao bén, lợi lộc thật khó cưỡng. “Tham sắc tham lợi, gia phá nhân vong” – háo sắc tham lợi, nhà tan người nát v..v rất nhiều điều răn dạy về sự nguy hại của Danh Lợi, trải ngàn năm rồi giá trị vẫn chẳng hề suy giảm, dù thời thế có thay đổi xoay vần, song lòng người muôn thủa vẫn học bài học Danh Lợi chưa qua được tốt nghiệp, học chưa xong thì tái sinh học nữa, học mãi, học cho tới ngày thành tựu "tốt nghiệp" vượt thắng được thì thôi.
Sửa bởi HieuHcmVN: 29/06/2025 - 16:24
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/06/2025

Đôi khi sung sướng Quyền cao,
Kẻ trong Danh Lợi hóa người bất nhân.
Thờ ờ hờ hững muôn phần,
Mặc cho thiên hạ đau sầu, khổ than.
Người sầu trăm mối lo toan,
Thân ta cứ hưởng, lòng vui phận mình.
Tâm kia nhỏ hẹp, chẳng "minh",
Trời đâu cho để vui mừng được lâu.
Quyền tan, chức hết lẹ mau
Nay đây mai đó mưu cầu dọc ngang.
Thánh nhân xét kỹ rõ ràng:
"Bác" thời rơi mất, "Lữ" thời bôn ba.


Sửa bởi HieuHcmVN: 30/06/2025 - 12:08
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/06/2025

Sơn Địa Bác


剝: 不利有攸往.

Bác: Bất lợi hữu du vãng.


“Bác” là bóc vỏ, lột vỏ; là rớt mất, rơi, rụng; cũng nghĩa là để lộ ra.

Lớp “vỏ” bảo vệ người Quân tử là gì ? Đó là Đạo Đức, nay cái “lớp” bảo vệ ấy bị rớt mất, bị rơi rụng đi, thì tức là buông rời Đạo Đức, từ bỏ con đường hướng thiện hướng thượng, đã từ bỏ lộ trình rèn luyện tu sửa, để cho “thói hư tật xấu” tự do bộc phát, tự do thâm nhập, tự do lớn mạnh sai khiến Thân Tâm chạy ra ngoài tìm cầu đủ thứ Danh Lợi, khoái lạc v..v thế thì dĩ nhiên, càng chạy đôn chạy đáo, càng tiếp xúc cọ sát bao nhiêu, càng bị lôi cuốn vào vòng xoáy thị phi bấy nhiêu, cứ như thế mà “hữu du vãng” thì tất phải chịu sự “bất lợi” không thể nào tránh được.


Hỏa Sơn Lữ


旅: 小亨. 旅貞, 吉.

Lữ: tiểu hanh, Lữ trinh, cát.


“Lữ” là lang thang; du lịch; là ở trọ, ở tạm; cũng nghĩa là sống ở nơi xa, đi xa.

Nếu ở nơi hiện tại mà đang phát triển tốt đẹp thì theo lẽ tự nhiên không ai muốn phải bôn ba nơi xứ xa, “lữ” không giống “du vãng” mặc dù đều là đi ra ngoài khỏi nơi mình đang yên ổn. “Du vãng” là đi ra ngoài học hỏi rèn luyện, sau đó trở lại tiếp tục việc hiện tại với một sự hiểu biết và kinh nghiệm mới, còn “lữ” là thay đổi nơi chốn, tới nơi mà mình không muốn an trụ nhưng vẫn phải an trụ vì ngoại cảnh bắt buộc, đây là “tha hương cầu thực”. Do đó, tâm trạng có phần nặng nề, kém phấn trấn hơn “du vãng” nhiều. Chính vì ra đi với một tâm thế bị động, mặc dù nơi đến có thể là chủ động lựa chọn, xong việc cất bước đi đã bị động rồi ắt là ảnh hưởng tới việc định làm, đây không phải do bất tài thiếu trí, mà là do “tủi phận” “than thân” tạo ra. Vì vậy “lữ, tiểu hanh” mà chẳng được “hanh”, chữ “tiểu” này tức là tâm nặng nề không vui đó vậy !

Tuy thế, bởi lẽ Dịch nhiệm mầu, lạ rồi thành quen, khó rồi thành dễ, hễ mà kiên trì giữ lòng “trong sạch, thành tín, sáng suốt” – Trinh ấy, bất kể là “lữ” tới đâu, cũng sẽ đều “Cát” hỷ vui vẻ may mắn thôi. Bởi Đức – Tài đủ đầy cùng Tâm sáng tròn trong trẻo, dĩ nhiên mọi khó khăn chỉ là thử thách nhất thời, chỉ giúp cho Đức hạnh Trí tuệ ngày càng trọn vẹn viên mãn như trăng rằm 16, soi sáng đêm tối bớt cô đơn, của người lữ hành tạm xa rời chốn thân thương nhiều điều lưu luyến.
Trích dẫn


3 4 5 6 7 |»|