←  Kinh Dịch - Bốc Dịch - Lục Hào

Tử Vi Lý Số :: Diễn đàn học thuật của người Việt

»

KINH DỊCH có gì hay ?



1 2 3 4 5 |»|

VNhieu's Photo VNhieu 28/05/2025

Thiên Thủy Tụng


訟 . 有 孚 , 窒, 惕 .

Tụng: Hữu phu, trất, dịch.

中 吉 . 終 凶

Trung cát, chung hung

利 見 大 人 . 不 利 涉 大 川.

Lợi kiến đại nhân, bất lợi thiệp đại xuyên.


Trên nói “Minh di” – là sự thật, chân lý đã bị che mờ ẩn khuất, thế thì cùng một vấn đề ắt có nhiều cách hiểu khác nhau, năm người mười ý, ai cũng cho mình là chân chánh. Trang Tử nói : “Thiên hạ chi đạo, bất quá thị phi nhị tự” – Mọi nẻo đi trong thiên hạ, cuối cùng lại xoay quanh hai chữ Phải – Trái. Ai cũng cho mình là đúng, thì những kẻ trái với ý mình sẽ bị mặc định là sai, sai đúng bất hòa tất nhiên phải xảy ra cái sự tranh cãi.

Kinh nói: Tụng, hữu phu, trất, dịch.

“Tụng” nghĩa là tranh cãi, là kiện cáo, là sự trách móc lẫn nhau. Khi thời “Tụng” xảy ra, nếu cả hai bên chỉ biết cố chấp giữ vững cái mình cho là đúng, mà không nhìn vào cái cơ sở mà nhân đó mình bảo lưu cái quan điểm của mình thì ắt là sự tranh cãi này sẽ diễn tới “dụng binh”, “ẩu đả” bằng binh khí “miệng, lưỡi” trước tiên, sau đó vẫn không thể khuất phục lẫn nhau thì một là chia năm xẻ bảy mà tan rã rời xa nhau, hai là “lưỡng bại câu thương” – sự thật bị trôn vùi và hai bên đều cùng chịu tổn thương, tổn thất. Do đó, Thánh nhân khuyên răn: “hữu phu” – cần có sự thành tín, nói lên sự thật và tin tưởng lẫn nhau, cùng hướng về sự thật để mà phát lộ ra Chân lý – cũng tức là “Minh” bất “di” đó vậy.

“Trất” là tắc nghẽn không thông, như người bị bịt mồm bịt mũi; “Dịch” nghĩa là cảnh giác, thận trọng, phải thấy cái việc tắc nghẽn không thông này rất đáng sợ, có thể “chết người” đấy ! Vì thế khi có sự “tụng” xảy ra, cần bình tĩnh tháo gỡ, để cho “dễ thở”, mới mong có ngày vạn sự được hanh thông.

Kinh nói: Trung cát, chung hung.

“Cát”, “Hung” là hai lãnh vực mô tả kết quả như ý và bất như ý, sự “cát” thì khiến cho vui vẻ, sự “hung” thì khiến cho sợ hãi lo âu. Bên “vui” bên “buồn”, cũng nằm trong tứ trạng “hỷ”, “nộ”, “ái”, “ố” (mừng, giận, buồn, vui) mà tâm con người thường hay gặp phải. Thật ra thì nó cũng rất bình thường như bốn mùa luân qua chuyển lại, song phàm nhân có ai chấp nhận được sự thật ấy đâu, cho nên hết thảy mong cầu đều chỉ muốn được “như ý” và khi đạt được cái đó rồi lại muốn nó mãi mãi không đổi thay, giả như có đổi thay thì “bắt” nó lại phải thay đổi theo ý mình mới chịu. Chả khác nào bắt cảnh mùa Xuân phải như mùa Thu, cảnh mùa Đông phải như mùa Hạ, cứ thích mùa nào thì ép ba mùa kia phải giống y hệt với nó, nhưng mà quên mất, măng cụt Bến Tre thì mùa Đông mới có, sầu riêng Khánh Hòa thì mùa Hạ mới sinh, cam ngọt Hòa Bình Xuân kia mới tới, hồng ngâm Lạng Sơn Thu tới mới tìm. Thế giờ mà lỡ ghét khí hậu, lại thích trái cây thì phải làm sao đây ? Ô hay ! “Thiên bất tòng nhân nguyện” – Trời sao chiều hết được ý người, bởi người cũng chỉ là một giống loài thuộc thiên loài vạn loại trong Vũ trụ bao la, Địa cầu bé nhỏ mà thôi, có cũng được, mà không có thì chim thú có khi lại còn “hoan nghênh”. Cho nên Đức Thánh Chúa Jesus ra đời sẵn sàng chịu cảnh đóng đinh lên thập tự giá, lời Ngài nói giây phút chia tay ấy, sau này được truyền lại gọi là “Thất ngôn thập tự”, trong đó có câu rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.” Hẳn là con người chẳng phải có nhiều sai lầm lắm hay sao, vì thế “xưng tội” ở ngôi Chúa và “sám hối” ở nhà Phật mới trở thành việc thường nhật.

“Trung” là khoảng giữa, “Chung” là kết thúc. Từ khi bắt đầu sự tranh “Tụng”, cho tới lúc kết thúc thì chỉ có khoảng giữa là Cát hỷ, tại sao vậy ? Vì cố gắng tranh cãi tới cùng thì chỉ là sự thật chưa sáng tỏ, chứ sự thật mà sáng tỏ rồi thì sự tranh cãi cũng mất luôn, đâu còn chữ “chung” để mà nói nữa. Vậy thì “Trung” sở dĩ cát hỷ là vì đã hành theo cái “hữu phu” mà Thánh nhân dạy răn, do đó ôn hòa nhã nhẵn, thuận lẽ trung dung, mỗi người đều tự mình “cách vật trí tri”, cho nên sự thật nó phơi bày sáng tỏ. Nay nói khoảng giữa, tức là một bên là Phải, một bên là Trái, khoảng giữa tức là sự thật vậy. Như mặt trời lên thì sáng, cái sự ấy có ai nói là phải hay là trái nữa đâu ? cho nên chữ “Trung” này mới Cát Hỷ là ý chỉ cho sự thật đã được làm rõ ràng cho ra lẽ rồi đó thôi.

Kinh nói: Lợi kiến đại nhân, bất lợi thiệp đại xuyên.

Sự thật sáng tỏ thì được “lợi” ích cả đôi bên, sự thật mà che mờ thì đôi bên đều “bất lợi”. Bất lợi rồi thì làm sao mà “thiệp xuyên” – vượt qua dòng đời cho nổi, vấn đề vướng mắc nó che mờ nhân trí thì khó khăn chướng ngại nó cứ lởn vởn bao quanh, như con chuột chạy trên cái vòng tròn trong lồng kín, cứ chạy mãi chạy mãi, cho tới khi kiệt sức mà ngã xuống, ấy tức là hết đời. Ôi thôi ! Vậy thì chỉ có cách kiếm cho ra cái người “cao minh đại trí”, dụng cái lời định hướng như ngón tay chỉ trăng, cả hai tin nhau rồi cũng theo hướng tay kia mà chỉ, thì mặt trăng sự thật nó tỏ rõ trên cao, đêm đen “vô minh” huyền ảo sẽ không còn trói giữ đôi chân của bậc chánh nhân Quân tử trên con đường tự lợi, lợi tha. Vì thế, “kiến” tức gặp được bậc xuất cách cao minh - “đại nhân” - khi tranh cãi xảy ra, chẳng khác nào dân đen thấp cổ bé họng bị cường hào ác bá hãm hại lại được diện kiến Bao Chửng phủ doãn phủ Khai Phong (Bao Hắc Tử) – thiết diện vô tư rõ ngay gian, xiết bao oan khuất nó tan đi, nhật nguyệt tinh tú liền lấp lánh.

Sửa bởi HieuHcmVN: 28/05/2025 - 13:54
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 28/05/2025

Một, hai, ba, bốn, năm huynh đệ;


Chục, trăm, nghìn, vạn người anh em.



Huynh đệ gặp nhau, uống ba bát rượu;


Huynh đệ luận đạo, cạn hai chén trà.


Huynh đệ trên chiến trường như bầy sói,


Huynh đệ kéo xe, sức sánh ngang tám ngựa.



Huynh đệ gặp nhau, uống ba bát rượu;


Huynh đệ luận đạo, cạn hai chén trà.


Huynh đệ có duyên gặp mặt, bốn biển đều là nhà.


Huynh đệ kết giao bằng cả tấm lòng.


Huynh đệ nghĩ đến nhau, như qua ba giấc mộng.


Huynh đệ cùng nhớ về ngày xưa.



Huynh đệ đời này hai thứ họ,


Huynh đệ kiếp sau cùng mẹ sinh ra.


Huynh đệ hộ quốc, ba quân hùng mạnh.


Huynh đệ an dân, vạn đời đều khen.


Huynh đệ trên chiến trường như bầy sói.


Huynh đệ kéo xe, sức sánh ngang tám ngựa.


Huynh đệ thủy chiến, vạn chiếc thuyền.


Huynh đệ thi đua, trăm kèn cổ vũ.


Huynh đệ sinh ly, ai nấy hai hàng lệ;


Huynh đệ tử biệt, vẫn như hoa cùng một cành.



Tình nghĩa huynh đệ, như ngàn vạn ánh sao lấp lánh giữa Trời đêm;


Tình nghĩa huynh đệ, như vô hạn quầng sáng nơi hồng trần.


Tình nghĩa huynh đệ, không có màu rượu nào sánh được;


Tình nghĩa huynh đệ là không ngăn được bởi bốn bức tường nhà.




Thánh nhân đã có dạy răn,


Hết thảy nhân loại là con một nhà.


Huynh, đệ, tỷ, muội gần xa;


Vâng theo lời dạy, để mà thương nhau.


Tiếp sau sẽ nói đôi câu:


"Đồng Nhân", "Sư" ấy là lâu, vững bền !

Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/05/2025

Thiên Hỏa Đồng Nhân


同人于野, 亨.利涉大川.利君子貞.

Đồng nhân vu dã, hanh. Lợi thiệp đại xuyên. Lợi quân tử trinh.


Người với người tụ tập lại, hội họp lại với nhau, hòa thuận vui vẻ, tương trợ giúp đỡ gọi là “đồng nhân”.

Kinh nói: Đồng nhân vu dã, hanh.

“Đồng” nghĩa là đoàn kết, chung lòng, là hòa hợp. “Nhân” nghĩa là con người. “Vu dã” nghĩa là đi ra cánh đồng. Cánh đồng (dã) là nơi cấy cày sản xuất, là bãi lúa nương dâu, vừa bằng phẳng dễ đi, còn mang đến nguồn sống cho nhân loại. Con người nhờ ăn mà sống, cánh đồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mùa màng bội thu thì con người no ấm yên vui hạnh phúc. Nhưng làm đồng làm nương rẫy, một nắng hai sương, tới thời tới vụ gieo trồng gặt hái nếu chỉ đơn độc thì khó bề thành tựu như ý, còn được bà con láng giềng mỗi người một tay một chân thì lại nhanh chóng vẹn toàn, nên “đồng nhân vu dã” là tượng cho sự đoàn kết nhất chí, cùng nhau tương trợ để thành tựu cho nhau. Người xưa nói: “nhất gia hữu nạn, bát phương chi viện” – một nhà gặp khó khăn thì khắp nơi tới giúp đỡ, “điền phu hạ sừ chí, tương kiến ngữ y y” – nông dân vác cuốc ra ngoài, gặp nhau nói chuyện thân tình liên liên; đều nhằm nhắc nhở thế nhân phải nên tương trợ và hòa thuận với nhau thì sẽ được sự lợi ích lớn lao.

Cánh đồng là nguồn sống của con người, Tinh thần đoàn kết là nguồn sức mạnh của một tập thể, là "chất keo" gắn kết duy trì sự tồn tại của một tập thể. Chủ tịch H.C.M từng nói: Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công; nay đồng tâm nhất chí thì vạn sự “hanh” thông, ấy là thuận theo lẽ tự nhiên đó thôi.

Kinh nói: Lợi thiệp đại xuyên, lợi quân tử trinh.

Khi nhân loại đoàn kết chung lòng thì sự “lợi” ích là vô cùng lớn lao, nó giúp vượt qua bất kể gian nguy khó khăn thử thách nào trong kiếp nhân sinh. Người Quân tử gặp thời loạn thế, cũng phải hội tụ nhân tâm mới thành nên đại nghiệp, gặp thời thịnh thế cũng phải chinh phục nhân tâm mới thành tưu sự nghiệp, do đó, hễ nhân tâm đồng hướng về điều thiện lành thì rất là “lợi” ích cho sự thành tựu đức Trinh của người Quân tử và ngược lại.
Sửa bởi HieuHcmVN: 29/05/2025 - 02:50
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/05/2025

Địa Thủy Sư


師: 貞 , 丈 人 吉 , 无 咎 .

Sư: Trinh, trượng nhân cát, vô cữu.


Trên nói “Đồng nhân” là người cùng người hội họp lại với tinh thần đoàn kết tương trợ để chung tay thực hiện một việc gì. Ở đây thì mô tả những người tụ họp ấy như là một khối thống nhất mạnh mẽ, có sự kỷ luật và gắn kết chắc chắn, giống như một đội quân tức “Sư”.

Kinh nói: Sư, trinh.

Đoàn kết lại mà làm việc trái: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì sự đoàn kết ấy lại trở thành tai họa, chẳng những hủy hoại loài người, còn hủy hoại vạn vật và thế giới; ấy là lý do có những Triều đại sụp đổ rất nhanh chóng chỉ vì mất đi tính Chánh nghĩa, mất đi lòng dân – tức là mất đi đức hiếu sinh của Trời Đất; thế nên Trời mới khiến cho tồn tại chẳng lâu dài mà bị diệt vong. Thánh nhân tỏ rõ ý này, đặc biệt lưu ý khi tụ hợp lại thành một khối phải lấy đức Trinh làm kim chỉ Nam dẫn đường trong suy nghĩ và hành động; lấy sự trong sáng của tâm hồn bác ái vị tha và sự thành tín chân thật của người chánh nhân Quân tử để mà mưu sự và hành sự. Lấy đức Trinh làm gốc, làm cương lãnh, làm kỷ luật chung để mà gắn kết nhau khi hội họp, để mà dẫn lối nhau khi tranh biện, để mà giúp nhau cùng hoàn thiện bản thân mỗi người, như thế thì sự tụ họp ấy mới được gọi là “Sư, trinh”.

Kinh nói: Trượng nhân cát, vô cữu.

Đã lấy đức Trinh làm gốc để lập thân, lập gia, lập quốc và cai trị thiên hạ thì thiên hạ, quốc gia, dân tộc và bản thân tất được sự lợi ích, ắt tránh khỏi lỗi lầm, cho nên nói “vô cữu”. Nhưng thuyền không thể thiếu lái, nước một ngày không thể không có Vua, tập thể có tổ chức thì không thể thiếu người đứng đầu lãnh đạo để thống nhất ý nguyện của một tập thể và đưa ra quyết định cuối cùng trong mọi hoạt động chung. Chính vì vậy mà Thánh nhân đặc biệt lưu ý khi lựa chọn người thủ lãnh của một tập thể, muốn được “Cát” hỷ đại lợi, thỏa mãn được ý nguyện của đa số mọi người (vì thường rất khó có thể chiều lòng được tất cả, bởi luôn luôn trong một nhóm hội, một tổ chức sẽ có ít nhất vài cá thể có ý nguyện riêng đi ngược với số đông, khi ấy vai trò phủ quyết, xoa dịu, điều hòa những cá nhân ấy được trao cho người Thủ lĩnh, dựa trên Trinh đức làm cương lãnh) thì người đó phải là bậc “Trượng nhân”.

Vậy một người như thế nào được coi là “trượng nhân” ? Người xưa nói: “Trượng nhân như tùng, lịch sương tuyết nhi bất điêu; trượng nhân như kính, chiếu thị phi nhi bất thiên” – Trượng nhân như cây tùng, trải qua sương tuyết chẳng khô héo; trượng nhân như tấm gương, soi rõ phải trái trắng đen công bình không thiên lệch.
Người gọi là “trượng nhân” phải có sự khảng khái hiên ngang ngay thẳng, lại có khả năng chịu đựng sương tuyết, trải qua khó khăn mà lòng không siêu vẹo, ý chí không lung lay, kiên cường bền bỉ như cây tùng vậy. Tùng là giống cây gỗ có tuổi thọ lâu năm, có thể sống tới vài trăm năm, thân thẳng đẹp dáng vững trãi hiên ngang sừng sững, tồn tại được trong môi trường khắc nghiệt, cho nên lấy đó làm tượng biểu đạt phẩm chất của “trượng nhân”. Người thủ lĩnh trước đây trong các buôn làng thường gọi là già làng – ý chỉ người sống lâu năm nên có nhiều kinh nghiệm, biết nhiều kiến thức để dẫn dắt được mọi người trong tộc duy trì và phát triển đúng hướng.

Khi xảy ra mâu thuẫn tranh chấp giữa các cá nhân trong tổ chức, người “trượng nhân” phải làm gương được cho các cá nhân đó, có khả năng phân định đúng sai dựa trên những cơ sở vững chắc khách quan, không thiên lệch theo cảm tính, giúp các cá nhân đó nhìn nhận ra thiếu khuyết để mà tự mình uốn nắn sửa chữa, để ngày càng tiệm cận với Trinh đức của Thánh hiền. Bác Hồ là một người có phẩm chất của một “trượng nhân” như thế:


Ngày 20/01/1948, Bác Hồ ký sắc lệnh phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội.

Trong số các đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng, Nguyễn Sơn là người văn võ song toàn, cùng với Lê Thiết Hùng là hai người đã từng làm việc với Bác Hồ trong thời kỳ Người hoạt động ở Trung Quốc. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Nguyễn Sơn là sĩ quan người nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng làm Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34 thuộc Quân đoàn 12 Hồng quân Trung Quốc. Ông cũng là người Việt Nam duy nhất đã đi hết cuộc Vạn lý Trường chinh của Hồng quân. Sau này, năm 1955, ông được Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng, và từ đó được mệnh danh là “Lưỡng quốc tướng quân”

Chủ tịch H.C.M ký Sắc lệnh 111/SL phong hàm thiếu tướng từ ngày 1-1-1948 cho Nguyễn Sơn, khi ấy là Tư lệnh Liên khu IV, nhưng ông trì hoãn không nhận vì cho rằng Bác Hồ chưa đánh giá hết năng lực của mình. Có giai thoại còn kể rằng, ông không nhận thụ phong vì cho rằng mình đã là “thừa tướng” rồi, không cần đến cấp “thiếu tướng”.

Nghe báo cáo về việc này, Bác Hồ lấy một tấm thiệp, viết mấy dòng chữ Hán gửi tướng Nguyễn Sơn: “Tặng Sơn đệ: Đảm dục đại/Tâm dục tế/Trí dục viên/Hạnh dục phương”. Đại ý: Ý chí cần quả quyết; lòng dạ cần tinh tế; kiến thức cần trọn vẹn; đạo đức cần đầy đủ. Ngoài phong bì thư, Bác ghi: “Thân gửi Sơn đệ - Ký tên: Người anh họ Nguyễn”.

Khi nhận được thư Bác, Nguyễn Sơn đã phải giật mình thốt lên: “Ông cụ khiếp thật!” và vui vẻ nhận lễ thụ phong. < Câu chuyện về Bác, trích dẫn từ báo điện tử: baothanhhoa.vn, xuất bản ngày 29/03/2023>
Sửa bởi HieuHcmVN: 29/05/2025 - 11:10
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/05/2025

Quy tụ lại với nhau để cùng làm việc gì hay làm sáng tỏ vấn đề gì thì sự quy tụ ấy mới hữu ích, mới không uống phí thời giờ vô ích. Người ta nói, thời gian là vàng bạc vì nó hữu hạn, cho nên khi được làm người rồi, chúng ta phải sử dụng cái nguồn lực hữu hạn này sao cho hữu ích nhất có thể mới nên. Đời người thì không thể biết hết mọi chuyện, không thể làm hết mọi việc và tất nhiên:

- Có những sự việc, những sự nghiệp, những hoài bão dành cả đời người cũng chưa hoàn thành, chưa toại nguyện, ví như mong ước giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức cảnh nô lệ và thống nhất nước nhà của Bác Hồ chẳng hạn.

- Cũng có những việc, dễ dàng hoàn thành nhưng đôi khi lại trở thành hiếm hoi, như khi bố mẹ và con cái trưởng thành làm ăn xa quê, được ăn với nhau một bữa cơm ngon lành vui vẻ thấm đẫm tình thân thương.

- Lại có những việc, tưởng như dễ dàng là lớn lên và sống lâu năm nhất có thể thì lại trở thành bất định vì ngó ra ngoài nghĩa trang kia, có bao nấm mồ tuổi đời mới chớm nở.

Ôi nhân thế ! Trăm năm lạc bước rồi thôi, chi bằng tỏ rõ Đạo rồi hẵng đi, ít ra xuống cõi âm ty, còn mang ra để thầm thì Diêm Vương. Nay xét tiếp hai quẻ "Vị tế" và "Ký tế" để luận rõ chỗ dang dở và chỗ thành tựu của nhân sự thế gian.


Sửa bởi HieuHcmVN: 29/05/2025 - 14:22
Trích dẫn

JavaC's Photo JavaC 29/05/2025

Thiên Hỏa Đồng Nhân

同人于野, 亨.利涉大川.利君子貞.

Đồng nhân vu dã, hanh. Lợi thiệp đại xuyên. Lợi quân tử trinh.


Đồng Nhân:
Thượng Càn(trời), hạ Ly(mặt trời), hàm ý nếu muốn làm việc, cộng tác với người thì mọi chuyện cần bàn luận với nhau mình bạch rõ ràng tự như mặt trời tảo ánh sáng dưới trời[không bị che khuất, dấm diếm gì cả], tất cả suy nghĩ, ý kiến của mình cần được nói ra
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/05/2025

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

JavaC, on 29/05/2025 - 21:32, said:

Thiên Hỏa Đồng Nhân

同人于野, 亨.利涉大川.利君子貞.

Đồng nhân vu dã, hanh. Lợi thiệp đại xuyên. Lợi quân tử trinh.


Đồng Nhân:
Thượng Càn(trời), hạ Ly(mặt trời), hàm ý nếu muốn làm việc, cộng tác với người thì mọi chuyện cần bàn luận với nhau mình bạch rõ ràng tự như mặt trời tảo ánh sáng dưới trời[không bị che khuất, dấm diếm gì cả], tất cả suy nghĩ, ý kiến của mình cần được nói ra

Hay đấy bác, bác lãm rõ hết những quẻ em luận trên đi, như thế thì mọi người đều được lợi ích.

Trích dẫn

JavaC's Photo JavaC 29/05/2025

Phong Thiên Tiểu Súc


小 畜 . 亨 . 密 雲 不 雨 . 自 我 西 郊 .

Tiểu súc: Hanh. Mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao.



Phong thiên tiểu súc
Quẻ này có nhiều lời khuyên của thánh cho cuộc sống: ví dụ
1- Hạ càn(cái đầu, ý nghĩ), thượng tốn(lời nói), tiểu súc ngăn lại hàm ý đừng nói hết những suy nghĩ của mình
2- Tiểu Súc, thượng tốn(khó khăn, trở ngại,...), hạ càn(quân tử) hàm ý quân tử đang mắc kẹt, thì cần phải trau dồi kiến thức, kinh tế,... để vượt qua được trở ngại
X: Còn nữa(nhưng do quẻ tiểu súc, nên không thể nói hết suy nghĩ)
Sửa bởi JavaC: 29/05/2025 - 23:08
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Hỏa Thủy Vị Tế


未濟: 亨.小狐汔濟, 濡其尾, 无攸利.

Vị tế: Hanh. Tiểu hồ ngật tế, nhu kì vĩ, vô du lợi.


“Tế” tức là tế độ (cứu giúp), là xong (hoàn thành), cũng có nghĩa là qua sông. “Vị” nghĩa là chưa. Việc gì chưa xong, sự cứu giúp chưa xuất hiện, một dòng sông chưa vượt qua ấy đều là thời của “Vị tế”.

Kinh nói: Vị tế, hanh.

“Vị tế” nghĩa là chưa xong, chưa thành, là việc đang làm hãy còn dang dở. Đã chưa thành ắt phải còn chướng ngại, hà cớ gì Thánh nhân lại nói là “hanh” thông ? Vì việc ấy vẫn đang cố gắng để hoàn thành nên “hanh”; vì việc ấy đã rõ ràng đích đến, mục tiêu cụ thể có thể đo lường được nên “hanh”; vì cách thức thực hiện đã tỏ, hướng đi đã định nên “hanh”; Vậy điều gì khiến cho việc đang làm chưa thành tựu được ? Do không đúng thời điểm nên con đường đã chọn bỗng xuất hiện chướng ngại và chông gai; cái chướng ngại ấy sẽ không hiện hữu nếu chọn làm việc đó vào thời điểm khác, khi điều kiện đầy đủ hơn.

Giống như cây cầu nâng bắc qua sông lớn, nơi có tàu bè qua lại tấp nập, vào lúc bình thường thì xe qua người lại đều không có vấn đề gì cả, bỗng đâu lúc ấy có tàu lớn, chiều cao quá khổ đi tới, khiến cho cầu nâng phải tách nhịp làm hai, để trống khoảng giữa cho tàu ấy vượt qua, vì vậy mà xe cộ hai bên cầu phải dừng lại chờ đợi, sự chờ đợi ấy chính là lý do khiến sự việc qua cầu chưa thể hoàn thành, đó là “chướng ngại” thứ nhất.

Như tàu đi biển muốn vào bờ giữa đêm đen, tầm nhìn hạn chế, giả như thiếu ánh sáng hải đăng thì không biết lối biết phương mà tiến mà đi, ấy là do cảnh đêm nên sinh ra chướng ngại như vậy mà cần có hải đăng tương trợ, chứ nếu là ban ngày thì mọi việc vẫn diễn ra tốt đẹp, không cần sự trợ giúp của hải đăng, đó là “chướng ngại” thứ hai.

Cả hai thứ gọi là “chướng ngại” này nếu kiên nhẫn chờ đợi và nhận định sáng suốt, ắt thì tức thời việc đạt sự thành một cách dễ dàng, cho nên tuy chưa thành tựu, xong chướng ngại chẳng phải cứ cưỡng cầu cố gắng làm liền mà được, chỉ có thể chú ý căn chỉnh cho phù hợp với các điều kiện cần đủ để thực hiện mà thôi, do đó dù việc chưa thành, Thánh nhân vẫn nói là “hanh” thông.

Kinh nói: Tiểu hồ ngật tế, nhu kì vĩ, vô du lợi.

“Tiều hồ” là chú cáo nhỏ, “ngật” có nghĩa là chỗ nước cạn, cũng có nghĩa là gần tới; “tế” nghĩa là qua sông. “Nhu” nghĩa là thấm ướt, “kì vĩ” là cái đuôi của nó. “Vô” nghìa là chẳng có; “du” nghĩa là nơi, là chốn, cũng là dáng nước chảy êm đềm; “lợi” nghĩa là có ích cho cái gì, việc gì.

Toàn câu Kinh trên nghĩa là: chú cáo nhỏ lội qua khúc sông cạn, khi gần tới nơi thì bỗng đâu cái đuôi nó bị ướt, nhìn quanh khắp nơi chẳng có chỗ nào nước chảy êm đềm để mà giúp cho việc đi qua dễ dàng cả.

Cáo là loài vật biết bơi, khi bơi thì đuôi chúng thường vểnh lên như một cái phao giúp nổi dễ dàng hơn, khi đi thì đuôi chúng sẽ gần như song song với mặt đất, còn khi chạy săn mồi thì đuôi chúng thẳng, lông xòe giúp tăng lực cản không khí hỗ trợ chuyển hướng nhanh gấp. Do cái đuôi cáo có nhiều tác dụng linh hoạt và quan trọng cho sự tồn tại của nó như vậy, nên Thánh nhân chọn lấy cái đuôi (vĩ) làm tượng cho sự nhận ra “chướng ngại” mà thời “Vị tế” sinh ra. Cái đuôi cáo là một bộ phận quan trọng của con cáo; như sự kiên nhẫn, sự linh hoạt nhạy bén chọn lựa thời cơ là những đức tính quan trọng của người Quân tử khi hành động làm việc. Thành cũng nhờ nó, mà phát hiện ra “chướng” cũng nhờ nó nhận biết ra. Cho nên, Kinh nói: nhu kì vĩ – cái đuôi bị ướt, là ý này đây.

Lại cáo là giống ăn tạp nên có thể kiếm cả động vật trên cạn lẫn dưới nước để làm thức ăn, nay còn là cáo nhỏ cáo con lại phải lội qua sông để rồi mắc kẹt, thế thì hoặc vì lạc tổ lạc mẹ, hoặc là đói khát nên liều thân qua bờ để kiếm ăn, cả hai tình cảnh ấy đều thể hiện sự khó khăn, vất vả cả. Chẳng khác nào đưa bé tuổi nhỏ phải lăn lộn sớm ngoài đời nhưng không có người lớn theo cùng dịu dắt, rất là cực nhọc, đầu đội nón tẹt, mặt mày đen nhẻm, chân dép chân đất, đứng ở ngã ba ngã tư đèn đỏ, cầm theo sấp vé xố, hễ đèn đỏ xe dừng lại thì chạy tới chìa vé số ra, chìa nón xin tiền, đầu vừa gật, chân vừa đi, rất là đáng thương xót. Tuy là mắc kẹt, nhưng nước lên thì nước sẽ rút, sông đầy thì sông lại cạn, trước do cạn nên liều qua, thì nay nước lên phải tìm cách bảo toàn tính mạng mà chờ đợi thời điểm phù hợp sức mình thì ắt sẽ qua được thôi. Vậy lòng sông lúc cạn lúc đầy, ý chỉ thời kỳ lựa chọn không đúng, hãy căn chỉnh cho chính xác thì tự khắc sẽ được “hanh” thông.

Thánh nhân lấy tượng loài cáo vốn là vật tinh anh, thông minh để chỉ cho người Quân tử khi đang có việc dang dở, cần phải nhanh nhậy nhận biết những thay đổi xung quanh, phải lường trước những khó khăn bất ngờ có thể xảy đến, khi đặt chân bước trên con đường nào nhiều rủi ro nguy hiểm, thì phải tính tới lúc xấu nhất mà dành sẵn cái đường lui cho mình, giúp tính mạng được bảo toàn, lại đạt được mục đích mong muốn. Tuy nhiên, tuyệt đối không ỷ lại mình lanh lợi mà chủ quan vọng động, ắt sẽ gặp phải điều tai ương bất chợt xảy ra.

Hễ khởi sự thì sẽ luôn luôn có những điềm báo tế nhị xuất hiện trước đó, việc càng hệ trọng thì điềm báo càng sáng tỏ rõ ràng , như đun nước sắp sôi thì tiếng reo vang tới, trái cây sắp chín thì hương thoảng bay bay , nhóm lửa sắp thành thì khói tỏa bốc lên, mây đen gió lộng thì cuồng phong đang tới, chim bay tứ ngả là gió lớn đang qua v..v cứ thế, người Quân tử phải có sự nhạy bén và sức mạnh của loài cáo trưởng thành, chớ để mình rơi vào cảnh loài cáo nhỏ lạc lối mà “tiến thoái lưỡng nan”. Phải nên cảnh giác, nhạy bén, tỉnh táo và cẩn trọng trước khi khởi sự làm bất kỳ việc gì, ấy là chỗ Thánh nhân thương xót trí mờ, mà dặn dò ân cần chu đáo.
Sửa bởi HieuHcmVN: 30/05/2025 - 02:33
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Danh Lợi tiền tài cuốn bay Tâm Đức,
Việc chưa thành cũng tại bởi lòng Tham.
Dẫu cho của cải đang chất đầy giang san,
Một cơn gió Nghiệp sẽ cuốn bay đi hết.

Giàu sang vững bền là bởi Tâm, bởi Đức
Chớ không phải nhờ lừa lọc dối gian,
Phép Tiên Thánh để cứu độ nhân gian,
Nào đâu hàng hóa mà đem ra trao đổi.

Lấy Đạo pháp mà mua danh bán lợi,
Trời nào dung, mà Đất cũng không tha.
Ngồi chờ xem quả báo nhãn tiền mà,
Lúc ấy nhớ Trời Phật thì đã trễ.

Cho nên Thánh nhân xiết bao lần dặn kỹ,
Gắng giữ hằng tâm và gắng luyện thành Tài.
Đem Tri thức mà giúp Nước giúp Đời,
Sau sẽ đồng cùng về nơi Tiên Thánh.
Sửa bởi HieuHcmVN: 30/05/2025 - 11:42
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Thủy Hỏa Ký Tế


既濟: 亨小, 利貞. 初吉, 終亂

Ký Tế: Hanh tiểu (hay là “tiểu hanh” - 小亨), lợi trinh. Sơ cát, chung loạn


“Ký” có nghĩa là rồi, là đã. “Tế” thì cũng như nói ở trên, tức là tế độ (cứu giúp), là xong (hoàn thành). "Ký tế" nghĩa là việc đã thành, việc đã xong.

Rất nhiều bản in, sách luận giải Kinh Dịch cả Hán lẫn Việt, từ xưa tới nay, đều ghi là “hanh tiểu”, mặc dù rõ ràng về mặt ngữ nghĩa nó “tối”, lại sai ngữ pháp phổ thông (Thánh nhân làm Dịch để cứu đời, để cứu người có Đức, thế mà người hiểu không được thì còn tác dụng gì nữa); nhưng vì sự tôn trọng với tiền nhân, lại sợ do mình không rõ ẩn ý của câu đó chứ không phải tại lời văn và cũng như sự khiêm hạ của người học giải nên chẳng giám thay đổi, xét ở khía cạnh này thì cũng thật đáng tán thán rồi ! Nhờ tấm lòng kính ngưỡng chẳng dám “mạo phạm” này mà Kinh Dịch dù trải qua ngàn năm, tới nay văn bản ngữ nghĩa vẫn còn giữ nguyên được giá trị.

Nay nhân dịp tốt đẹp này, em đính chính lại và cũng giải thích tại sao cần sửa đổi như thế luôn để cho mọi người thông tỏ, ai thấy hợp lý và đúng với thực tế thì tiếp nhận (vì thực tế, thực tiễn mới là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm, khẳng định lý thuyết này hay kia, đâu mới là chân lý), chẳng đúng thì y như cũ, đó là quyền tự do trong học thuật. Cũng chính vì để thể hiện sự tôn trọng ấy, em chỉ chua thêm vào văn bản âm Hán, chứ không sửa đổi ở chánh văn, không phải là em sợ sai, mà là em muốn y theo tiền nhân mà giữ nguyên Lễ thức, còn ngữ nghĩa thì tất nhiên sẽ làm sáng tỏ ở phần tự luận. Kính báo để mọi người được rõ.


Kinh nói: Ký tế, tiểu hanh, lợi trinh.

Trên “Vị tế” là chưa thành thì lại “Hanh”, dưới “Ký tế” đã thành lại chỉ là “tiểu hanh”, rõ thật là vô lý ? Chắc vì đây mà các vị tiền bối do dự ! Lại sai thì chỗ này chỗ kia phải sai, đây chỉ sai có mỗi một chỗ này thì lại tăng thêm phần ngập ngừng. Nhưng lý do vì sao Thánh nhân nói “hanh” khi việc chưa thành, thì em đã làm sáng tỏ ở trên kia rồi, nên nay em lần nữa cần phải phân tích rõ tại sao việc đã thành rồi mà Thánh nhân chỉ cho là “tiểu hanh” thôi nhỉ ?

Người đã khởi sự thì mong cho việc chóng thành, việc một khi đã thành thì lòng tin vào bản thân nó có, đã thành việc này thì phải làm việc khác, tự tin trong mình sẵn đây thì việc khác phải có mục tiêu lớn hơn to hơn thì mới đúng là không ngừng phát triển, mục tiêu nhỏ được rồi thì phải theo đuổi mục tiêu lớn, có tiền mua Tiên cũng được nên việc kiếm tiền phải đặt lên trước tiên, kiếm được 1 triệu phải tìm cách kiểm sao được 1 tỷ, rồi 10 tỷ, rồi 100 tỷ v…v rồi cho tới Tỷ tỷ đô la thì càng tốt. Có vợ đẹp xinh rồi, thì phải có em út chân dài phục vụ giải khuây vì lúc vợ bầu vợ bí nhan sắc suy tàn, tiền mình có trong tay, lẽ nào lại chịu “ăn” của tàn của tệ, cứ thế được voi đòi Tiên, được một đòi hai, được ít đòi nhiều v…v đòi đến khi nào mà hết đời thì mới thôi, đôi khi còn nằm trên giường bệnh mà miệng vẫn không ngừng than trách và tâm thì không ngững nghĩ về những thứ của mình đang có lại không thể sử dụng hay mang theo được gì nơi cửu tuyền lạnh lẽo ! Than ôi, nhân sinh khổ nạn cũng vì “việc thành rồi” lại không biết thế nào là đủ để dừng lại, rồi nuôi dưỡng lòng tham lam vộ độ không đáy, mà nảy sinh ra “biết bao chuyện ưu phiền làm rối cả lòng ta”.

Lão Tử nói: “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” – người biết thế nào là đủ thì tránh khỏi bị nhục, người biết dừng lại đúng lúc thì chẳng gặp nguy nan; Trái với “biết đủ” tức là “tham lam” (Tử Vi Đẩu Số đọc lái thành Tham Lang để đặt tên cho Sao chủ mệnh của người có tính đức này), là không biết đủ.

Đi dự đám cưới, đám tiệc, cơm canh có phần có lượng, kẻ biết đủ thì nhìn người có mặt tại bàn mà lấy phần cho phù hợp, kẻ tham lam chẳng biết đủ thì thích món nào gắp lia lịa món đó, chẳng ai nói gì, chỉ cười thầm và nhường cho, nhưng sau này thì coi rẻ, ấy chẳng phải là do tham mà chịu “nhục” hay sao.

Lại như người ham uống rượu, người ham đánh bạc, người ham thịt ngon, người ham lợi, người ham danh v..v chữ “ham” là tên khác của sự “tham”, cũng là chỉ cho không biết đủ. Thế thì ham rượu, tối ngày say sỉn, “rượu vào lời ra” ăn nói luyên thuyên, mà làm gì cũng chẳng tỉnh táo nên có việc chi mà thành công, xã hội khinh chê thì tất nhiên phải chịu nỗi “nhục”. Chẳng những bản thân chịu nhục, mà con cái cha mẹ cũng phải chịu tiếng xấu dèm pha. Thật đáng thở than.

Người ham bài bạc thì tiền tài theo mây theo gió, của núi cũng đi theo con Ma “đỏ đen”, thân bại danh liệt cũng do “ham”, do “tham”, lười làm mà muốn an nhàn giàu sang nhanh chóng, rốt sau chịu cảnh “nhục” nhã cũng đâu có khác.

Ham thịt thì dư đạm thành bệnh Gout, ham lợi thì thích “việc nhẹ lương cao” bị lừa đảo mà theo kẻ lạ qua Campuchia rồi chịu cảnh thân tàn ma dại; ham danh thì thích tiếng khen yêu sự nịnh nọt, làm được một mà người tâng bốc lên thành mười, lâu ngày nảy sinh tự tưởng mình là đệ nhất, tâm sinh kiêu ngạo mà hành sự bất cẩn, chuốc lấy thất bại, rốt sau cũng do “tham” mà ra.

Thế thì, muốn được yên thân, muốn được an nhàn phải biết tiến dừng đúng lúc, biết đủ đầy thì nên ngưng, đã lùi lại chẳng tranh với ai thì nguy nan tự khắc lìa xa chẳng tới, cho nên nói “bất đãi” là ý này đây.

Khổng Phu Tử nói: “Tham nhi vô oán nan” – người có tính tham lam mà không đem lòng oán hận thì khó mà làm được, “cầu” đã “bất đắc” thì tất nhiên là oán Trời trách Đất giận người, một ngọn lửa sân giận thiêu đốt “cả rừng công đức”, oán giận sinh rồi thì “khôn ngoan” nào đâu thấy được nữa mà lại chẳng không phạm phải sai lầm để mà hối tiếc mãi về sau.

Cho nên Kinh nói: Tiểu hanh – chỉ là chút hanh thông nho nhỏ, nhằm uốn nắn răn nhắc tâm người, sự mưu cầu đã thành thì chớ nên tự mãn, nên lấy chữ “tiểu” mang nghĩa nhỏ bé, kém cỏi để cẩn thận phòng giữ cho người Quân tử được sự lợi ích lâu dài. Đã tự thấy mình làm được việc này thành công, cũng chỉ là nhỏ bé chẳng có gì lớn lao, thế thì tâm kiêu mạn do đâu mà sinh ra được. Đã chẳng kiêu căng, thì mưu tính sự sau tất dè dặt cẩn thận, nhìn trước đón sau tự kiểm điểm mà giữ gìn đức “Trinh” cho được trọn vẹn, bởi thế mà Thánh nhân mới nói là “lợi trinh”.

Kinh nói: Sơ cát, chung loạn.

“Sơ” nghĩa là mới đầu, “chung” nghĩa là kết thúc. “Loạn” nghĩa là lẫn lộn, lộn xộn, “Cát” nghĩa là vui vẻ, tốt lành.

Việc mới thành thì ai mà lại chẳng vui vẻ cơ chứ ? Chúc tụng nhau, mở tiệc ăn mừng, một mình cười vui, vừa đi vừa huýt sáo, nhìn thấy cuộc đời thật là tươi đẹp, số phận mình thật là may mắn, chẳng khác nào mùa Xuân đang về lại ngay ngày Tết sang pháo hoa rực rỡ. Cho nên “sơ cát” là lẽ tự nhiên.

Nếu việc này đã thành mà bước tiếp theo chưa biết phải làm sao thì ắt là bị “loạn” – lộn xộn, do đó, khi việc thành rồi thì phải chớ vui mừng lâu ngày quá mức, mà quên mất việc lập định kế hoạch cho ngày tháng về sau. Lại việc thành rồi mà sa ngã xảy chân, bị cuốn theo cái dòng “tham sân” vô độ không biết đủ, thì như trên đã nói, sẽ phải trả giá đắt ở bên đó trong dòng đời bất tận mà thôi.

Do đó, Thánh nhân nói "tiểu hanh" để phòng ngừa cho người Quân tử chẳng phải gặp cái “loạn” về sau, còn “chung loạn” thốt ra cũng là vì “tiểu hanh” mà nói, cho nên trước sau thống nhất bổ nghĩa cho nhau, mà không có gì khiến cho cảm thấy chênh vênh sai khác.

Thân người khó được, Đạo pháp khó gặp !
Sửa bởi HieuHcmVN: 30/05/2025 - 15:33
Trích dẫn

fanMu0330's Photo fanMu0330 30/05/2025

4 quẻ : hằng , hàm , ích , tổn . có liên quan gần gì với nhau không nhỉ ? thấy quái cứ xáo qai xáo lụa . có cái lý gì chăng , chủ thớt nghĩ thế nào
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

fanMu0330, on 30/05/2025 - 18:52, said:

4 quẻ : hằng , hàm , ích , tổn . có liên quan gần gì với nhau không nhỉ ? thấy quái cứ xáo qai xáo lụa . có cái lý gì chăng , chủ thớt nghĩ thế nào

Bác hỏi hay quá, cái lý dễ thấy nhất là em thấy ý nghĩa quẻ nó hay với em đó bác, nên em lập đề Kinh Dịch có gì hay ? á, chứ không em phải làm quả chủ đề gây sốc như là: Trật tự 64 tượng quẻ Dịch chuẩn nhất mọi thời đại cho nó hút khách câu view, hí hí
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Thái Ất Thần Kinh, diệu lại minh;
Nước Nam xưng tụng có Trạng Trình,
Ứng dụng được hay phép toán ấy,
Làm thành bài Sấm động Trời kinh.

Bạch Vân cư sỹ, hiệu của Ngài;
Người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lai.
Cha mẹ khéo dạy, lại siêng học;
Ân sư Đắc Bằng kể cũng tài.

Quán thông văn chương, kiêm Lý Số;
Thức thời nước loạn nên chẳng lộ.
Triều Mạc lập rồi, đỗ Trạng Nguyên,
Tả Thị Lang Đông Các Học Sỹ.

Làm quan tám năm cáo về quê,
Ngâm, vịnh, xướng, họa khoái khoái ghê.
Thích trí lại mở trường dạy học,
Lúc nhàn bầu bạn với non khê.

Vua cần, sai xứ đến hỏi thăm;
Lại Bộ Thượng Thư Trịnh Quốc Công.
Tinh thông thuật số, tiên tri giỏi;
Đời đời Thơ tụng vẫn nức lòng.

Tiền lùi linh hoạt khéo khéo ghê,
Thức thời, thuận thế tỏ chẳng mê.
Danh vàng lợi bạc đâu màng tới,
Ích Nước lợi dân, khó chẳng nề.

Nay nhớ về ông Trịnh Quốc Công,
Luận tiếp hai quẻ tỏ mến công,
Vừa hay "Độn" "Tấn" khéo như nguyện,
Mong ông chứng giám, ứng cảm lòng.
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 30/05/2025

Thiên Sơn Độn


遯: 亨, 小利貞.

Độn: Hanh, tiểu lợi trinh.



Kinh nói: Độn, hanh.

“Độn” có nghĩa là trốn lánh, là lui về, là thoát đi. Người Quân tử trí cao muôn trượng, hoài bão tựa biển khơi, đạp bằng chông gai mà đi, thế thì có khó khăn chướng ngại nào mà phải “trốn lánh” nghe sao nó thảm thương tới như vậy ? Người xưa nói : “tồn thân viễn họa” – đứng trước tai họa phải khéo bảo toàn bản thân mình, cái thứ “tai họa” mà người Quân tử cần phải trốn lánh đó là “tai họa” do thời thế xoay vần tạo nên.

Dân gian có câu : “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” – trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa, nghĩa là giống loài nào thì đi theo giống loài ấy, người học đạo Tu – Tề - Trị - Bình, kính trọng Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín thì không thể vào hùa với kẻ Bất Nhân – Bất Nghĩa – Thất lễ - Thất tín và Si cuồng cho được, tại vì như thế thì chẳng những xóa nhòa hoài bão cùng lý tưởng sống của chính mình, lại khiến cho ngàn vạn đời sau nhìn vào nêu tên nguyền rủa. Bởi Tài cao Trí lớn phải dựng Quốc an Bang, lập nên công trạng mà lưu danh sử sách. Trịnh Quốc Công cũng là một người thức thời như thế, cuối Triều Lê sơ, quan lại chỉ lo hưởng lạc, nội bộ thì tranh giành quyền lực, hãm hại lẫn nhau, đây là thời “pháp nhược ma cường”, là thời “Quốc chi tương vong, tất hữu yêu nghiệt” – Sự diệt vong của một Quốc gia, tất có điềm xấu báo trước, điềm xấu ở đây chính là “tham quan ô lại”, hại nước hại dân, tham hưởng dục lạc, bỏ bê chính sự, kết bè kết cánh, mưu tính lợi riêng; “điềm báo” ấy ứng với hoàn cảnh cuối Lê sơ, do đó Trình Công mới tạm thời lánh cái “nạn” này. Ấy là thức thời thế, thuận thời hành nên được sự “hanh” thông, đó là quyết định sáng suốt của bậc Anh Tài khéo léo xử thế đó vậy.

Kinh nói: Tiểu lợi trinh.

Bằng trí tuệ, tỏ rõ thời thế thịnh suy mà khéo léo bảo toàn được tính mạng, thân mình được an mà thân của bách gia trăm họ gặp nguy thì cái an ấy cũng chỉ là “tiểu lợi”, dù cho chẳng phải là kẻ ham sống sợ chết, thấy tai họa mà trốn tránh, cái tâm “lui về”, “lánh đi” nó trong sáng vì muốn bảo toàn đức Trinh trọn vẹn, nhưng xét ra thì uổng công học hành mà chỉ quanh quanh ở nơi xóm nhỏ, Danh chẳng có gì với đời, Lợi chằng làm gì cho người, nghĩa là một cuộc sống tầm thường ẩn dật, nên mới gọi là “tiểu lợi Trinh”.
Trích dẫn


1 2 3 4 5 |»|