KINH DỊCH có gì hay ?
VNhieu
23/05/2025
Lôi Thủy Giải.
解 : 利西南, 无所往, 其來復, 吉, 有攸往, 夙吉.
Giải: lợi Tây Nam, vô sở vãng, kỳ lai phục, cát; hữu du vãng, túc cát.
Kinh nói: Giải lợi Tây Nam.
Giải tức là giải thoát, là thoát khỏi sự ràng buộc, ràng buộc bởi cái gì ? Cảnh, người và Tâm.
Người từng cho là bạn, là ân nhân lại bẫy giăng hãm hại, làm mình khổ đau, vì thế ở đây chẳng có Đông bắc táng bằng, bởi khi Giải tới thời thì người cho là “bằng” cũng “táng” theo rồi, nhưng theo cái đạo của Thánh nhân thì biết là do nhân duyên thuở trước, nên cũng "tặc lưỡi" mà mìm cười như người đối diện trước mưa giống bão tố mà thôi. Lợi Tây Nam, như quẻ Khôn đã nói, Tây Nam đắc bằng, người này hại thì có người kia giúp, thế mới thành ân oán trường lưu. Tự cứu chẳng xong thì phải nhờ người, là lẽ tự nhiên, như kẻ đuối nước gặp phao, kẻ lao mình xuống sông phải nhờ ngư dân cứu độ, ấy cũng là do phước Đức tích thành, dễ gì khi không mà được.
Kinh nói: Vô sở vãng, kỳ lai phục, cát.
Chẳng có nơi để đến thì nên quay lại chốn xưa. Ý là người gặp hoạn nạn, mà thoát ra được, thì nên nhìn về chỗ xuất phát, chỗ xảy chân để mà tự thân rút kinh nghiêm, một là chẳng tái phạm sai lầm, hai là chẳng viễn vông ảo mộng, cứ quay về chỗ thực tại mà làm lại từ đầu. Biết đứng lên sau ngã, biết rút kinh nghiệm khi lầm lạc, ấy tức là “kiển quân tử dĩ phản tu kỷ” – người quân tử khi gặp khó khăn phải xem lại bản thân để sửa mình. Vì thế mới nói “kỳ lai”, nhấn mạnh cái chỗ ấy chỗ đó, chính là chỗ khởi thành sự bại, mà xét rõ nguyên do, như thế thì tương lai ắt được Cát, cũng là lẽ tất nhiên nhờ nhân tâm tu chỉnh vậy.
Kinh nói: Hữu du vãng, túc cát.
Nhận ra sai lầm thì phải sửa chữa sai lầm chứ chẳng phải ngồi than Trời trách Đất, hận mình giận người. Có câu “thua keo này ta bày keo khác”, làm cách này không được thì ta làm cách khác, tránh hết chỗ sai thì tất thành chỗ đúng, do đó “hữu du vãng” là phải làm đi, nhưng làm cách gì thì phải đổi thay cho nó tốt, nhưng mục tiêu xưa, trí nguyện cũ - “túc” - ắt phải giữ trong tim, ấy thì “túc cát” là vững trí mà nên, trí nguyện xưa luôn mang theo chẳng bỏ. Như thế mới được Tâm cũng Giải mà Thân cũng Giải. Mới trọn vẹn sự Giải của Thánh nhân.
Sửa bởi HieuHcmVN: 23/05/2025 - 11:02
VNhieu
23/05/2025
Đạo của Trời Đất là cân bằng, nên Thánh nhân chỉ rõ chỗ đối nghịch để mà biết nẻo đi lối về. Một chữ "Quá" sau đây là biển báo ven đường, tức thời cảnh tỉnh cho người có tâm muốn dốc lòng vì lý tưởng đã cố gắng, phải biết nên tự xét định mà điểu chỉnh cho hài hòa điều độ.
Sửa bởi HieuHcmVN: 23/05/2025 - 14:06
VNhieu
23/05/2025
Lôi Sơn Tiểu Quá
小過: 亨, 利貞.
Tiểu quá: Hanh, lợi trinh.
可小事, 不可 大事
Khả tiểu sự, bất khả đại sự.
飛鳥遺之音, 不宜上, 宜下, 大吉.
Phi điểu di chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ, đại cát.
Kinh nói: Tiểu Quá hanh, lợi trinh.
Chữ "Quá" tức là hơn, là vượt; vượt hơn cái gì ? Hơn giới hạn của bản thân mình. Như vận động viên rèn luyện, mỗi ngày lại tăng thêm một ít, mỗi ngày một ít vượt hơn kỳ trước tức là "tiểu quá" vậy. Như "mài sắt thành kim", "kiến tha lâu đầy tổ", do sự tích tiểu mà thành đại, khiến sự đương khó khăn lại thành dễ dàng, vì thế cái quả "hanh" thông nó tự nhiên theo sau, cái sự "lợi" ích nó tự nhiên biểu hiện. Cái đức "tiểu quá" - mỗi ngày hơn một chút này, là nét Trinh của bậc quân tử đang trên đường rèn Đức hạnh, để xứng với Đức Trinh của Đất Trời. Tuy chẳng phải là ích lớn cho người, xong là chánh nhân mai sau làm nên sự Đại lợi cho thiên hạ, vì người quân tử biết rằng: Trời không giúp kẻ lười biếng, Đất chẳng dung kẻ an phận, nên tự mình phải rèn luyện gắng công.
Kinh nói: Khả tiểu sự, bất khả đại sự.
Chữ "khả" là chỉ cho khả năng, là năng lực hiện tại. Cái năng lực của "tiểu quá" mới chỉ là Tu thân, sửa mình, tề gia cho nên chỉ tạm xứng với "tiểu sự" tức việc nhỏ nhẹ trong phạm vi thân thuộc mà thôi, chứ còn thống lãnh thiên hạ, trị quốc an bang, hãy còn xa vời chưa chạm đến. Đây là chỗ mà Thánh nhân đặc lưu chú ý, phàm làm gì phải biết tự lượng sức mình, chớ ham danh hão lợi to, mà vong ngôn cuồng trí, lao đầu vô nghĩ nhận lấy trọng trách vượt quá giới hạn. Như vậy chỉ là tự chuốc lấy nhọc, tự làm trò cười cho thiên hạ mà thôi, rốt sau lại chẳng những uổng phí thì giờ của chính mình, mà còn làm lỡ mất thời cơ của bao người khác.
Kinh nói: Phi điểu di chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ, đại cát.
"Phi điểu" là con chim đang bay, chim bay mà phát ra tiếng thì một là do hốt hoảng, sợ hãi; hai là do muốn được chú ý; đang bay tức là chưa tới nơi, chưa thành tựu, chưa thành mà lại vội vã "tại thượng" ấy là tối kỵ, do đó Thánh nhân dạy răn: "bất nghi thương" - chưa phù hợp nơi cao, nên đặt mình nơi thấp "nghi hạ", ấy là "an phận thủ kỷ, cầu kỳ sở năng" (giữ phận đúng tầm, làm việc vừa sức), do đó mới được "đại cát" vậy.
Sửa bởi HieuHcmVN: 23/05/2025 - 21:12
VNhieu
23/05/2025
Trạch Phong Đại Quá
大過: 棟撓, 利有攸往, 亨.
Đại quá: đống nạo, lợi hữu du vãng, hanh.
Kinh nói: Đại quá đống nạo.
Cột trụ chính gọi là "đống", khi bị cong đi thì gọi là "nạo", đây là chỉ cho vị trí nhiều trọng trách, người quân tử từ chỗ "tiểu" mà không ngừng nghỉ, nay lại tới chỗ "đại" thì lẽ cho đúng ắt phải tương xứng, hà cớ gì lại trụ chẳng vững, khiến cho bị "cong" bị vẹo như vậy ? Ấy là vì tiểu vượt quá thì được chỗ trung, đại vượt quá thì thành bất trung, Thánh nhân đều lấy chữ "trung" làm Đạo lập pháp, lập cương, lập đức; do đó mà lìa "trung" lại thành ra "đống nạo" vậy.
Kinh nói: Lợi hữu du vãng, hanh.
Nay bị nghiêng ngả cong vẹo, ắt phải tu chỉnh lại cho bằng để được chỗ "Trung", muốn thấy rõ vật , hiễu rõ chỗ "cong vẹo" của nó thì phải "cách vật trí tri" - xem xét cho thấu đáo, sáng tỏ tới cội nguồn. Tự mình chẳng thấu ắt phải cầu học, nên chỗ "lợi" lúc này tức là "hữu du vãng" - đi xa học hỏi , nhân "hữu du" mà tỏ tường, lại đem chỗ đã tỏ ứng dụng tu chỉnh nên được sự "hanh" thông.
Chưa tới chỗ cao thì phải tùy sức mà hành, đã ở chỗ cao thì phải không ngừng suy tường chỉnh đốn, cốt để được cái đạo an hòa bình ổn, hòa cùng cái đức Trung Chính của Đất Trời, hòng kéo dài sự thịnh cho tới ngàn thu vạn đại về sau. Bằng không thì thành tất hoại, trụ tất suy, lại theo lẽ biến hóa Thái Bĩ cùng Càn Khôn theo vòng xoay chuyển.
Dịch đã bất tận, thì người cũng phải "tùy thời chế nghi" (tùy thời điểm địa vị mà chế phương cách phù hợp), "dĩ cái bất biến" để "ứng cái vạn biến" không cùng.
Sửa bởi HieuHcmVN: 23/05/2025 - 22:31
VNhieu
23/05/2025
Thì sao đứng vững, hiển vinh ở đời.
Thủy chung son sắt thảnh thơi,
Hoang dâm, vô độ, bạc vơi, sắc tàn.
Giàu sang mà lại ngang tàng,
Trời đâu cho ở ngai vàng được đâu.
Danh kia lợi ấy chẳng lâu,
Là do đức hạnh, chẳng lâu chẳng bền.
Khi khó thì gắng giữ gìn,
Của tiền đôi chút liền quên hết rồi.
Cho nên Thái Bĩ đổi ngôi,
Tài tiêu, mệnh yểu, gia phiền, rầu lo.
Khuyên ai chưa tỏ gắng lo.
Tài cao Đức cả là do ở mình,
Thiện ác tỏ rõ phân minh,
Phước tài quả Đức, oán phiền quả Gian.
Cho nên Thánh đạo thênh thang,
Bởi do tỏ rõ lẽ vàng Trời trao.
Tài thấp mà ở ngôi cao,
Là bất chánh vị, là thời "Quá" sinh,
Tùy cơ ứng biến đinh ninh,
Khéo mà ứng hợp cho mình vẹn Trung.
Chính Trung, thì được ung dung.
Ích người, ích nước, ích đời, ích dân.
Tiếp theo Hằng Ích biện minh,
Vì người phân tỏ, đường trần sáng tươi.
Sửa bởi HieuHcmVN: 23/05/2025 - 23:35
VNhieu
24/05/2025
Lôi Phong Hằng
恆: 亨, 无咎; 利貞, 利有攸往.
Hằng: Hanh, vô cữu; lợi trinh, lợi hữu du vãng.
Kinh nói: Hằng, hanh vô cữu, lợi trinh.
"Hằng" nghĩa là không đổi, là lâu bền, trong cái sự không ngừng biến đổi của "Dịch" có nét "bất biến thường trụ" của "Hằng", như bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, mà Xuân này qua rồi Xuân kia lại tới, thế thì Xuân "biến" hay Xuân "hằng" ? Người quân tử, sống trong Trời Đất biến đổi từng ngày, mà luôn giữ tròn Đức Hạnh, dù là trong gian nguy, hay là lúc an nhàn, dù là khi danh lợi đề huề, hay là khi khởi sự nguy nan thiếu thốn, tánh Đức chẳng thay đổi ấy tức là nghĩa "hằng" Đức "lợi trinh". Như quẻ Khôn nói: An trinh, tức là nghĩa trước sau như một, thì "Hằng" tức là sự quy hướng về An Trinh mà ra.
Vì sao "An trinh" thì Cát, mà Hằng thì chỉ "hanh, vô cữu" ? Bởi An trinh tức là tự tại vô tác, không cần kiểm tỏa mà tư nhiên hiển hiện, là hạnh Đức thuận thục, là "bản thể vô nhiễm", trong khi đó "Hằng" là luôn phải tự ý thức, tự kiềm tỏa, nếu sơ xảy ắt bị lạc mất đức Trinh, bởi thế cho nên chẳng lạc mất, chẳng quên giữ tức là "vô cữu" - không phạm sai lầm, không bị lỗi lầm. Đã không phạm lỗi thì "hanh" thông, được "lợi trinh" là lẽ tự nhiên.
Đất thì đã thành, người thì chưa thành, vẫn còn không ngừng rèn luyện, Khổng Tử nói: Quân tử thuận kỳ độc dã - người quân tử nên cẩn thận khi ở một mình; để nhắc nhở rằng, sự rèn luyện đức hạnh không phải để khoe khoang với người, mà cốt là để làm cho mình tốt lên môi ngày, mà khi ở có một mình, sự hành xử ấy mới lộ rõ thói hư tật xấu của mình ra vậy.
Kinh nói: Lợi hữu du vãng.
Tâm hồn có thể bình lặng khi sóng gió chửa nổi lên, con người có thể hiền hòa khi chưa gặp nghịch cảnh bất như ý, vì thế, muồn học bơi thì phải xuống nước, muốn học chạy thì phải ra đường v..v chi có sự cọ sát trong cuộc đời thực tại mới quyết trạch được đức hạnh chân thực đã thành hay mới chỉ là sự tự kỷ ảo cầu nơi mình tưởng tượng mà hóa ra. Thánh nhân bị người chửi người khen chẳng còn dao động, cũng nhờ rèn luyện cọ sát, chớ chẳng phải ngồi thu một chỗ, tựa núi nhìn sống, trong lòng trống không mà tự xưng là Đại được. Ấy là cái lý "du vãng" để có cái "lợi" thật hành, ra ngoài cọ sát tức là "hữu du vãng" vậy.
Sửa bởi HieuHcmVN: 24/05/2025 - 14:25
VNhieu
24/05/2025
Phong Lôi Ích
益: 利有攸往, 利涉大川.
Ích: lợi hữu du vãng, lợi thiệp đại xuyên.
Người quân tử không ngừng sửa chữa lỗi lầm, "lau trùi" những điều dở khuyết, vun đắp những sự đẹp tươi, thêm nhiều dần lên tức là sự Ích.
Kinh nói: Ích, lợi hữu du vãng.
Trên nói ra ngoài để cọ sát thì mới lộ ra những điều chưa được để sửa chữa, ở đây thì sự "lợi" ấy lại càng tăng thêm nhờ thu lượm được thêm những điều tốt đẹp từ chặng đường đang đi, từ những người được gặp, từ những sự xảy ra. Việc sửa chữa của mình trên chặng đường đời, giúp cộng hưởng gia tăng làm nảy sinh thêm sự cảm mến của người, sự lợi ích cho người, đôi đường đều lợi tức là " Ich, lợi hữu du vãng" vậy.
Kinh nói: Lợi thiệp đại xuyên.
"Đại xuyên" là con sông lớn, lớn cỡ nào vậy ? Sông Hồng, sông Cửu Long hay sống Hằng v..v tất cả đều không phải, e là chưa đủ lớn. Người xưa nói "nhân sinh tựa lưu thủy" (đời người như nước chảy), người nay thì ví von: dòng đời xô đẩy, sóng gió cuộc đời, vậy "đại xuyên" này là chỉ cho cuộc mưu sinh của đời người đang qua đó vậy, vượt qua khó khăn trong đời tức là "thiệp đại xuyên". Việc sửa mình không ngừng, thu lượm điều hay, thổi bay điều dở giúp mình trải qua cuộc đời này được nhiều lợi ích. Tức là chuyển từ xấu tệ thành tốt tươi, từ ác hiểm thành thiện lương,thuần hậu. Vì nó không dễ dàng, cho nên chẳng phải một ngày hai ngày mà được,nhưng có đi, lại không ngừng đi, thì tất có ngày tới nơi thôi.
Sửa bởi HieuHcmVN: 24/05/2025 - 22:23
JavaC
25/05/2025
Thượng chấn, hạ khảm, khảm có nghĩa là hiểm,
Có nghĩa muốn giải cái tâm ác hiểm (của mình hay của người)thì phải dùng đến lời nói mạnh như sấm của trời) và được diễn tả, nói bằng cách thật đơn giản dễ hiểu, gần gũi(Tây Nam)
Sửa bởi JavaC: 25/05/2025 - 23:01
VNhieu
25/05/2025
JavaC, on 25/05/2025 - 22:56, said:
Thượng chấn, hạ khảm, khảm có nghĩa là hiểm,
Có nghĩa muốn giải cái tâm ác hiểm (của mình hay của người)thì phải dùng đến lời nói mạnh như sấm của trời) và được diễn tả, nói bằng cách thật đơn giản dễ hiểu, gần gũi(Tây Nam)
Oh, ý tưởng cũng hay đấy chứ.
Nhưng sao "lôi" lại là lời nói mạnh mẽ, "Tây Nam" lại là sự đơn gian dễ hiểu gần gũi bác nhỉ ?
JavaC
25/05/2025
Tây nam là hướng quẻ khôn, khôn tượng đất bang phẳng, không ẩn khúc, là thứ mà ai cũng biết, nên tôi cho là dễ hiểu, gần gũi
trong cuộc sống đời thường hya công việc chuyên môn cũng vậy:
muốn giải quyết vấn đề gì thì cũng phải nắm thật chắc lý thuyết, và khi đã nắm chác lý thuyết thì nhất định giải quyết vấn đề rất dễ hiểu
Sửa bởi JavaC: 25/05/2025 - 23:15
VNhieu
25/05/2025
JavaC, on 25/05/2025 - 23:15, said:
Tây nam là hướng quẻ khôn, khôn tượng đất bang phẳng, không ẩn khúc, là thứ mà ai cũng biết, nên tôi cho là dễ hiểu, gần gũi
Rất hay,
Thượng "lôi" - lời nói bậc Thánh, hạ "thủy" - ác tâm hung hiểm của phàm phu. Tây Nam hương Khôn tức Đất nên gần gũi. Lời bậc Thánh nhân sử dụng trên ác tâm của phàm phu nhằm giải trừ ác tâm của họ: có lợi vì gần gũi như Đất. (Lôi Thủy Giải: Giải, lợi Tây Nam).
Vậy đoạn sau: Vô sở vãng kỳ lai phục cát, túc cát thì nghĩa là sao bác nhỉ ?
Sửa bởi HieuHcmVN: 25/05/2025 - 23:28
VNhieu
26/05/2025
Phong Thiên Tiểu Súc
小 畜 . 亨 . 密 雲 不 雨 . 自 我 西 郊 .
Tiểu súc: Hanh. Mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao.
Kinh nói: Tiểu súc, hanh.
“Súc” có nghĩa là súc tích, là chứa đựng, chứa đựng cái gì ? Chứa đựng Đức Hạnh. Lại có nghĩa là nuôi dưỡng, là vun bồi, nuôi dưỡng vun bồi cái gì ? Vun bồi Hạnh Đức.
Như cuộc đời Thầy Tả Ao, tuy xuất thân bần hàn nghèo khó, hoàn cảnh thiếu khuyết éo le, song nhờ tích Đức hành Thiện, giữ gìn Hiếu Nghĩa, vì Hiếu Nghĩa mà hi sinh lợi ích bản thân mình, nhờ Hiếu Nghĩa mà vượt qua thử thách trên con đường rèn luyện Đức Hạnh của bản thân mình, mà được Danh cao, Lợi nhiều, tiếng thơm còn mãi. Mặc dù, còn có lúc ghét thương, đối với kẻ bất lương thì còn muốn trừng phạt, cho nên giai vị “thăng Thiên” vẫn còn có phần “đạm bạc”, chưa vươn sánh được với Trinh Đức của Đất Trời, song so với người đời, xét ra còn cao thăng vượt lên mấy bậc. Có thể kiếp sau vẫn còn phải rèn sâu để vươn lên ở cõi giới khác, song kiếp này đã có thể nói là viên toại thành công, chẳng uổng công sinh ra một kiếp làm người.
“Tiểu súc” là Đức tích còn mỏng Phước tích chưa dày, tuy đạt được sự “hanh” - tượng như mây dày che bớt cái gắt gao của ánh nắng, song chưa toại thành sự “lợi” - tượng như nắng hạn được gặp mưa, tưới mát dịu khắp cả nhân gian. Nên có khi được Thầy nhận cho theo, mà chưa hết lòng dạy bảo, có khi đã được dạy bảo, mà chưa được giáo nghĩa thâm sâu, có khi đạt tới chỗ sâu, mà mãn viên tốt thành chưa đến; hết thảy như thế đều chỉ là sự “Tiểu súc” mà thôi.
Kinh nói: Mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao.
“Mật vân bất vũ” là nghĩa mây tụ dày mà chưa mưa, mưa tức là được như ý nguyện, chưa mưa thì ý nguyện chưa toại, chưa toại là vì có cố gắng tới mức sắp thành, như trái đã sinh đang già, sắp chuyển màu tỏa hương báo hiệu sự chín ngon sắp tới. Ấy là lời khuyên cho nên gắng nữa, sắp được rồi, chớ có bỏ cuộc mà uổng phí quãng đường đã dày công vun đắp trước đây.
“Giao” nghĩa là giao tế, tế lễ dâng lên; dâng lên ai vậy ? Dâng lên Trời cao. Khi không sao phải dâng lên Trời chi vậy ? Ấy là nhờ Trời triển chuyển duyên lành, mà gặp may cảnh tốt gặp người quý nhân, giúp cho những lúc gian truân, mờ đường lạc lối sắp phần hiểm nguy. Tự mình không tỏ mà đi, sa hầm sụt hố biết kỳ khi nao ? Do vậy mà cảm ơn Trời thầm gia ân giúp đỡ, mà tế lễ thể hiện lòng thành. “Giao” cũng có nghĩa là gần kề, Tây giao cũng tức là gần kề Tây phương.
Phương thì tứ chính Đông Tây Nam Bắc, hà cớ gì lại hướng về Tây mà chẳng nói tới hướng về ba hướng kia ? thực ra nói một hướng thì đã gồm đủ bốn hướng, lấy “tự ngã” để định vị rồi thì tự khắc mà vạch rõ tứ phương; nhưng bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, ứng với màu xanh, đỏ, trắng, đen; thế thì năm Hành làm sao phân giải ? Theo tiết khí có thêm mùa “trường hạ”, là lúc khí nóng từ đất bay nhẹ lên, không thể vượt lên cao, bị lơ lửng lưng chừng ngang gối, do đó dễ sinh ra bệnh “phong thấp”, thế thì 4 mùa mà nối giữa Hạ với Thu, sinh thêm mùa thứ năm ứng Thổ Hành, tên gọi “trường hạ”, nó màu vàng như cây thơm chín mọng; ứng cho thời người Quân tử đạo đức sắp hiển vinh, có thể gặt thu và trao truyền những điều tinh diệu cũng được rồi, nhưng gắng đợi thêm chút nữa mới “hoàn mỹ, toàn chân”.
Người Thầy dạy Y đức cho Thầy Tả Ao rất cẩn trọng trăm phần, chính vì thế mà Đạo Y Thầy ấy mới cao minh tới vậy, vì nghiệp cứu người đâu dễ dàng dễ dãi, như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã từng nói: Thiện nhân chí mưu, y giả phụ mẫu tâm (Người tốt thì vẫn có thể còn lòng mưu tính, nhưng người Thầy thuốc nhất định phải có tấm lòng hi sinh vô tư lợi như của mẹ cha – tức là quan tâm và cho đi, không bao giờ đòi nhận lại thứ gì.) Bởi thế mà đức tài đã tới độ, mà trọn vẹn phải đúng chín mùi mới truyền đạt Tâm tông.
Thật là “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, cái sự tinh tường cẩn trọng, cái sự vun đắp dày công của người Thầy đứng trong Tứ trọng ân mà khi làm người phải cần ghi nhớ, sánh ngang với ân Cha mẹ, quốc vương và ân nhân cứu mạng. "Tự ngã" tức là nói về bản thân mình, nhấn mạnh phải tự chính trực xét rõ chính mình, chớ không phải là làm thay cho người khác !
Sửa bởi HieuHcmVN: 26/05/2025 - 15:24
JavaC
26/05/2025
HieuHcmVN, on 25/05/2025 - 23:23, said:
Thượng "lôi" - lời nói bậc Thánh, hạ "thủy" - ác tâm hung hiểm của phàm phu. Tây Nam hương Khôn tức Đất nên gần gũi. Lời bậc Thánh nhân sử dụng trên ác tâm của phàm phu nhằm giải trừ ác tâm của họ: có lợi vì gần gũi như Đất. (Lôi Thủy Giải: Giải, lợi Tây Nam).
Vậy đoạn sau: Vô sở vãng kỳ lai phục cát, túc cát thì nghĩa là sao bác nhỉ ?
VNhieu
27/05/2025
Sơn Thiên Đại Súc
大 畜: 利貞, 不家食, 吉; 利涉大川.
Đại súc: Lợi trinh, bất gia thực, cát; lợi thiệp đại xuyên.
Trái đã chín, đức hạnh đã thành, thời của “Đại súc” đã tới.
Kinh nói: Đại súc, lợi trinh, bất gia thực.
Trên nói “súc” là tích chứa, là nuôi dưỡng; Từ “tiểu súc” tới “đại súc” như tích tiểu thành đại, nuôi dần lớn khôn, nên “Đại súc” là thời Đức đã đủ dày Trí đã đủ sáng, gần với Đức Trinh của Trời Đất, do đó tự nhiên được cái “lợi” thu về, chẳng cần cưỡng cầu chẳng cần mưu tính. Phật Thích Ca nói: “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh”, ấy là tính duyên sinh – thể hiện mối liên quan khăng khít, không tách rời như một chỉnh thể của vạn vật - ở đây thể hiện rõ ràng: Đức có thì Tài năng sẽ có, Tài năng có thì Lợi ích, lợi dưỡng tất nhiên là sẽ có theo thôi.
“Thực” nghĩa là đồ ăn, thứ dùng ăn được mang lại năng lượng, mang lại sức mạnh đều gọi là “thực” cả; ở đây thì nó chỉ cho “lợi dưỡng” mà người có Đức Tài xứng đáng được thọ hưởng. “Gia” tức là thuộc về một nhà, một gia đình; đi dọc đường hay thấy biển hiệu “nước sâm nhà làm”, “cơm chuẩn mẹ nấu” v..v đều quy về “Gia thực”; Tiền của mình bỏ công bỏ sức làm ra, rồi đem đổi lấy đồ ăn (thực), rồi tự mình chế biến để thọ dụng, nay nói “bất gia thực” – thì tức là chẳng ăn đồ mình bỏ sức ra làm; chẳng thọ hưởng thứ thuộc về gia đình mình. Không ăn cơm nhà, cơm mình thì chỉ có thể là ăn cơm người, cơm tiệm thôi; bởi có ai không ăn mà sống hoài được đâu, thậm chí đôi khi phàm nhân còn coi sự ăn này nó cao ngang, cao hơn cả Trời nữa vậy, “Dân dĩ thực vi Thiên” – dân lấy ăn làm Trời.
“Bất gia thực, cát” – ăn cơm người, cơm tiệm lại là Cát (đại lợi) hay sao ? Kỳ lạ thế, người xưa còn nói “miếng ăn là miếng tồi tàn”, cụ An Tiêm còn cho nó là “của nợ” luôn mà, hà cớ chi Thánh nhân coi việc ấy lại là “Cát” được ? Đấy là vì xứng đáng, do sự biết ơn của người nhờ việc lợi ích mà mình làm ra bởi Đức Tài khổ công rèn luyện, khiến người được chuyển hóa, vượt qua được khó khăn, giải quyết được tốt đẹp, được thông lợi v..v cho nên trong cái niềm vui ấy họ muốn làm gì đó để báo đáp ơn tình, chia sẻ niềm vui, hỷ sự từ tâm sinh nên hiện tượng “Cát” vậy, đây là "Đức cao" thì "vọng trọng".
Kinh nói: Lợi thiệp đại xuyên.
Trên đã nói “đại xuyên” ý chỉ sự khó khăn trùng điệp mà con người sống trong cuộc đời cần phải vượt qua, thường phải đối mặt; ở đây vì có Đức Tài đủ đầy, người Quân tử đứng trước khó khăn giông bão nghịch cảnh, vẫn “bình chân như vại”, tự tại an nhiên mà giải quyết khó khăn, vượt qua khó khăn. Càng giải quyết thêm những vấn đề khó , những vấn đề người khác không làm được thì cái “lợi” lại theo đó càng tăng lên, cả về chất lẫn lượng. Chất là tài năng mình gia tăng, Lượng là lợi dưỡng mình thêm lớn, của cải thêm nhiều. Đây mới là cái gốc của sự giàu sang, chân chánh lại bền vững, mà Thánh nhân muốn chỉ cho con người đang trong vòng mưu cầu Danh Lợi, tỏ rõ mà bước theo.
Ôi thôi ! Thánh nhân tại thượng, vị nhân tại hạ, bái kính !
Sửa bởi HieuHcmVN: 27/05/2025 - 08:19
VNhieu
28/05/2025
Địa Hỏa Minh Di
明夷: 利艱貞.
Minh di: Lợi gian trinh.
Chữ “Di” nghĩa là suy vi, là thương tổn. “Minh” nghĩa là sáng, là hiểu biết đúng đắn. Khi sự hiểu biết không còn đúng với sự thật nữa, khi ánh sáng đã bị “thương tổn” bởi mây mù, khiến cho cảnh quan mờ mịt ấy chính là thời kỳ của “Minh di”.
Kinh nói: Minh di, lợi gian trinh.
Vì sao lúc sự hiểu biết suy giảm sai lệch thì lại có “lợi” ? Vì hiểu sai rồi thì suy nghĩ sẽ sai, suy nghĩ sai rồi thì hành động tất tà vạy, tà nghĩa là trái với quy luật, vạy nghĩa là lệch lạc không đúng đường. Con người sống trong Trời Đất, lại làm trái với lý lẽ của Trời Đất thì sao tránh khỏi thất bại cho được. Thất bại rồi thì bớt kiêu căng, ngạo mạn; mới thấy mình còn kém cỏi tầm thường; nhờ vậy mà tự rút kinh nghiệm, tự sửa chữa sai lầm, tự rèn lại tâm tánh, ấy là một cái “lợi”.
“Trinh” là sự trong sáng, sự ngay thẳng, là tiết hạnh cao quý; nay do bị “minh di” nên thành ra khó thể biểu hiện, khó thể giữ gìn, trở ngại như vậy gian nan như thế nên gọi là “gian trinh”. Như người đi dưới mưa giữ đồ quý khỏi ướt, như Huyền Trang qua sông lớn giữ Kinh thư cho được khô lành; thứ quý giá bên mình, bình thường xem nhẹ, nay do nghịch cảnh xuất hiện khiến cho tâm ý quay lại giữ gìn trân trọng, ấy là cái “lợi” thứ hai.
Người xưa nói: “Thiên dục kỳ vong, tất lệnh kỳ cuồng” – Trời muốn diệt ai, ắt khiến họ kiêu ngạo; ấy thế thì sự dẹp bỏ kiêu ngạo, tạo cơ hội để sự kiêu ngạo bị làm suy yếu, khiến cho tàn lụi; thế là chỗ “thương” của Trời với thế nhân rồi, cho nên Thánh nhân tỏ rõ, nói là “lợi” vậy. Thương trường như chiến trường, binh thư nói "kiêu binh tất bại", cũng là thuận theo ý Trời mà răn dạy cho người lãnh xứ mệnh làm "Tướng" phải nên tự giác mà cẩn trọng !


