“Ngày 9/4/1945, Elzer bị bắn chết, chỉ 4 tuần trước khi Thế chiến II kết thúc ở châu Âu.” (theo Wikipedia).
Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa Alzer bị bắn ngày 9/4/1945
Ngày 9/4/1945 là năm Ất Dậu thuộc đại vận Đinh Tị và tiểu vận Giáp Thân (vì chưa qua ngày sinh nhật 4/13).
Ta thấy có bán hợp của Tý trụ tháng với Thìn trụ ngày hóa Thủy (vì có Nhâm làm thần dẫn).
Có tam hợp của Sửu trụ giờ với Tị đại vận và Dậu lưu niên hóa Kim (vì có Tân trụ giờ làm thần dẫn). Tam hợp này đã phá tan cả cục và hợp của lục hợp của Tị đại vận với Thân tiểu vận hóa Thủy (vì có Nhâm làm thần dẫn).
Có 3 Nhâm trong tứ trụ hợp khắc Đinh đại vận.
Ta thấy năm Ất Dậu (1945) có tam hợp Ti Dậu Sửu hóa Kim nên trong tứ trụ không còn Sửu (Thổ) là hành Quan Sát của Thủy mà Thủy có 35,48đv và có 5 can chi lại lớn hơn hỷ dụng 1 Mộc trên 30đv nên thành cách Tòng Thủy là cái chắc.
Nếu thành cách Tòng Thủy thì năm Ất Dậu không thể xấu mà phải là năm đại phát Tài hay Quan mới đúng (vì Kim, Thủy và Mộc đều là hỷ dụng thần, nhất là có Kim cục). Điều này là không thể chấp nhận được nên chắc chắn điểm vượng trong vùng tâm phải được tính lại. Ta thấy Sửu (Thổ) hóa Kim nên Thổ còn 0đv, hành Kim từ 7,05đv được thêm 1,89đv của Sửu thành 8,94đv còn các hành khác không thay đổi. Như vậy vẫn thành cách Tòng Thủy là không thể chấp nhận được.
Vì có kỵ thần 1 là Nhâm (Thủy) động (vì Nhâm hợp với tuế vận) nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận. Kim có 8,94đv được thêm 7,33đv của Dậu đại vận, 7đv của Dậu lưu niên và 8,75đv của Thân tiểu vận thành 32,02đv. Hỏa có 0đv được thêm 7,33đv của Đinh đại vận thành 7,33đv. Mộc có 3,33đv được thêm 4,33đv của Ất lưu niên thành 7,66đv còn Thủy vẫn có 35,48đv. Nếu như vậy thì Thủy vẫn là hành kỵ 1 và vẫn thành cách Tòng Thủy là một điều không thể chấp nhận được.
Do vậy bằng một cách hợp lý nào đó ta làm cho điểm vượng của hành Kim lớn hơn hành Thủy hoặc làm hành Thủy nhỏ hơn hành Kim thì khi đó hành Kim mới là hành kỵ 1 nhưng không thể Tòng Kim được vì có Đinh đại vận là Quan Sát của Kim (vì Đinh khắc Kim cục của chi Dậu cùng trụ với các chi trong tứ trụ) nên cách Tòng Kim không thể được tạo thành.
Ta thấy có 3 Nhâm trong tứ trụ hợp với tuế vận không hóa nên có thể đưa ra quy tắc :
1 - Mỗi can hay chi trong tứ trụ hợp với tuế vận không hóa thì điểm vượng trong vùng tâm của chúng bị giảm 1/5.
Nếu áp dụng quy tắc này thì điểm vượng trong vùng tâm của 3 Nhâm giảm đi 1/5 là (7,03 + 9 + 8).1/5đv = 4,806đv. Do vậy Thủy có 35,48đv bị giảm 4,806đv còn 30,67đv. Sửu trụ giờ hóa Kim có 1,89đv giảm 1/5 là 0,378đv. Do vậy Kim có 32,02đv giảm 0,378đv còn 31,64đv. Ta thấy Kim đã lớn hơn Thủy nên Kim đã trở thành kỵ thần 1. Vì vậy cách Tòng Kim không thể được tạo thành. Kim là kỵ vượng chỉ lớn hơn hỷ dụng 1 (Thổ) 20đv là (31,64 – 7,66)đv = 23,98đv nên điểm hạn kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.
Ở đây ta phải thừa nhận quy tắc mới có một không hai (tức ngoại lệ của ngoại lệ) :
2 - Nếu một chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục mà có thể tạo thành Tòng cách thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm và phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận, khi đó điểm hạn ngũ hành vẫn thay đổi như bình thường (tức Dụng thần có thể bị thay đổi).
Nếu áp dụng cả 2 quy tắc trên thì ta thấy Thân quá vượng mà Kiêu Ấn là kỵ thần 1 nên Dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Hỏa). Dụng thần chính là Bính tàng trong Dần trụ năm, hỷ thần là Thực Thương và Quan Sát, còn kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.
1 - Dụng thần Bính tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
3 - Giáp tiểu vận có 1 cát thần có 0,25.50%đh = 0,125đh (vì điểm hạn của Thần Sát ở tiểu vận giảm 50%). Ở đây lấy điểm hạn chính xác tới 1/%.
4 - Tam hợp Tị Dậu Sửu hóa Kim có 0,75đh. Tị đại vận và Dậu lưu niên mỗi chi có 2.0,5đh.
5 - Tân trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Ất lưu niên có 1đh, và có oddh can động. Ất lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị Tân khắc mất hết.
3 Nhâm được lệnh và vượng ở lưu niên hợp khắc Đinh đại vận mỗi lực có 0,5đh, và 0đh can động. Đinh đại vận vượng ở lưu niên có -1đh can động nhưng bị khắc bởi 3 Nhâm còn -1.50%.50%.50%đh = -0,125đh (ở đây lấy điểm hạn chính xác tới 1%).
6 - Đất trên tường trụ giờ có Tân được lệnh (và vượng ở lưu niên) khắc nước Sông trụ ngày có 1đh.
Tổng số có 5,00đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó đủ sức gây ra tử vong.
(Chú ý : Ở đây ta phải lấy 2 điểm hạn chính xác tới 1% mới có được 5,00đh. Điều này chứng tỏ tất cả điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là hoàn toàn chính xác.)
Mọi người thử tìm xem biết đâu lại có cách luận giải khác với cách luận này của tôi chăng ?
Một lần nữa ta lại thấy ngày 9/4 là ngày Mậu Thân TKĐX với trụ năm Nhâm Dần, Elzer đã bị sử bắn. Mặc dù trước đó có ngày 8/2 là ngày Mậu Thân thuộc tháng Mậu Dần và ngày 28/3 là ngày Bính Thân thuộc tháng Kỷ Mão đều TKĐX với trụ năm Nhâm Dần lại bình an, tại sao vậy ? Có thể 2 ngày này thuộc tháng Dần và Mão lên hỷ thần Mộc lâm quan, Đế vượng ở vận có thể sinh cho dụng thần Bính vượng ở Dần và Mão, trong khi dương Thủy lại hưu tù, tử tuyệt ở 2 tháng này nên Dụng thần Bính đủ sức ngăn cản tai họa xẩy ra chăng ?
Sửa bởi SongHongHa: Hôm nay, 08:50
















