Ví dụ số 27 : Bé trai ốm nặng may thoát chết
Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn
Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Dậu trụ ngày với Tị trụ giờ hóa Kim (vì có Tân làm thần dẫn). Mặc dù Kim cực vượng có tới 5 can chi nhưng không thể Tòng Kim (vì có Ngọ trụ năm là Quan Sát của Kim). Thân của tứ trụ này quá nhược vì có mỗi Nhật can Ất ở trạng thái tử tuyệt còn bị Quan Sát cực vượng có tới 5 can chi (Lâm quan) hội tụ khắc mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có. Do vậy không thể lấy Nhật can làm dụng thần mà phải lấy kỵ thần Thực Thương là can Đinh tàng trong Ngọ trụ năm, có 6đv (vì lực khắc của Thực Thương với Quan Sát lợi hơn nhiều lần làm xì hơi Nhật can). Vì phải lấy kỵ thần làm dụng thần nên nó phải có ít nhất 0,5đh (coi như Dụng thần ở tử tuyệt tại lệnh tháng).
Tai họa xẩy ra vào năm Tân Dậu (1981) chưa vào đại vận (tháng 11/1984) nên ta phải lấy 2 tiểu vận là Giáp Thân và Ất Dậu thay thế đại vận. Ta xét tiểu vận Ất Dậu vì có thêm nhiều điểm hạn của Tân khắc Ất và Dậu hợp với Tị hóa Kim.
Vì có Kim cục 2 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Kim hay có chi tuế vận hợp với chi trong tứ trụ hóa Kim nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận điểm hạn và điểm vượng của ngũ hành được diễn tả trong sơ đồ trên. Dụng thần không thay đổi còn điểm vượng của Hỏa lớn hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 60đv nên Hỏa là kỵ vượng. Ở đây điểm kỵ vượng được tăng bao nhiêu lần ?
1 - Dụng thần Đinh có 0,5đh (vì là kỵ thần lấy làm dụng thần), dụng thần Đinh vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
2 - Nhật can Ất tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
3 - Bán hợp Kim cục có 0,5đh (vì chỉ có 2 chi ở tuế vận có điểm hạn còn 2 chi trong tứ trụ đã hóa Kim từ khi sinh). Dậu đại vận và Dậu Lưu niên là kỵ vượng có x.0,5đh kỵ vượng (vì hóa cục Kim là kỵ vượng và được tăng x lần, sẽ xét sau).
4 - Tân trụ tháng và Tân trụ giờ vượng ở lưu niên khắc Ất đại vận và Ất trụ ngày mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động. Tân lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Ất, mỗi lực có 0,7đh, có 0,5đh can động và có 1 cát thần có -0,25đh.
Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh nhưng bị 3 Tân khắc còn -0,25.0,3.0,3.0,3đh = -0,01đh, có 0đh can động. Ất trụ ngày thất lệnh còn nhược ở tuế vận có 0đh can động.
5 - Gỗ Lựu trụ tháng và gỗ Lựu lưu niên khắc Kim giá đèn trụ giờ có 0đh (vì không có lửa yếu là Lửa đèn).
Chưa xét đến điểm kỵ vượng của 2 Dậu ở tuế vận thì ta có Tổng số là 5,44đh. Ví dụ này giống ví dụ 26 trên (vì trong tứ trụ có 2 Dậu, trong đó Dậu trụ ngày hợp với Tị trụ giờ hóa Kim rồi hợp với tuế vận hóa Kim) nên Tổng điểm hạn được giảm giữa 2 mức 1/3 và 5/12. Do vậy điểm kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi nên có thêm 2.2.0,5đh = 2đh. Tổng số có 7,44đh sau khi giảm còn 7,44.(2/3+7/12).1/2 = 4,65đh. Số điểm này quá thấp không thể chấp nhận được vì nó chỉ gây ra tai họa nặng chứ không phải là thoát chết. Nếu điểm kỵ vượng tăng gấp 3 thì Tổng số có 8,44đh sau khi giảm còn tới 5,27đh. Số điểm này thừa sức gây ra tử vong nên cũng không thể chấp nhận được.
Bây giờ ta thấy chỉ cần tìm thêm khoảng 0,25đh nữa là được vì khi đó Tổng số còn lại là (7,44+0,25).(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Mặc dù không có Lửa yếu là lửa Đèn nhưng ta thấy lửa Mặt trời mạnh hơn lửa Đèn không quá nhiều (vì nó giúp cho các loại cây sống được) nên có thể coi là Lửa hơi mạnh nên vẫn giúp các loại gỗ khắc được Kim giá đèn. Ta giả sử cho các loại gỗ khắc Kim giá đèn giảm 50% đh khi có lửa Mặt trời so với số điểm hạn mà các loại gỗ khắc Kim giá đèn khi có Lửa yếu là Lửa đèn xem sao ?
Nếu sử dụng giả thiết này (vì 2 lửa này có thể giúp cây sống và phát triển được?) thì khi có lửa Mặt trời, mỗi lực gỗ Lựu khắc Kim giá đèn có 0,25.50%đh = 0,13đh. Khi đó ta có thêm 2.0,13đh = 0,26đh. Tổng số có 7,7đh sau khi giảm còn 7,7.(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Số điểm này quá chính xác vì nó ứng hợp với thực tế là may mắn thoát chết (từ 4,75đh đến dưới 4,9đh).
Vì đến giờ chúng ta vẫn không biết dựa vào đâu mà người ngoài hành tinh của chúng ta nạp âm cho Bảng 60 năm Giáp Tý nên đành phải suy luận như vậy.
Nếu lấy dụng thần đầu tiên là Ất trụ ngày thì kỵ thần Hỏa có 1đh, khi đó Tổng số trên 10đh, sau khi giảm còn trên 6đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được.
Tôi thấy ví dụ này Quá Đặc Biệt nên cố gắng đưa vào đây luận thử xem sao ?
Hy vọng mọi người tham gia bình xem bài luận này có sai hay không chặt chẽ ở chỗ nào không ?
Xin cám ơn mọi người trước.
Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Khi Thân quá nhược còn Quan Sát lại quá vượng nhưng không thể Tòng mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có thì dụng thần đầu tiên có thể là Thực Thương có 0,5đh (vì kỵ thần lấy làm dụng thần thì coi như dụng thần tử tuyệt tại lệnh tháng).
2 - Các loại gỗ khắc Kim giá đèn gặp lửa yếu là Lửa đèn có 0,25đh, gặp Lửa mặt trời mạnh hơn Lửa đèn nên chỉ có 0,13đh, còn gặp các loại Lửa khác quá mạnh đều có 0đh (khi không có lửa thì các loại gỗ sẽ chết nên không khắc được Kim giá đèn chăng ?).
3 - Khi chưa vào đại vận thì sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận một hành là kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên.
4 - Một tổ hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục phải có ít nhất 4 chi có điểm hạn thì khi hóa cục đó là kỵ vượng mới được tăng như điểm kỵ vượng.
5 - Chi tuế vận hợp với chi hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hóa cục; hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hợp với chi tuế vận đều là Quy tắc 102, tức phải tính lại và tính thêm điểm vượng ở tuế vận, khi đó dụng thần có thể bị thay đổi (vds13;27).
Sửa bởi SongHongHa: Hôm nay, 14:42