Jump to content

Advertisements




“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)


  • Bạn không thể gửi trả lời cho chủ đề này
174 replies to this topic

#166 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 03/05/2026 - 13:48

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

GoodFox, on 30/04/2026 - 11:28, said:

Bác nghiệm tương lai xem đúng được mấy phần, toàn lấy quá khứ ra phán vậy

Nếu quá khứ mà sai thì nói gì tới tương lai ?

Hơn nữa quá khứ đúng thì mới biết giờ sinh chính xác chứ ?

Sửa bởi SongHongHa: 03/05/2026 - 13:54


#167 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 03/05/2026 - 14:35

Ví dụ số 27 : Bé trai ốm nặng may thoát chết

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Dậu trụ ngày với Tị trụ giờ hóa Kim (vì có Tân làm thần dẫn). Mặc dù Kim cực vượng có tới 5 can chi nhưng không thể Tòng Kim (vì có Ngọ trụ năm là Quan Sát của Kim). Thân của tứ trụ này quá nhược vì có mỗi Nhật can Ất ở trạng thái tử tuyệt còn bị Quan Sát cực vượng có tới 5 can chi (Lâm quan) hội tụ khắc mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có. Do vậy không thể lấy Nhật can làm dụng thần mà phải lấy kỵ thần Thực Thương là can Đinh tàng trong Ngọ trụ năm, có 6đv (vì lực khắc của Thực Thương với Quan Sát lợi hơn nhiều lần làm xì hơi Nhật can). Vì phải lấy kỵ thần làm dụng thần nên nó phải có ít nhất 0,5đh (coi như Dụng thần ở tử tuyệt tại lệnh tháng).

Tai họa xẩy ra vào năm Tân Dậu (1981) chưa vào đại vận (tháng 11/1984) nên ta phải lấy 2 tiểu vận là Giáp Thân và Ất Dậu thay thế đại vận. Ta xét tiểu vận Ất Dậu vì có thêm nhiều điểm hạn của Tân khắc Ất và Dậu hợp với Tị hóa Kim.
Vì có Kim cục 2 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Kim hay có chi tuế vận hợp với chi trong tứ trụ hóa Kim nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận điểm hạn và điểm vượng của ngũ hành được diễn tả trong sơ đồ trên. Dụng thần không thay đổi còn điểm vượng của Hỏa lớn hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 60đv nên Hỏa là kỵ vượng. Ở đây điểm kỵ vượng được tăng bao nhiêu lần ?


1 - Dụng thần Đinh có 0,5đh (vì là kỵ thần lấy làm dụng thần), dụng thần Đinh vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
2 - Nhật can Ất tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
3 - Bán hợp Kim cục có 0,5đh (vì chỉ có 2 chi ở tuế vận có điểm hạn còn 2 chi trong tứ trụ đã hóa Kim từ khi sinh). Dậu đại vận và Dậu Lưu niên là kỵ vượng có x.0,5đh kỵ vượng (vì hóa cục Kim là kỵ vượng và được tăng x lần, sẽ xét sau).
4 - Tân trụ tháng và Tân trụ giờ vượng ở lưu niên khắc Ất đại vận và Ất trụ ngày mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động. Tân lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Ất, mỗi lực có 0,7đh, có 0,5đh can động và có 1 cát thần có -0,25đh.
Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh nhưng bị 3 Tân khắc còn -0,25.0,3.0,3.0,3đh = -0,01đh, có 0đh can động. Ất trụ ngày thất lệnh còn nhược ở tuế vận có 0đh can động.
5 - Gỗ Lựu trụ tháng và gỗ Lựu lưu niên khắc Kim giá đèn trụ giờ có 0đh (vì không có lửa yếu là Lửa đèn).

Chưa xét đến điểm kỵ vượng của 2 Dậu ở tuế vận thì ta có Tổng số là 5,44đh. Ví dụ này giống ví dụ 26 trên (vì trong tứ trụ có 2 Dậu, trong đó Dậu trụ ngày hợp với Tị trụ giờ hóa Kim rồi hợp với tuế vận hóa Kim) nên Tổng điểm hạn được giảm giữa 2 mức 1/3 và 5/12. Do vậy điểm kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi nên có thêm 2.2.0,5đh = 2đh. Tổng số có 7,44đh sau khi giảm còn 7,44.(2/3+7/12).1/2 = 4,65đh. Số điểm này quá thấp không thể chấp nhận được vì nó chỉ gây ra tai họa nặng chứ không phải là thoát chết. Nếu điểm kỵ vượng tăng gấp 3 thì Tổng số có 8,44đh sau khi giảm còn tới 5,27đh. Số điểm này thừa sức gây ra tử vong nên cũng không thể chấp nhận được.
Bây giờ ta thấy chỉ cần tìm thêm khoảng 0,25đh nữa là được vì khi đó Tổng số còn lại là (7,44+0,25).(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Mặc dù không có Lửa yếu là lửa Đèn nhưng ta thấy lửa Mặt trời mạnh hơn lửa Đèn không quá nhiều (vì nó giúp cho các loại cây sống được) nên có thể coi là Lửa hơi mạnh nên vẫn giúp các loại gỗ khắc được Kim giá đèn. Ta giả sử cho các loại gỗ khắc Kim giá đèn giảm 50% đh khi có lửa Mặt trời so với số điểm hạn mà các loại gỗ khắc Kim giá đèn khi có Lửa yếu là Lửa đèn xem sao ?
Nếu sử dụng giả thiết này (vì 2 lửa này có thể giúp cây sống và phát triển được?) thì khi có lửa Mặt trời, mỗi lực gỗ Lựu khắc Kim giá đèn có 0,25.50%đh = 0,13đh. Khi đó ta có thêm 2.0,13đh = 0,26đh. Tổng số có 7,7đh sau khi giảm còn 7,7.(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Số điểm này quá chính xác vì nó ứng hợp với thực tế là may mắn thoát chết (từ 4,75đh đến dưới 4,9đh).

Vì đến giờ chúng ta vẫn không biết dựa vào đâu mà người ngoài hành tinh của chúng ta nạp âm cho Bảng 60 năm Giáp Tý nên đành phải suy luận như vậy.

Nếu lấy dụng thần đầu tiên là Ất trụ ngày thì kỵ thần Hỏa 1đh, khi đó Tổng số trên 10đh, sau khi giảm còn trên 6đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được.


Tôi thấy ví dụ này Quá Đặc Biệt nên cố gắng đưa vào đây luận thử xem sao ?
Hy vọng mọi người tham gia bình xem bài luận này có sai hay không chặt chẽ ở chỗ nào không ?
Xin cám ơn mọi người trước.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Khi Thân quá nhược còn Quan Sát lại quá vượng nhưng không thể Tòng mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có thì dụng thần đầu tiên có thể là Thực Thương có 0,5đh (vì kỵ thần lấy làm dụng thần thì coi như dụng thần tử tuyệt tại lệnh tháng).
2 - Các loại gỗ khắc Kim giá đèn gặp lửa yếu là Lửa đèn có 0,25đh, gặp Lửa mặt trời mạnh hơn Lửa đèn nên chỉ có 0,13đh, còn gặp các loại Lửa khác quá mạnh đều có 0đh (khi không có lửa thì các loại gỗ sẽ chết nên không khắc được Kim giá đèn chăng ?).
3 - Khi chưa vào đại vận thì sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận một hành là kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên.
4 - Một tổ hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục phải có ít nhất
4 chi có điểm hạn thì khi hóa cục đó là kỵ vượng mới được tăng như điểm kỵ vượng.
5 - Chi tuế vận hợp với chi hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hóa cục; hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hợp với chi tuế vận đều là Quy tắc 102, tức phải tính lại và tính thêm điểm vượng ở tuế vận, khi đó dụng thần có thể bị thay đổi (vds13;27).

Sửa bởi SongHongHa: 03/05/2026 - 14:42


#168 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 07/05/2026 - 14:25

Tôi (VULONG) đã tìm ra “Thuyết trường thống nhất” mà hơn thế kỷ qua Albert Einstein cùng các nhà Vật Lý thế giới vẫn bó tay. Nó chính là lực hấp dẫn bởi vì lực hấp dẫn trong sao Lùn trắng đủ sức ép chặt các hạt ProtonNeutron với nhau, khi đó rõ ràng lực hấp dẫn không nhỏ hơn lực Hạt nhân mạnh hàng tỷ tỷ tỷ tỷ lần mà ngược lại nó lớn hơn lực Hạt nhân mạnh hàng tỷ tỷ tỷ tỷ lần. Còn lực hấp dẫn trong Lỗ đen còn lớn hơn nhiều tỷ tỷ... lần nữa vì nó đủ sức ép chặt các hạt QuarkGluon với nhau thành 1 khối. Nhưng tại tâm của Lỗ đen các hạt QuarkGluon không phải chịu lực hấp dẫn này nữa vì lực hấp dẫn lên chúng về mọi hướng là như nhau nên thật Ngớ Ngẩn khi Albert Einstein và các nhà Vật lý thế giới lại cho rằng các hạt Quark Gluon này vẫn tiếp tục bị lực hấp dẫn của Lỗ đen làm cho co lại tới mức thành điểm Kỳ Dị mà ở đó họ cho rằng Không gian Thời Gian không còn tồn tại.

Rõ ràng ở đây 3 lực là Điện từ, Hạt nhân mạnh và yếu chỉ là các trường hợp riêng của lực hấp dẫn nên "Thuyết trường thống nhất" chính là Lực Hấp Dẫn.

Qua đây tôi hy vọng thế hệ trẻ bây giờ không còn bị Thống Trị bởi sự suy luận Ngớ Ngẩn này nữa. Mặc dù tôi biết những tên “Tiến Sĩ Giấy” hay “Tiến Sĩ Lợn” vẫn đang ngăn cản tôi công bố “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” này, nhất là diễn đàn của “Hội Vật Lý Việt Nam”.

Dĩ nhiên “Thuyết trường thống nhất” chỉ có mục đích là thống nhất 4 lực cơ bản, nó không có liên quan gì đến việc giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ cũng như không giải thích được vận mệnh của con người, kể cả thời điểm tử vong của con người.

Trong khi “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” chính xác phải là “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất” bởi vì nó không những giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ mà còn giải thích được vận mệnh của con người, kể cả thời điểm tử vong.

Vậy thì “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất” có đáng nhận được giải Nobel Vật Lý hay không ?
(Mọi người nên nhớ rằng lòng cốt hay cội nguồn của“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” cách nay 7500 năm ở Ukraine Châu Âu là do người ngoài hành tinh của chúng ta phát minh ra đấy.)

Theo suy nghĩ Thiển Cận của tôi thì không dễ dàng gì đâu, chắc phải đợi đến ít nhất 350 năm nữa giống như Thuyết Nhật Tâm của Galileo Galilei ?

Có cuốn Kinh Thánh nào viết “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ” mà các Giáo Sĩ, đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã đưa Galileo Galilei lên giàn lửa thiêu khi qua kính thiên văn ông phát hiện ra Trái Đất không phải là trung tâm của vũ trụ mà quay xung quanh Mặt Trời. Rất may trước khi bị quẳng lên giàn lửa thiêu ông đã kịp nói “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ”. Chắc lúc đó ông còn trẻ, khỏe để tiếp tục nghiên cứu nên ông nghĩ không thể chết một cách Ngu Xuẩn như vậy bởi... Chính câu nói này đã cứu ông thoát khỏi lưỡi hái của Tử Thần từ Tòa Thánh Vatican. Khi về già biết không còn sống được lâu nữa ông đã công khai công bố công trình của mình về Thuyết Nhật Tâm. Dĩ nhiên ông đã bị các Hồng y, Giám mục... đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã kỷ niệm 60 gậy “đầy tình yêu thương” lên người ông. Nhà bác học đáng kính của chúng ta ra đi như vậy đấy. (Những thông tin này trước đây tôi đã đọc ở đâu đó nay quên mất rồi, nếu có sai sót gì mong mọi người lượng thứ bỏ qua cho tôi).

“Tòa thánh Vatican chính thức thừa nhận sai lầm trong việc kết tội
Galileo Galilei vào năm 1992. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức khép lại vụ án kéo dài hơn 350 năm, thừa nhận những sai lầm của các nhà thần học thời đó khi kết án Galileo vì quan điểm Trái đất quay quanh Mặt trời.” (Theo Wikipedia)

(Những ai quan tâm hãy gõ lên Google để đọc chủ đề “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa – bản hoàn chỉnh”)
............................................................................................


VULONG đã chứng minh được không có Vật Chất TốiNăng Lượng Tối.
VULONG đã chứng minh được Tốc Độ Ánh Sáng phụ thuộc vào Kích Thước của Trái Đất (khi người đo đứng ở Trái Đất).
Ai quan tâm xin gõ lên Google để đọc chủ đề "Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa - (bản hoàn chỉnh)".


VULONG là sinh viên đã tốt nghiệp khóa 23 (1978) khoa Vật Lý trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội (nay là trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội).
Năm thứ 4 chính cựu bộ trưởng bộ đại học và trung học lúc đó là Tạ Quang Bửu đã về dạy và làm chủ nhiệm lớp chuyên ngành mà anh ta học.


Ai muốn biết thêm về VULONG hãy gõ lên Google để đọc chủ đề "VULONG : Thằng Bờm hay Thánh Nhân - phần 1 , 2 và viết tiếp". Chủ đề này chính là hồi ký của VULONG, tất cả đều là sự thật đã xẩy ra trong đời thực. Nhiều đoạn đọc như Huyền Thoại nhưng anh ta xin lỗi vì bây giờ chưa thể giải thích được. Sau này mọi người sẽ biết qua cuốn sách có tên "Những Huyền Thoại Của Đời Tôi".
…...................................................................................................

Tôi hy vọng mọi người truyền giúp tôi bài viết này tới các bạn trẻ, nhất là các sinh viên khoa Vật Lý tại các trường đại học trên toàn thế giới.

Xin cám ơn mọi người trước.

Sửa bởi SongHongHa: 07/05/2026 - 14:42


#169 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 08/05/2026 - 12:15

Bài trên tôi đã sai khi viết Sao Lùn Trắng xin đổi lại là Sao Neutron.

Thành thật xin lỗi mọi người.

#170 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 08:58

Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.


Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Canh Thân :
Ta thấy có ngũ hợp của Bính đại vận với Tân trụ năm không hóa (vì không có thần dẫn là Thủy), còn có lục hợp của Mão lưu niên với Tuất đại vận hóa Hỏa thành công (vì có thần dẫn Bính, Đinh...). Với 2 tổ hợp này (1 hóa cục còn 1 thì không) mà không phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm thì năm Đinh Mão chắc chắn đại phát Tài chứ không thể Phá sản như vậy được (vì có thêm Hỏa cục là dụng thần).
Do vậy ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại điểm vượng của ngũ hành được mô tả trong sơ đồ trên. Ta thấy Hỏa chỉ có 24,17đv không lớn hơn hỷ dụng 1 (có 7,48đv) trên 20đv nên cách Tòng (Hỏa) bị phá. Thân quá vượng mà Kiêu Ấn ít còn Quan Sát thì không có nên dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương (Thổ), can làm dụng thần chính là Mậu tàng trong Tị trụ năm (vì có Tị sinh cho, không phải Mậu tàng trong Dần trụ tháng vì Dần khắc Mậu), hỷ thần là Kim và Thủy, còn kỵ thần là Mộc và Hỏa. Sau khi tính thêm ở tuế vận điểm kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv nên điểm kỵ vượng được tăng gấp 3.
1 - Dụng thần Mậu vượng ở lưu niên Mão có -1đh, nhưng nhập Mộ ở đại vận Tuất có 1đh.
2 - Nhật can Đinh hưu tù tại lưu niên Mão có 0đh.
3 - Lục hợp của Mão với Tuất hóa Hỏa có 0,5đh, mỗi chi Tuất và Mão có 3.0,5đh kỵ vượng.
3 - Bính đại vận vượng ở lưu niên hợp khắc Tân trụ năm có 0,5đh, còn có 3.0,5đh kỵ vượng. Tân trụ năm thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,25đh can động bị giảm 50% (vì Bính khắc) còn -0,13đh.
Đinh lưu niên nhược ở cả tuế và vận nên khắc Canh tiểu vận và Canh trụ tháng đều có 0đh, và có 0đh can động (chú ý can tiểu vận không bao giờ có điểm hạn can động). Khi đó Đinh trụ ngày thất lệnh và nhược ở tuế vận mới khắc Canh trụ tháng có 0đh, và có 0đh can động. Canh trụ tháng thất lệnh và nhược ở tuế vận có 0đh can động.
Thân tiểu vận có 3 hung thần có 3.0,13đh.
4 - Lửa trong lò lưu niên có can của nó nhược ở tuế vận nên khắc gỗ Tùng trụ tháng có 0đh.
Đất mái nhà đại vận có can của nó vượng ở lưu niên khắc nước Mưa ở trụ ngày và trụ giờ có hiệu số của 2,5đk (tổng số điểm khắc của can và nạp âm cùng trục) trừ đi phần điểm khắc mà can của nó đã sử dụng là (2,5-1)đk = 1,5đk có thể gây ra 1,5đh (can Bính của nạp âm đã dùng 1đk để khắc Tân trụ năm gây ra 0,5đh, vì khác dấu). Do vậy mỗi lực khắc nước Mưa này có 1,5.1/2đh = 0,75đh, bị giảm thêm 50%đh do can và chi của nạp âm đều hợp với tuế vận (sẽ nói sau) còn 0,75.50%đh = 0,38đh.
Can của nạp âm hay nạp âm không bị giảm điểm hạn do bị khắc nào cả nên mặc dù chi của nạp âm là Tuất hóa Hỏa nhưng không sinh được điểm hạn nào cho nạp âm (mang hành Thổ).
Tổng số có 7,01đh. Số điểm này được giảm 1/3 (vì tam hội cục trong tứ trụ hóa cục có 3 chi không liền nhau và cả 3 trụ đều động) còn 7,01.2/3đh = 4,67đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó ứng hợp với thực tế là phá sản.

Mức độ tai họa nặng nhẹ theo thang điểm 5 (dựa theo các thông tin của tứ trụ với tuế vận)
1 - Từ 4đh (điểm hạn) đến 4,4đh, chỉ có hạn nhẹ, có thể phải đến bệnh viện nhưng không phải nằm lại bệnh viện để điều trị lâu dài.
2 - Từ 4,4đh đến dưới 4,6đh, có hạn nặng, phải nằm ở bệnh viện để điều trị, hoặc bị phá tài hay lao tù nhẹ .
3 - Từ 4,6đh đến dưới 4,8đh, hạn khá nặng có thể phải cấp cứu, hoặc bị phá sản hay lao tù nặng.
4 - Từ 4,8đh đến dưới 4,9đh, hạn rất nặng có thể bị ngất.
5 - Từ 4,9đh đến dưới 5.00đh, hạn cực nặng có thể tới mức chết lâm sàng.
6 - Từ 5,0đh trở lên có thể dẫn tới tử vong nếu không có cách nào giải cứu được.
Theo phương pháp này sai số có thể từ - 0,05đh tới + 0,05đh ?
Tôi đã dùng Toán Học để xác định Tai Họa nặng hay nhẹ như vậy đấy

Tiểu vận Canh Thân từ ngày Giáp Thân (4/2) đến ngày Mậu Thân (28/2) chỉ có 24 ngày. Trong đó có ngày Đinh Hợi (6/2) là ngày TKĐX với năm sinh Tân Tị (1987) là đáng ngại nhất, sau đó mới tới ngày Bính Ngọ (26/2) là ngày có can chi đều là Hỏa nên Hỏa cực vượng.

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.

3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.

Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 09:19


#171 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 15:32

Tôi vừa đăng bài viết "Phản Biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối" lên diễn đàn "Hội Vật Lý Việt Nam" xem lần này họ còn xóa hay không ?

Phản biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 15:57


#172 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 17:11

Ở câu " 6 - Phản biện Năng Lượng Tối trong Vũ Trụ" ở bài trên tôi đã sai nên xin bỏ đoạn sau :

" Do vậy Năng Lượng Tối không những phải

Chất Tối Vật Chất nhìn thấy."

Thành thật xin lỗi mọi người vì sự sơ xuất này.

(Nếu thời gian sửa bài kéo dài khoảng 6 tiếng thì cám ơn Ban điều hành diễn đàn nhiều.)

Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 17:18


#173 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 15/05/2026 - 08:34

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 13/05/2026 - 15:32, said:

Tôi vừa đăng bài viết "Phản Biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối" lên diễn đàn "Hội Vật Lý Việt Nam" xem lần này họ còn xóa hay không ?

Phản biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


.......................................................................................
........................................................................................

.......................................................................................

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



...........................................................................................................................

Phần cuối bài viết trên tôi đã sơ xuất bỏ mất một đoạn không đăng nay xin đăng đầy đủ như sau :
............................................................................................................................

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


.....................................................................................................................

Thành thật xin lỗi mọi người vì sự cẩu thả này.

Sửa bởi SongHongHa: 15/05/2026 - 08:59


#174 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 17/05/2026 - 13:03

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 13/05/2026 - 08:58, said:

Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.


..................................................................................................
.................................................................................................

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.

3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.

Ví dụ số 28 trên phần Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi : tôi luận chưa đầy đủ nay xin luận thêm :

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ trường hợp này rõ ràng ta thấy nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau nếu không xẩy ra tai họa khác thì Tổng số được giảm ít nhất 20% còn lại là (7,01-3.0,13+1,5).4/5.2/3đh = 5,41đh.5,41.80%đh = 4,33đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó không đủ sức gây ra bất kỳ thêm tai họa nào cả. Nhưng nếu thực tế tiểu vận sau là Kỷ Mùi vẫn xẩy ra tiếp tai họa nào đó thì ta phải giảm thêm tỉ lệ giảm ở tiểu vận Kỷ Mùi xuống mức thấp hơn (như 10% hay 5% ...chẳng hạn ?) để nó ứng hợp với tai họa nặng hay nhẹ đã diễn ra trong thực tế.
Còn nếu vì sao đó mà tiểu vận đầu là Canh Thân chưa xẩy ra tai họa nặng hay nhẹ nào cả thì đến tiểu vận sau là Kỷ Mùi chắc tai họa nặng hay nhẹ sẽ xẩy ra theo đúng số điểm hạn của nó.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
4 - Nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau Tổng số điểm thường bị giảm thêm khoảng 20% hoặc nhỏ hơn nếu có tai họa khác xẩy ra.

Sửa bởi SongHongHa: 17/05/2026 - 13:30


#175 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 516 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 20/05/2026 - 10:50

Ví dụ số 29 : Bé gái bị chết đuối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Ngọ trụ tháng với Mùi trụ ngày hóa Thổ thành công (vì có Mậu là thần dẫn). Ta thấy Thực Thương (Thổ) quá cường vượng nhưng không thể Tòng (vì có Giáp trụ giờ là Quan Sát khắc được 4 can chi Thổ - nhưng 2 chi Thổ cục không khắc được). Thổ là hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Tỷ Kiếp (Hỏa) trên 20đv nhưng điểm kỵ vượng không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, nên dụng thần chính là Ất tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Hỏa còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.

Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990) chưa vào đại vận, thuộc tiểu vận thứ 2 thay đại vận là Tân Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 21/6). Nó thuộc tháng Quý Mùi (tháng 7) và ngày Giáp Thìn (ngày18) của năm Canh Ngọ.
Lục hợp Thổ trong tứ trụ hợp với lưu niên Ngọ hóa Thổ nên điểm vượng trong vùng tâm phải tính lại. Sau khi tính lại ta thấy điểm vượng của Thổ coi như không thay đổi nên Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành không thay đổi. Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận ta thấy hành kỵ vượng (Thổ) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 30đv nên điểm kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993).

1 - Dụng thần Ất vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
2 - Nhật can Đinh nhập mộ tại đại vận Sửu có 1đh (vì Thân nhược), nhưng vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Sửu đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và 1 hung thần có 0,25đh.
4 - Lục hợp Thổ cục trong tứ trụ hợp với Ngọ lưu niên có 0,25đh (vì chỉ có Ngọ lưu niên có điểm hạn). Ngọ lưu niên hóa Thổ có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Đinh trụ ngày được lệnh lại vượng ở lưu niên khắc Tân đại vận có 0,7đh và Canh lưu niên có 0,38đh (vì khác dấu), có 0đh can động.
Tân đại vận nhược ở cả tuế và vận nên có 0đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 0đh. Canh lưu niên vượng ở lưu niên có 1đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng đều bị giảm 35%đh (do Đinh khắc) còn 0,65đh.
Giáp trụ giờ thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị giảm 65%đh (do Canh khắc) còn -0,5.35%đh = -0,18đh. Lực khắc của Giáp trụ giờ với Thổ cục có 0,5đk cũng bị giảm 65% (do Canh khắc) còn 0,5.0,35đk = 0,18đk (lực này không gây ra điểm hạn). Do vậy Thổ cục có 0,25đh bị giảm 18% còn 0,25.82%đh = 0,21đh.
6 - Lửa mặt trời trụ tháng có Mậu vượng ở lưu niên khắc Lửa đèn trụ giờ có 1đh.
Đất ven đường lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Nước mưa trụ ngày có 1đh.
Đất trên tường đại vận có Tân nhược ở cả tuế và vận khắc Nước mưa trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 4,93đh. Số điểm này cho dù được cộng thêm sai số 0,05đh vẫn chỉ là 4,98đh nên khó có thể chấp nhận được (vì nó rất khó gây ra tử vong). Do vậy ta phải tìm một lý do nào đó hợp lý, có logic mà có thể gây ra thêm 0,05đh là được.
Ở đây ta thấy chỉ có lý do về điểm kỵ vượng là đáng quan tâm nhất. Bởi vì điểm kỵ vượng được tăng từ 2 hay 3 lần trở lên… chắc chắn phải có thêm một sai số nào đó mới hợp lý ? Do vậy ta đưa ra giả thiết nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm +0,05đh.
Nếu sử dụng giả thiết này thì ta thấy điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 2 lần nên có thêm 0,05đh.
Tổng số là (4,93+0,05+0,05)đh = 5,03đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức để gây ra tử vong - 5,00đh).

Ta thấy năm Canh Ngọ hành Thổ quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra liên quan tới hành Thổ đại diện nhưng ở đây nó lại liên quan tới hành Thủy (vì chết đuối) là hành yếu nhất còn là hành bị hành vượng nhất của 5 hành trong tứ trụ khắc nên bị chết đuối. Điều này chứng tỏ tai họa xẩy ra không chỉ liên quan tới hành vượng nhất mà còn liên quan tới hành nhược nhất mà hành vượng nhất khắc.
Nhưng tại sao tai họa không xẩy ra vào các tháng Tị hay Ngọ là các tháng Thổ cực vượng còn Thủy thì cực nhược mà lại xẩy ra vào tháng Mùi ? Bởi vì điểm hạn của hành kỵ vượngThổ quá quan trọng để gây ra tai họa này nên Mùi trụ ngày là yếu tố then chốt vì nó hợp với Ngọ trụ tháng và Ngọ lưu niên hóa Thổ. Do vậy tai họa không xẩy ra vào tháng Tị hay Ngọ mà phải xẩy ra vào tháng Mùi là vậy. Ta thấy ngày sinh nhật là ngày 21/6/1990 chính là ngày bắt đầu của tháng Quý Mùi. Thêm một yếu tố phụ là tháng Quý Mùi có Quý thuộc hành nhược nhất còn bị nhập mộ tại Mùi.
Trong tháng Quý Mùi của lưu niên tai họa xẩy ra vào ngày Giáp Thân (18/7), có thể do Giáp trong tứ trụ động do Canh và Tân ở tuế vận khắc ? Nếu vậy thì sao Đinh trụ ngày cũng động vì khắc Canh và Tân ở tuế vận mà tai họa không xẩy ra vào ngày Đinh mà lại vào ngày Giáp ? Điều này cho biết can ngày của năm xẩy ra tai họa thường mang hành khắc hay bị hành cường vượng khắc phải ở trạng thái tử tuyệt tại chi mà nó đóng.

Qua ví dụ này ta thấy điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là hoàn toàn chính xác.


Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm 0,05đh.
2 - Tai họa thường xẩy ra vào tháng (của lưu niên) giống với chi trong tứ trụ động mang yếu tố quan trọng nhất.
3 - Tai họa thường xẩy ra vào ngày và tháng của lưu niên có can mang hành nhược khắc hay bị hành kỵ vượng khắc mà tử tuyệt tại chi chúng đóng.







Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |