Thìn của trụ năm hay trụ ngày gặp Tị hay Tị của trụ năm hay trụ ngày gặp Thìn trong tứ trụ là Thiên La.
Tuất của trụ năm hay trụ ngày gặp Hợi hay Hợi của trụ năm hay trụ ngày gặp Tuất trong tứ trụ là Địa Võng.
Cách tra lấy chi năm hay chi ngày làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau :
.….........Chi ngày hay chi năm là Thìn thấy Tị
…......... Chi..................................Tị ............Thìn
…..........Chi..................................Tuất ........ Hợi
.…........ Chi..................................Hợi ..........Tuất
Thiên la và địa võng là hung thần ác sát, là một trong những tiêu chí lao tù. Nếu trong tứ trụ có Thiên la hay Địa võng còn thêm tam hình thì khi gặp tuế vận khó tránh khỏi tù đầy.
Nếu trong tứ trụ có thiên la hay địa võng thì nó chỉ có thể gây ra điểm hạn khi nó gặp lưu niên.
9 - Tứ phế
….... Nếu ngày sinh là Canh Thân hay Tân Dậu sinh vào mùa Xuân là Tứ Phế
….....Nếu ………........Giáp Dần ..........Ất Mão ………...........Thu ……………
….....Nếu …………... Bính Ngọ...........Đinh Tị ….……..........Đông ……….…
….....Nếu …………....Nhâm Tý ..........Quý Hợi ………..........Hạ …………….
Qua đây ta thấy trụ ngày mà can và chi của nó có hành giống nhau (trừ hành Thổ) và sinh vào các tháng thuộc mùa có hành xung khắc với nó thì nó là Tứ Phế.
Tứ Phế chủ về thân yếu, nhiều bệnh, không có năng lực nếu không gặp sinh, phù trợ mà còn bị khắc, hại, hung sát áp chế thì chủ về thương tật tàn phế, kiện tụng cửa quan, thậm chí bị giam, hoặc là người theo tăng đạo. Cho nên trong tứ trụ, cho dù là năm tháng ngày giờ gặp phải đều không tốt, nhất là trụ ngày.
A - Các hung thần chưa xác định được điểm hạn
1 - Thập ác-đại bại
Thập ác như là người phạm mười trọng tội trong luật pháp, không được ân xá hay giảm. Đại bại là như trong luật nhà binh giao tranh thất bại, chết không sót một ai, nghĩa là rất nặng nề. Ngày Thập ác đại bại là ngày hung, cổ xưa giao chiến rất kiêng kỵ. Ngày nay nó thường được dùng để kiêng kỵ khi xuất hành, khởi sự công việc hay hỷ sự.
Ngày Thập ác đại bại là “Kho vàng bạc hóa thành cát bụi”, nếu gặp cát thần phù trợ, quý khí trợ giúp thì còn tốt, nếu gặp Thiên đức, Nguyệt đức thì không còn là điều kiêng kỵ nữa, nếu gặp sao Tài sao Quan ngược lại là phúc. Năm can chi và ngày can chi xung khắc nhau lại là gặp cát thần quý nhân giúp đỡ.
Cách tra lấy trụ ngày làm chủ mà có các can chi của trụ ngày như sau :
Giáp Thìn, Ất Tỵ, Nhâm Thân, Bính Thân, Đinh Hợi, Canh Thìn, Mậu Tuất, Quý Hợi, Tân Tị, Kỷ Sửu.
2 – Âm Dương sai lệch
Âm Dương sai lệch là thông tin về hôn nhân không thuận dễ dẫn đến vợ chồng bất hòa, ly hôn, nặng thì người phối hôn dễ bị bệnh tật. Bất kể là nam hay nữ, tháng, ngày, giờ mà có hai cái hay ba cái trùng nhau là rất nặng.
Riêng hung thần này chỉ gây ra điểm hạn cho người phối hôn.
Cách tra lấy trụ ngày làm chủ mà có các can chi của trụ ngày như sau :
Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi .
3 - Hồng Diễm
Sao Hồng Diễm đại diện cho người có khả năng hấp dẫn, lôi cuốn những người khác giới tính bởi tính tình cởi mở hay có thân thể quyến rũ... nhưng cũng ẩn chứa ý nghĩa về đào hoa, dâm đãng và nhu cầu tình dục cao, có thể mang đến tác động xấu về mặt trăng hoa.
Nếu nữ mệnh gặp phải Hồng Diễm mà nó không bị xung hay hợp thì rất xấu, nhất là có thêm sao Đào Hoa (hàm Trì).
Cách tra sao Hồng Diễm là lấy can ngày hay can năm làm chủ tìm trong tứ trụ gặp những chi sau là có Hồng Diễm:
…........Giáp thấy Ngọ..........................Kỷ thấy Thìn
…........Ất thấy Thân.............................Canh thấy Thân
…........Bính thấy Dần...........................Tân thấy Dậu
…........Đinh thấy Mùi...........................Nhâm thấy Tý
…........Mậu thấy Thìn …......................Quý thấy Tuất
4 - Hồng Loan-Thiên Hỷ
Người có sao Hồng Loan thường là sao tốt chỉ sự lãng mạn đa tình. Người trong mệnh có Hồng Loan thường thông minh, ôn hòa, đẹp đẽ, duyên dáng có ngoại hình, kết hôn sớm... dễ thành công về tài chính, dễ gặp may mắn trong cuộc sống.
Người có sao Thiên Hỷ thường có tính cách mềm mỏng, hiền hòa, được mọi người yêu quý, dễ đạt được hạnh phúc, may mắn, đặc biệt liên quan đến tình duyên, hôn nhân và các mối quan hệ xã hội tốt đẹp.
Tuy nhiên, nhược điểm của sao Thiên Hỷ là sự dễ tin người, thiếu quyết đoán, đôi khi mơ mộng và dễ vướng vào chuyện tình cảm rắc rối.
Cách tra sao Hồng Loan và Thiên Hỷ lấy chi năm làm chủ tra xem trong Tứ Trụ có các chi như sau :
Bảng tra sao Hồng Loan và Thiên Hỷ
5 - Đào Hoa (Hàm Trì)
Đào Hoa là sao chủ về đào hoa, phong lưu, được nhiều người khác giới yêu mến, có sức hấp dẫn đặc biệt...
Đào Hoa có thể là sao tốt (chủ về vẻ đẹp, sự lãng mạn) hoặc sao xấu (chủ về sự trăng hoa, đa tình, dễ gây tai tiếng) tùy thuộc vào vị trí và các sao đi kèm.
Cách tra lấy chi ngày hay chi năm làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau:
…......Chi ngày hay chi năm là Thân, Tý hay Thìn thấy Dậu
…......Chi..................................Tị, Dậu ..........Sửu .........Ngọ
….......Chi.................................Dần, Ngọ ......Tuất .........Mão
….......Chi.................................Hợi, Mão .......Mùi .........Tị
Đào Hoa chủ về sự đòi hỏi sinh lý khá cao nhưng phàm người có Đào Hoa thì thường khéo tay, phong lưu, đẹp, tính nóng nhưng giỏi nhiều nghề, phần nhiều là nghệ nhân. Sự hiểu biết, linh lợi, thông minh,... chính là nguồn tiến bộ của văn hóa, nghệ thuật.... Có rất nhiều bậc quan quý cao sang, thương gia giầu có, nhiều nghệ sĩ và nhà khoa học, danh nhân tướng soái đều có Đào Hoa. Nhưng khi tổ hợp trong tứ trụ không tốt là chủ về sự phong lưu trăng gió, quan hệ mờ ám giữa nam nữ.
Với nữ, nếu trong Tứ Trụ không có Quan hay Sát (nhất là Quan) hoặc có cả Quan và Sát mà :
a - Có cả sao Đào Hoa và Hồng Diễm.
b - Sao Đào Hoa hợp với cung phối hôn (chi trụ ngày) hóa cục có hành sinh cho Nhật Can.
c - Có sao Đào Hoa và Hồng diễm cùng trụ.
d - Sao Đào Hoa ở trụ giờ.
Thì những người này phần nhiều làm nghề mãi dâm (nếu trong tứ trụ có 2 hay 3 trong 4 thông tin này).
Bảng tra thần sát theo địa chi
Bảng tra thần sát theo thiên can
Chỉ có các Thần Sát có trong 2 bảng trên khi xuất hiện trên tuế vận và tiểu vận mới có khả năng gây ra một phần hạn hoặc giải được một phần hạn (trừ âm dương sai lệch). Theo phương pháp của tôi bình thường mỗi Thần Sát xuất hiện trên can chi tuế (lưu niên) hay vận (đại vận) chỉ có cộng trừ 0,25 điểm hạn (ở can chi tiểu vận giảm 1/2) trong khi mỗi điểm khắc, hình, hại, tự hình,... của địa chi và thiên can với nhau có tới +1 điểm hạn, riêng mỗi Kình dương xuất hiện trên tuế vận cũng có +1 điểm hạn này (nếu trong Tứ Trụ có Kình dương). Về giải cứu thì Tam Hội Cục trong Tứ Trụ có khả năng giải cứu mạnh nhất, tới 2/3 tổng số điểm hạn được gây ra bởi tất cả các thông tin giữa Tứ Trụ với Tuế Vận và Tiểu vận (đã công bố ở cuốn “Giải Mã Tứ Trụ” còn ở đây sẽ công bố ở Phần Trung Cấp).
Theo phương pháp của tôi, với quy định các điểm hạn chuẩn gây ra bởi mỗi lực Hình, Xung, Khắc, Hại, Hợp,... trong môn Tử Bình thì tổng số điểm hạn của một người trong mỗi hạn (tai họa) như sau :
1 - Từ 4đh (điểm hạn) đến 4,4đh, chỉ có hạn nhẹ, có thể phải đến bệnh viện nhưng không phải nằm lại bệnh viện để điều trị lâu dài.
2 - Từ 4,4đh đến 4,6đh, có hạn nặng, phải nằm ở bệnh viện để điều trị, hoặc bị phá tài hay lao tù nhẹ (dựa theo các thông tin của tứ trụ với tuế vận).
3 - Từ 4,6đh đến 4,8đh, hạn khá nặng có thể phải cấp cứu, hoặc bị phá sản hay lao tù nặng.
4 - Từ 4,8đh đến 4,9đh, hạn rất nặng có thể bị ngất.
5 - Từ 4,9đh đến 4,99đh, hạn cực nặng có thể tới mức chết lâm sàng.
6 - Từ 5,0đh trở lên có thể dẫn tới tử vong nếu không có cách nào giải cứu được.
Theo phương pháp này sai số có thể từ - 0,1đh tới + 0,1đh.
Các hạn nặng trên có thể không xẩy ra nếu trong nhà có người thân như ông bà, bố mẹ qua đời hoặc bị phá sản,... đúng như câu “Của Đi Thay Người”.
Nhưng thực tế cho biết có người vừa phá sản lại còn bị mất mạng hay cả nhà tới năm hay sáu người đều bị chết cùng lúc (hoặc trong một thời gian gần nhau) vậy thì ai giải cứu được cho ai ở đây, tại sao ?
Hy vọng những người có sách gia truyền đang cất dấu những cách giải cứu hạn vô cùng quý giá mà cung cấp cho mọi người biết một chút ít thì tôi thay mặt mọi người thực sự cám ơn vô cùng.
(Chú ý : Số điểm hạn này hoàn toàn được gây ra bởi các nguyên nhân trong Tứ Trụ, tuế vận và tiểu vận (tức là các yếu tố Tất Định đã được an bài trong Mệnh từ khi mới sinh), chưa xét đến các yếu tố bên ngoài Tứ Trụ, tuế vận và tiểu vận (tức là các yếu tố Bất Định bởi môi trường tự nhiên, xã hội con người bên ngoài, nhất là chủ ý của những người xấu...). Do vậy nhiều cái nếu biết trước có thể tự mình giải cứu dễ dàng (như Hình, Hại, Tự hình...), đó chính là mục đích của tôi khi nghiên cứu để viết cuốn sách này.)
Chương II - Phần Trung Cấp
I – Nhật Chủ và Thập thần, Lục thần
A – Nhật Chủ
................................................................
................................................................
Sửa bởi SongHongHa: Hôm nay, 06:48