Jump to content

Advertisements




“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)


160 replies to this topic

#151 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 01/04/2026 - 10:02

Bài luận Ví dụ số 19 - Giáo chủ Ali Kharmenei ít nhất sai 3 quy tắc (2 quy tắc sai nằm ở câu 2 và câu 3 trên, còn quy tắc thứ 3 sai là khi tính lại điểm vượng trong vùng tâm Thân vẫn vượng không nhược vì Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân), còn một vài cái sai nữa nên tôi xin đăng lại toàn bộ ví dụ này.

Ví dụ số 19 : Giáo chủ Ali Kharmenei sinh ngày 19/4/1939 lúc 12.00' (?). Ngày 28/2/2026 khoảng 9.40' sáng, ông ta tử vong bởi máy bay của Israel đã dùng tên lửa tối tân Blue Sparrow tấn công vào hầm ngầm (Boongke) nơi ông ta cùng bộ sậu đang họp.


Sơ đồ diễn tả các điểm hạn gây ra tử vong cho Giáo chủ Ali Khamenei (28/2/2026) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Tai họa xẩy ra vào ngày 28/2/2026 là năm Bính Ngọ thuộc đại vận Kỷ Mùi và tiểu vận Đinh Mão (vì chưa qua ngày sinh nhật).
Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Ngọ trụ tháng với Tuất trụ ngày hóa Hỏa (vì có Bính là thần dẫn). Mặc dù có Thìn trụ tháng xung Tuất nhưng không phá được bán hợp của Ngọ với Tuất. Vì lực xung có chi là thổ thì phải lớn hơn lực hợp mới có thể phá được. Bởi vì nếu phá được bán hợp thì Thân (Hỏa) sẽ nhược (vì Thân chỉ có 2 can chi trong khi Thổ có tới 4 can chi – mà các can chi hầu như có điểm vượng bằng nhau). Khi đó 5 vận sau đều là kỵ thần thì không ứng hợp với thực tế vô cùng huy hoàng của ông ta (được làm Giáo chủ như vua chúa ngày xưa trên cả chức Tổng thống của Iran).
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân vượng mà Thực Thương (Thổ) là nhiều (có tới 3 can chi hay là kỵ thần 1) nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Kim). Do vậy Dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ ngày có 3đv, hỷ thần là Thực Thương và Quan Sát còn kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.


Giáo chủ Ali Kharmenei thọ tới 87 tuổi là vì Thân khá vượng nhưng có Thực Thương (Thổ) nhiều đủ sức xì hơi Thân nên trong môn Tử Bình đã gọi Thực Thương là Thọ tinh. Dĩ nhiên khi Thân nhược mà Thực Thương nhiều hay khá vượng thì Thực Thương không được gọi là Thọ tinh nữa mà phải gọi là Yểu tinh (dễ chết trẻ).

Trong tứ trụ Nhật can là Bính gặp Kình dương Ngọ thường là Quý mệnh (mệnh phú quý), nắm quyền cao, chức trọng. Thực tế 5 vận cuối, từ vận Quý Hợi (9/81) đến hết vận Kỷ Mùi (9/31) đều là các vận hỷ dụng thần nên đều là các vận đẹp huy hoàng nhất cuộc đời của ông ta. Trong đó vận Quý Hợi không phải là vận dụng thần mà là vận hỷ thần Chính quan nhưng lại là vận đẹp nhẩt. Bởi vì QuýChính quan đế vượng tại vận Hợi tức Quan đã đạt tới cực đỉnh nên ông ta được phong làm Giáo chủ ngày 4/6/1989.
Có một khác biệt là nếu trong tứ trụ chỉ có BínhNgọ đơn độc thì mặc dù chức trọng quyền cao, tài năng thông tuệ nhưng thường đại diện cho những kẻ tiểu nhân, ngụy... quân... tử có sở trường chuyên dùng các mưu hèn, kế bẩn để sát hại hay trà đạp nên đầu người khác để giành lấy quyền hay chức cũng như để giữ bằng được quyền hay chức đã có của mình. Nhất lại là một trùm Mật Vụ thì càng đáng sợ hơn, vì nó có thể trở thành một tên Bạo Chúa khát máu thực sự, công khai thủ tiêu, sát hại bất kỳ ai dám chống lại hay không làm theo ý muốn của nó (như Ví dụ số 12). Còn nếu trong tứ trụ Bính Ngọ không đơn độc mà có thêm can chi Hỏa (như Ví dụ số 8 của Albert Einstein có thêm Đinh trụ tháng), nhất là có Hỏa cục như tứ trụ của vị Giáo chủ này thì lại hoàn toàn khác. Mặc dù vẫn là Bạo Chúa (như Vua Chúa ngày xưa) nhưng lại thường đại diện cho những người chính nhân, quân tử luôn làm những điều nghĩa hiệp theo Đạo mà họ tôn thờ.

Có Mão trụ năm và Mão tiểu vận hợp với Mùi đại vận hóa Mộc (vì có Giáp trụ giờ làm thần dẫn) cùng lúc có Giáp trụ giờ hợp với Kỷ đại vận hóa Thổ nên Mộc cục và Thổ cục khắc nhau tạo thành Đại Chiến. Nhưng may mắn vào năm Bính Ngọ có Tuất của bán hợp Hỏa cục trong tứ trụ hợp thêm với Ngọ lưu niên hóa Hỏa thành hành thông quan đã hóa giải được Mộc cục và Thổ cục khắc nhau nên không còn Đại Chiến (sẽ nói sau).


Vì có Giáp trụ giờ hợp với tuế vận hóa cục nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
Thổ có 9,48đv được thêm 4đv của Giáp (vì Giáp có 5đv nhưng hợp với tuế vận bị giảm 1/5 còn 4đv) và 8,58đv của Kỷ đại vận, còn được thêm 1,25đv (vì Thổ có 5 can chi có thêm 5.0,25đv =1,25đv)) thành 23,31đv.
Mộc có 8,88đv bị mất 5đv của Giáp còn 3,88đv. Thân (Hỏa) chỉ có 22,73đv là nhỏ hơn Thực Thương (Thổ)23,31đv nên Thân thành nhược. Nhưng ta thấy Thân nhược nhưng Nhật can Bính được lệnh và Thân lớn hơn Thực Thương, Tài tinh và Quan Sát nên Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân là 3,88.1/2đv = 1,94đv. Do vậy Thân có 22,73đv được thêm 1,94đv thành 24,67đv nên Thân lớn hơn Thực Thương (có 23,31đv) 1đv thành vượng.
Thân vượng mà Thực Thương nhiều nên Dụng thần vẫn là Tài tinh (Kim), chínhTân tàng trong Tuất trụ ngày, điểm hạn của các hành khác cũng không thay đổi.

Hỏa là kỵ 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận. Ta tính điểm vượng trung bình của các can chi động như sau :
- Mão trụ năm có 3,88đv tại trụ năm, có thêm 4,3đv tại đại vận Mùi và 2 lần 6đv tại Ngọ lưu niên thành (3,88+4,3+2.6).1/4đv = 5,05đv.
- Mùi đại vận có 7,75đv tại chi Mùi, có 2.9đv tại Ngọ lưu niên thành (7,75+2.9).1/3đv = 8,58đv.
- Mão tiểu vận có 9đv tại Mão tiểu vận, có 4,3đv tại Mùi đại vận và có 2 lần 6đv tại Ngọ lưu niên thành (7,75+4,3+2.6).1/4đv = 6,33đv.
- Ngọ lưu niên có 2.10đv tại lưu niên và 5đv tại Mùi đại vận thành (2.10+5).1/3đv = 8,33đv.
Do vậy Mộc có (5,05+8,58+6,33)đv = 19,96đv.

Hoàn toàn tương tự ta tính được Hỏa có 7,75đv của Nhật can Bính (vì tĩnh), 8,06đv của Ngọ trụ giờ, 8,19đv của Tuất trụ ngày, 8,33đv của Ngọ lưu niên và thêm 4.0,25đv = 1đv (vì có 4 can chi Hỏa - Ngọ trụ giờ, Bính và Tuất trụ ngày và Ngọ lưu niên, còn Bính lưu niên và Đinh tiểu vận tĩnh không được tính ở đây).
Do vậy Hỏa có (7,75+8,06+8,19+8,33+1)đv = 33,33đv
Không thể Tòng Hỏa vì trong tứ trụ chỉ có 3 can chi Hỏa (Bính và Tuất trụ ngày, Ngọ trụ giờ, còn Ngọ và Bính lưu niên không được tính).

Ta thấy Thân (Hỏa)33,33đv lớn hơn Thực Thương (Thổ)hỷ dụng 123,31đv trên 10đv nên Hỏa trở thành hành kỵ vượng. Thân vượng mà Thực Thương nhiều nên dụng thần không thay đổi vẫn là Tân tàng trong Tuất trụ ngày (nếu nó có thể được thay đổi theo Quy tắc 1-0-2).

1 - Dụng thần Tân tàng trong Tuất có 3đv nên có 0,5đh, nhưng Tuất hợp với tuế vận thì không còn là 0,5đh mà là 1đh. Tân nhược ở lưu niên Ngọ có 0đh.
2 - Nhật can Bính vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Bính lưu niên có 1 cát thần có -0,25đh. Ngọ là Kình dương ở lưu niên có 0đh - vì có Ngọ trụ giờ là Kình dương (vì chúng đã hóa Hỏa cục - đã chứng minh).
4 - Bán hợp Mộc có 3 chi nên có 0,75đh. Bán hợp Hỏa có 0,5đh (vì chỉ có chi lưu niên có điểm hạn, còn 2 chi trong tứ trụ đã hóa Hỏa từ khi sinh rồi). Mộc cục có 3 chi sinh được cho Hỏa cục là 3.0,6đh = 1,8đh (vì hành Hỏa có 1đh nên mỗi chi Mộc sinh cho nó có 0,6đh, còn nếu hành Hỏa có 0,5đh thì mỗi chi Mộc sinh cho nó chỉ có 0,3đh - đã chứng minh). Ngọ lưu niên hóa Hỏa nên có 1đh kỵ vượng.
Ngũ hợp Thổ cục có -0,5đh. Ở đây Hỏa cục không sinh được cho Thổ cục (vì điểm hạn của 2 hành này không cùng dấu - đã chứng minh).
5 - Đất trên thành trụ năm và trụ tháng cùng Đất mái nhà trụ giờ đều có can của chúng vượng ở lưu niên nên khắc nước Mưa lưu niên mỗi lực có 1đh.

Tổng số có 6,3đh. Với số điểm hạn này là khá cao nên ta cần tìm xem có cách nào giảm nó xuống, một trong các cách thông dụng nhất là tìm xem có lực nào có thể gây ra điểm giảm G hay không ?
Ta thấy trên sơ đồ có 3 lực của nạp âm trong tứ trụ khắc nạp âm ở tuế vận nên ta thử cho mỗi lực khắc này có 0,75G xem sao ? Nếu vậy ta có 3.0,75G = 2,25G nó tương đương với mức giảm 1/5 nên tổng điểm hạn còn 6,3.4/5đh = 5,04đh. Số điểm hạn này là chấp nhận được (vì nó vừa đủ sức gây ra tử vong).

Vậy số điểm chính thức gây ra tai họa này là 5,04đh và mỗi lực khắc của nạp âm ở đây có 0,75G.

Ta thấy giáo chủ Ali Khamenei tử vong bởi sức ép của tên lửa tối tân Blue Sparrow của không quân Israen nên
ông ta chết do nội tạng bị tổn thương nặng. Thuốc nổ (Hỏa) ở đây đại diện cho sức ép còn nội tạng đại diện bởi lực khắc của 3 nạp âm. Giờ Đinh Tị (lúc 9,40' ?) là lúc Hỏa Lâm quan hay Đế vượng đã tác động gây ra tai họa chăng ?

Lại một lần nữa ta thấy Giáo chủ Ali Kharmerei tử vong ngày 28/2 (lúc 9.40' sáng) chính là ngày Quý Dậu (giờ Đinh Tị ?) TKĐX với trụ năm Kỷ Mão. Vậy thì đây không thể coi là trường hợp Ngẫu Nhiên (vô tình trùng lặp) nữa mà chắc chắn nó phải là trường hợp Tất Nhiên (có thể xác định được từ trước).

Ta thấy “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” không những giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ mà còn giải thích được vận mệnh của con người (và các vật khác nếu biết tứ trụ của chúng) xấu hay tốt, hơn nữa qua ví dụ này nó còn giải thích được thời điểm tử vong chính xác tới ngày của một năm nào đó (có thể chính xác tới tận giờ ?).

Vậy thì “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” có phải là “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất”hay
Thuyết trường thống nhấtAlbert Einsteinvà các nhà Vật Lý đang tìm kiếm hơn một thế kỷ qua hay không?

Qua 19 ví dụ trên ta rút ra các quy tắc dự đoán thời gian gây ra tử vong cho đương số :
1 - Nếu một hành trong tứ trụ quá vượng nhưng không thể Tòng thì thường tử vong vào các ngày đầu tiên của tháng mang hành này (với Thổ thì vào các tháng là Tị hay Ngọ ?).
2 - Thường tử vong vào các ngày (của lưu niên) TKĐX với năm sinh của đương số, nhất là vào các tháng (của lưu niên)kỵ thần vượng tướng còn hỷ dụng thần hưu tù, tử tuyệt.

.

Sửa bởi SongHongHa: 01/04/2026 - 10:30


#152 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 01/04/2026 - 12:14

Ở ví dụ trên ta thấy điểm vượng trong vùng tâm của các can trong tứ trụ hợp với tuế vận phải bị giảm đi 1/5 thì mới đúng ? Còn nếu chỉ bị giảm 1/10 thì Giáp hóa Thổ có 4,5đv chứ không phải 4đv nên Thổ có tới 23,81đv. Khi đó muốn Thân vượng phải tính thêm Bính và Đinh là tĩnh ở lưu niên và tiểu vận nên Hỏa có tới 6 can chi có thêm 6.0,25đv = 1,5đv không phải chỉ có thêm 1đv. Như vậy Hỏa có 33,83đv mới lớn hơn Thổ 1đv.

#153 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 10/04/2026 - 06:58

Ví dụ số 21 : Nữ chết do tai nạn ô tô

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Thực Thương nhiều (3 can chi Thổ) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Mộc), Dụng thần chính là Ất tàng trong Mão trụ giờ, hỷ thần là Hỏa, còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.
Mất vào tháng 4/1987 là năm Đinh Mão nó thuộc đại vận Bính Dần và dễ rơi vào tiểu vận đầu là Canh Thìn (vì Mộc cục có tới 6 can chi nên rất sợ các tháng Dần, Mão Thìn có Mộc cường vượng).
Ta thấy có tam hợp của Dần đại vận hợp với 2 Thìn và Mão trong tứ trụ còn hợp thêm với Mão lưu niên và Thìn tiểu vận hóa Mộc (có Giáp trụ năm làm thần dẫn)
Vì 2 trong 3 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
Điểm vượng trung bình của các can chi động ở trong tứ trụ và ở tuế vận tại lưu niên Mão được tính như sau :
Mão trụ giờ có 2,79đv (điểm vượng trong vùng tâm của nó) được thêm 10đv tại Dần đại vận, 2 lần điểm vượng tại chi lưu niên Mão là 2.9đv thành (2,79+10+2.9).1/4đv = 7,77đv. Tính tương tự ta có Thìn trụ tháng có 5,87đv, Thìn trụ năm có 5,49đv, Dần đại vận có 9,67đv, Thìn tiểu vận có 6,94đv và Mão lưu niên có 9,67đv,
Mộc có tổng cộng (7,77+5,87+5.49+9,67+6,94+9,67)đv = 45,0đv, thêm 1,5đv (vì có 6 can chi Mộc cùng hành) thành 46,5đv.
Đinh trụ ngày có 3,92đv, Đinh lưu niên có 4,2đv, Bính đại vận có 6,67đv (Bính và 2 Đinh động vì bị Quý trụ giờ khắc). Tổng cộng Hỏa có 14,79đv.
Quý trụ giờ có 5,72đv còn Canh tiểu vận có 3,97đv (động vì Bính khắc Canh).
Ta thấy nếu chỉ tính lại thì Mộc có 5,49đv của Thìn trụ năm, 5,87đv của Thìn trụ tháng và 7,7đv của Mão trụ giờ thành 19,06đv. Thân (Hỏa)3,92đv, Thủy có 5,72đv, Kim có 3,15đv (vì không động) và Thổ có 4,65đv. Thân nhược và Kiêu Ấn không sinh được 50%đv của nó cho Thân cũng như Kiêu Ấn không lớn hơn Thân 20đv nên Kiêu Ấn vẫn là hỷ dụng thần. Khi đó Mộc cục (có tới 6 can chi) là hỷ dụng thần thì tổng số điểm hạn quá thấp không thể gây ra tử vong được. Do vậy muốn gây ra tử vong thì Mộc phải là kỵ thần và hơn nữa Mộc phải là kỵ vượng, khi đó Mộc có thêm điểm kỵ vượng thì mới có thể gây ra tử vong.
Đây chính là trường hợp khi tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận Dụng thần hay điểm hạn ngũ hành trong vùng tâm phải được thay đổi mà ta gọi là “Trường hợp ngoại lệ có 1 không 2” (tức ngoại lệ của ngoại lệ, viết tắt là 102). Nếu vậy thì qua sơ đồ trên ta thấy sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận Mộc có tới 46,5đv còn Thân (Hỏa)14,79đv. Thân nhược mà Kiêu ấn lớn hơn Thân 30đv nên Kiêu Ấn trở thành kỵ thần và là kỵ vượng (vì lớn hơn Thân 30đv). Khi đó Thân nhược mà Kiêu Ấn là kỵ thần nên dụng thần đầu tiên phải là Hỏa, dụng thần chính là Đinh trụ ngày, 4 hành còn lại đều là kỵ thần.
Vì Mộc quá cường vượng nhưng không thể Tòng Mộc vì có Dậu (Kim) trụ ngày là Quan Sát của Mộc (Dậu vẫn cản được Mộc có tới 7 can chi, trong đó Mộc cục có 6 can chi không thể Tòng, tại sao vậy ?).
1 - Dụng thần Đinh hưu tù ở lưu niên Mão có 0đh.
2 - Nhật can Đinh hưu tù tại lưu niên Mão có 0đh.
3 - Tam hội Mộc cục có 6 can chi có 5.0,25đh +0,13đh = 1,38đh (vì điểm hạn của can chi tiểu vận bị giảm 50%). Số điểm này được nhân gấp đôi thành 2.1,38đh (vì Kiêu ấn lớn hơn Thân 30đv và Mộc có tới 6 can chi). Dần, Mão và Thìn ở tuế vận hóa Mộc nên mỗi chi có 2.0,5đh kỵ vượng riêng chi tiểu vận chỉ có 2.0,13đh kỵ vượng.
4 - Trụ giờ Quý Mão TKĐX với trụ ngày Đinh Dậu có 0,5đh+0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau) = 0,55đh.
5 - Quý trụ ngày thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên khắc 3 can là Đinh lưu niên, Đinh trụ ngày và Bính đại vận nên có tổng cộng 1,3đh, do vậy mỗi lực khắc Đinh có 1,3/3đh = 0,43đh, còn khắc Bính có 0,22đh (vì khắc trái dấu). Quý có 1đh can động.
Bính đại vận vượng ở lưu niên khắc Canh tiểu vận có 0,5đh (vì khắc vào tiểu vận bị giảm 50%đh) nhưng bị giảm 22% còn 0,5.78/%đh = 0,39đh (vì bị Quý khắc). Bính có 1 cát thần có -0,25đh bị giảm 22% còn -0,2đh. Bính có -0,5đh can động bị giảm 22% còn -0,35đh.


Tổng số có 7,73đh được giảm -1,63đh (vì tam hội ngoài tứ trụ mà có ít nhất 2 chi khác nhau trong tứ trụ thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi tứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh, riêng can chi tiểu vận bị giảm 50%), được giảm thêm 1/6 (vì trong tứ trụ Mộc cục có 2 chi giống nhau hóa cục khác hành, sẽ nói sau) còn (7,73-1,63).5/6đh = 5,08đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó đủ sức gây ra tử vong.

Người cung cấp ví dụ này chỉ cho biết chết tháng 4/1987 mà trước ngày sinh nhật 18/4 (vì sau ngày sinh nhật sang tiểu vận Kỷ Mão) có ngày Canh Dần (11/4) và ngày Tân Mão (12/4) tai họa dễ xẩy ra, nhất vào ngày Canh Dần, vì Mộc bắt đầu cường vượng ở ngày Dần thêm tháng Thìn và lưu niên Mão tạo thành Tam hội cục Mộc sẽ kích động Tam hội cục Mộc giữa tứ trụ với tuế vận làm cho tai họa xẩy ra chăng ?


Ở ví dụ này điểm hạn kỵ vượng của Mộc rất cao, chiếm tới 5,26/7,73đh = 68%đh thì đáng nhẽ tai họa phải xẩy ra vào các ngày đầu hay trong tháng Dần mới đúng như ngày 18/2Mậu Tuất, hay ngày 2/3Canh Tuất TKĐX với trụ năm Giáp Thìn nhưng ở đây tai họa lại xẩy ra vào đầu tháng 4, tại sao vậy ?

Vì điểm hạn kỵ vượng của Mộc cùng Mộc cục quá cao nên tai họa ô tô ở đây có thể dự đoán phần Mật, Gan, tứ chithần kinh toàn cơ thể nhất là ở cột sống và não bộ chắc chắn bị tổn thương nặng dẫn tới tử vong (ở đây là dương MộcGiáp là thần dẫn nhưng theo tôi nó vẫn có thể liên quan tới âm Mộc ?).

Cách giải cứu thì tôi chịu, hy vọng các cao thủ có sách gia truyền rộng lượng cho mọi người biết chăng ?


#154 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/04/2026 - 15:37

Từ ví dụ trên đưa ra quy tắc :

1 - Khi 1 hành có từ 4 can chi trở lên thì mỗi can chi trong tứ trụ có thêm 0,25đv còn mỗi can chi động ở tuế vận có thêm 0,25đv (can chi tiểu vận không bị giảm).
2 - Khi tính lại điểm vượng trong vùng tâm và tính thêm ở tuế vận :
- Các can ở tuế vận hợp với các can trong tứ trụ hóa cục đều được tính như chúng ở trong tứ trụ.
- Điểm vượng các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên.
- Điểm vượng của các can chi tĩnh trong tứ trụ chính là điểm vượng trong vùng tâm của chúng.
- Khi tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận, chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên (các can chi tĩnh không được tính).
3 - Tam hợp ngoài tứ trụ (tức phải có chi ở tuế vận mới thành tam hợp)
Nếu giữa tứ trụ với tuế vận có tam hợp không hóa hay hóa cục có ít nhất 4 chi, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì 3 chi đầu có -1đh, còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh (chi tiểu vận có -0,13đh). Nếu tam hợp này không hóa mà có 2 chi giống nhau trong tứ trụ thì tổng điểm hạn được giảm 1/8 (vds 22), còn nếu hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn xét về tổng quát được giảm 1/7 còn (7,73-1,63).6/7đh = 5,23đh có vẻ đúng hơn được giảm 1/6 (vds 21, ví dụ trên), hóa cục cùng hành được giảm...

Sửa bởi SongHongHa: 13/04/2026 - 16:04


#155 huyhung89

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 150 Bài viết:
  • 53 thanks

Gửi vào 14/04/2026 - 07:45

Dạ chào bac VuLong ạ.. trước cách đây 4-5 năm bác có xem giúp cháu và phân vân về giờ sinh của cháu hôm nay cháu xin phản hồi lại ạ. Hiện tại cháu bước vào vận mới được mấy năm nên cũng gặp nhiều khó khăn chẳng hạn như ly thân vào cuối năm 2023 và ly hôn vào giữa năm 2024 và trắng tay vào cuối năm 2024. Năm nay cháu thấy khó khăn với cháu nhiều hơn đặc biệt là về tài chính. và cũng 2 năm rồi cháu cũng không có làm gì. Cháu sinh 22/06/1989 lúc 15h30 có thể là 16h ạ.. nếu đủ duyên mong Bác xem giúp cháu các vận tới ạ. Cháu cảm ơn bác nhiều.

#156 huyhung89

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 150 Bài viết:
  • 53 thanks

Gửi vào 14/04/2026 - 08:07

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



#157 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 14/04/2026 - 13:11

Xin lỗi Huyhung89, vì đây là chủ đề về trao đổi học thuật nên bạn muốn biết về cá nhân thì xin bạn vào mục "Coi Tử Bình - Tứ Trụ" hoặc vào tin nhắn của tôi.

Thanked by 1 Member:

#158 huyhung89

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 150 Bài viết:
  • 53 thanks

Gửi vào 14/04/2026 - 13:59

Dạ cháu có gửi vào mục tin nhắn mong bác xem giúp cháu ạ. Cháu cảm ơn.

#159 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 18/04/2026 - 07:36

Ví dụ số 22 : Nam bị mổ nặng may thoát chết

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Thực Thươngkỵ thần 1 (hay nhiều vì có 2 can chi được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Kim), can làm dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ năm, hỷ thần là Thủy còn kỵ thần là Mộc, Hỏa và Thổ.
Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990), nó thuộc đại vận Giáp Ngọ, tiểu vận Mậu Tý và Kỷ Sửu. Ta thấy Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên hợp với Dần trụ tháng và Tuất trụ năm và Tuất trụ giờ hóa Hỏa thành công (vì Bính trụ năm làm thần dẫn).
Vì có 2 Tuất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Hỏa khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Hỏa quá cường vượng nhưng không thể Tòng Hỏa vì có Nhâm trụ ngày là Quan Sát của Hỏa. Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào tháng Ngọ (của lưu niên 1990) thuộc tiểu vận Kỷ Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 17/2).
Giáp đại vận hợp Kỷ tiểu vận không thể hóa Thổ vì Kỷ tọa trên đất ướt là Sửu nên Giáp là Mộc sống (vì có Kỷ ướt nuôi nó hay Sửu tiểu vận không thể dẫn hóa cho can tiểu vận ?).
Điểm vượng của các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên. Do vậy Bính trụ năm động (vì khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng) nên điểm vượng trung bình của nó ở lưu niên Ngọ là: Có 2,7đv trong vùng tâm, 10đv tại Ngọ đại vận và 2 lần 10đv ở lưu niên Ngọ thành (2,7+10+2.10)/4đv = 8,18đv. Tính tương tự Canh trụ tháng có 5,72đv, Giáp trụ giờ có 4,5đv (động vì bị Canh lưu niên khắc), Tuất trụ năm có 7,93đv, Dần trụ tháng có 3,6đv và Tuất trụ ngày có 8,18đv (vì hợp với tuế vận). Điểm vượng của các hành trong vùng tâm sau khi tính lại được diễn tả trong sơ đồ trên.
Sau khi tính lại ta thấy Thân vẫn nhược nhưng Thực Thương (Mộc) không còn là kỵ thần 1 mà là Tài tinh (Hỏa). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Thủy), nên can làm dụng thần chính là Quý tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Kim, các hành còn lại đều là kỵ thần. Hỏa thành hành kỵ vượng và quá vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của tháng Ngọ (năm Canh Ngọ), nó thuộc tiểu vận Kỷ Sửu.

Tính thêm các can chi động ở tuế vận thì Giáp đại vận có 3đv, Kỷ tiểu vận có 7,5đv, Canh lưu niên có 7đv, Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên mỗi chi có 10đv. Điểm vượng trong vùng tâm sau khi tính thêm ở tuế vận được diễn tả trong sơ đồ trên. Sau khi tính lại Hỏa được thêm 1đv (vì trong tứ trụ có 4 can chi Hỏa). Sau khi tính thêm ở tuế vận Hỏa được thêm 1,5đv (vì Hỏa có thêm 2 chi Hỏa ở tuế vận). Hỏakỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 30đv. Ta thấy nếu điểm kỵ vượng được tăng gấp 3 thì Tổng điểm hạn quá cao nên ta thử cho tăng gấp đôi xem sao ?


1 - Dụng thần Quý tử tuyệt tại lưu niên Ngọ có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Sửu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Điểm hạn của tam hợp Hỏa có 5 chi được tăng gấp đôi có 2.5.0,25đh = 2,5đh. Điểm kỵ vượng của mỗi chi Ngọ hóa Hỏa được tăng gấp đôi có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Bính trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động.
Canh lưu niên vượng ở lưu niên có -0,5đh can động bị giảm 70%đh (vì bị Bính khắc) còn -0,5.30%đh = -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng bị giảm 70% (vì bị Bính khắc) còn 0,3đh.
Canh trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 70% còn -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1.30%.50%đh = 0,15đh (bị giảm 70% do Bính khắc và giảm 50% vì cách 1 ngôi).
Giáp trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động (điểm hạn này không bị giảm).
6 - Nạp âm Đất ven đường của lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát ở đại vận có 1đh nhưng bị giảm 50% vì bị Bính khắc 1 lực có 0,7đh còn 0,5đh. Chi của nạp âm là Ngọ hay đã hóa Hỏa đều có thể sinh cho nạp âm Đất ven đường của nó max 0,25đh, giảm 50%đh giống nạp âm của nó còn 0,13đh.


Tổng số có 7,15đh, ta thấy tam hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục có 5 chi mà có 3 chi trong tứ trụ nên có -(1+2.0,25)đh = - 1,5đh còn 7,15đh - 1,5đh = 5,65đh. Tương tự theo ví dụ 21 trên ta thấy có 2 chi giống nhau trong tứ trụ hóa cục khác hành nên tổng điểm hạn được giảm 1/7 còn 5,65.6/7đh = 4,84đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là mổ nặng tới mức may mắn thoát chết.
Nếu điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 3 thì tổng điểm hạn quá cao là không thể chấp nhận được. Ta thấy các ví dụ có tai họa nặng tới mức thoát chết thì xác định điểm hạn của các quy tắc là chính xác và dễ dàng nhất.
Tổng điểm hạn ở tiểu vận Mậu Tý có (7,15- 0,13- 1,5).6/7đh = 473đh (vì không có 0,13đh của hung thần). Số điểm hạn này hơi thấp so với mức may mắn thoát chết.

Năm Canh Ngọ có Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng do có tới 5 chi hóa Hỏa và các điểm kỵ vượng đều được tăng gấp đôi nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của mùa hè là tháng Nhâm Ngọ (của năm Canh Ngọ). Trong mấy ngày đầu tháng Nhâm Ngọ (từ ngày 6/6) ta thấy có ngày Bính Ngọ (10/6) là ngày đáng ngại nhất ?

Từ ví dụ này đưa ra các quy tắc (sửa và thêm 18/4/2026):
1 - Lực nạp âm khắc nạp âm khác bị giảm 50%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực0,7đh (vds 22), thành vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 1 lực 1đh.
2 - Chi của nạp âm hóa hay không hóa cục có khả năng sinh cho nạp âm của nó max 0,25đh, số điểm hạn này bị giảm theo khi nạp âm bị khắc (vds 22).
3 - Một hành từ khi sinh không lớn hơn hỷ dụng 1 thì khi tính lại và tính thêm ở tuế vận nếu là kỵ vượng thì điểm hạn kỵ vượng chỉ có thể tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên (vds 22).
4 - Tam hợp ngoài tứ trụ có ít nhất 4 chi hóa cục, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh (giống tam hội ngoài tú trụ, chỉ khác tam hợp phải có ít nhất 4 chi), nếu có 2 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds 21;22), còn hóa cục cùng hành thì...

Sửa bởi SongHongHa: 18/04/2026 - 07:58


Thanked by 1 Member:

#160 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 19/04/2026 - 13:05

Sau khi nghiên cứu một số ví dụ tương tự tôi thấy lực nạp âm khắc các nạp âm khác không phải giảm 50% mà phải giảm tới 75%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh. Do vậy tôi xin luận và đăng lại Ví dụ số 22 này như sau :

Ví dụ số 22 : Nam bị mổ nặng may thoát chết

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Thực Thươngkỵ thần 1 (hay nhiều vì có 2 can chi được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Kim), can làm dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ năm, hỷ thần là Thủy còn kỵ thần là Mộc, Hỏa và Thổ.
Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990), nó thuộc đại vận Giáp Ngọ, tiểu vận Mậu Tý và Kỷ Sửu. Ta thấy Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên hợp với Dần trụ tháng và Tuất trụ năm và Tuất trụ giờ hóa Hỏa thành công (vì Bính trụ năm làm thần dẫn).


Vì có 2 Tuất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Hỏa khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Hỏa quá cường vượng nhưng không thể Tòng Hỏa vì có Nhâm trụ ngày là Quan Sát của Hỏa. Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào tháng Ngọ (của lưu niên 1990) thuộc tiểu vận Kỷ Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 17/2).
Giáp đại vận hợp Kỷ tiểu vận không thể hóa Thổ vì Kỷ tọa trên đất ướt là Sửu nên Giáp là Mộc sống (vì có Kỷ ướt nuôi nó hay Sửu tiểu vận không thể dẫn hóa cho can tiểu vận ?).
Điểm vượng của các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên. Do vậy Bính trụ năm động (vì khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng) nên điểm vượng trung bình của nó ở lưu niên Ngọ là: Có 2,7đv trong vùng tâm, 10đv tại Ngọ đại vận và 2 lần 10đv ở lưu niên Ngọ thành (2,7+10+2.10)/4đv = 8,18đv. Tính tương tự Canh trụ tháng có 5,72đv, Giáp trụ giờ có 4,5đv (động vì bị Canh lưu niên khắc), Tuất trụ năm có 7,93đv, Dần trụ tháng có 3,6đv và Tuất trụ ngày có 8,18đv (vì hợp với tuế vận). Điểm vượng của các hành trong vùng tâm sau khi tính lại được diễn tả trong sơ đồ trên.
Sau khi tính lại ta thấy Thân vẫn nhược nhưng Thực Thương (Mộc) không còn là kỵ thần 1 mà là Tài tinh (Hỏa). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Thủy), nên can làm dụng thần chính là Quý tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Kim, các hành còn lại đều là kỵ thần. Hỏa thành hành kỵ vượng và quá vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của tháng Ngọ (năm Canh Ngọ), nó thuộc tiểu vận Kỷ Sửu.

Tính thêm các can chi động ở tuế vận thì Giáp đại vận có 3đv, Kỷ tiểu vận có 7,5đv, Canh lưu niên có 7đv, Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên mỗi chi có 10đv. Điểm vượng trong vùng tâm sau khi tính thêm ở tuế vận được diễn tả trong sơ đồ trên. Sau khi tính lại Hỏa được thêm 1đv (vì trong tứ trụ có 4 can chi Hỏa). Sau khi tính thêm ở tuế vận Hỏa được thêm 1,5đv (vì Hỏa có thêm 2 chi Hỏa ở tuế vận). Hỏakỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 30đv. Ta thấy nếu điểm kỵ vượng được tăng gấp 3 thì Tổng điểm hạn quá cao nên ta thử cho tăng gấp đôi xem sao ?
1 - Dụng thần Quý tử tuyệt tại lưu niên Ngọ có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Sửu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Điểm hạn của tam hợp Hỏa có 5 chi được tăng gấp đôi có 2.5.0,25đh = 2,5đh. Điểm kỵ vượng của mỗi chi Ngọ hóa Hỏa được tăng gấp đôi có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Bính trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động.
Canh lưu niên vượng ở lưu niên có -0,5đh can động bị giảm 70%đh (vì bị Bính khắc) còn -0,5.30%đh = -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng bị giảm 70% (vì bị Bính khắc) còn 0,3đh.
Canh trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 70% còn -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1.30%.50%đh = 0,15đh (bị giảm 70% do Bính khắc và giảm 50% vì cách 1 ngôi).
Giáp trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động (điểm hạn này không bị giảm).
6 - Nạp âm Đất ven đường của lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát ở đại vận có 1đh nhưng bị giảm 75% vì bị Bính khắc 1 lực có 0,7đh còn 0,25đh. Chi của nạp âm là Ngọ đã hóa Hỏa có thể sinh cho nạp âm Đất ven đường của nó max 0,25đh, nhưng chỉ bị giảm 50%đh của nó chắc vì ở đây không phải chỉ có chi Ngọ mà là Hỏa cục (có từ 2 chi trở lên) còn 0,13đh. Nếu chi Ngọ không hóa cục thì chắc lực sinh bị giảm giống nạp âm là 75% còn 0,07đh.
Tổng số có 7,06đh, ta thấy tam hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục có 5 chi mà có 3 chi trong tứ trụ nên có -(1+2.0,25)đh = - 1,5đh còn 7,06đh - 1,5đh = 5,56đh. Tương tự theo ví dụ 21 trên ta thấy có 2 chi giống nhau trong tứ trụ hóa cục khác hành nên tổng điểm hạn được giảm 1/7 còn 5,56.6/7đh = 4,77đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là mổ nặng tới mức may mắn thoát chết.

Vì theo định nghĩa của tôi thì hạn nặng từ 4,75đh đến 4,89đh có thể coi là may mắn thoát chết, từ 4,9đh đến dưới 5,00đh có thể bị chết lâm sàng, còn từ 5,00đh trở đi có thể bị chết thật nếu không có cách nào giải cứu kịp thời.

Nếu điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 3 thì tổng điểm hạn quá cao là không thể chấp nhận được. Ta thấy các ví dụ có tai họa nặng tới mức thoát chết thì xác định điểm hạn của các quy tắc là dễ dàng và chính xác nhất.
Tổng điểm hạn ở tiểu vận Mậu Tý có (7,06- 0,13- 1,5).6/7đh = 4,65đh (vì không có 0,13đh của hung thần). Số điểm hạn này là thấp không thể gọi là may mắn thoát chết.

Năm Canh Ngọ có Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng do có tới 5 chi hóa Hỏa và các điểm kỵ vượng đều được tăng gấp đôi nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của mùa hè là tháng Nhâm Ngọ (của năm Canh Ngọ). Trong mấy ngày đầu tháng Nhâm Ngọ (từ ngày 6/6) ta thấy có ngày Bính Ngọ (10/6) là ngày đáng ngại nhất ?


Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Lực nạp âm khắc nạp âm khác bị giảm 75%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực0,7đh (vds 22), thành vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 1 lực 1đh.
2 - Chi của nạp âm hóa cục có khả năng sinh cho nạp âm của nó max 0,25đh, số điểm hạn này chỉ bị giảm 50% khi can của nạp âm bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh (vds 22), còn nếu chi của nạp âm không hóa cục thì bị giảm 75% (?).
3 - Một hành từ khi sinh không lớn hơn hỷ dụng 1 thì khi tính lại và tính thêm ở tuế vận nếu là kỵ vượng thì điểm hạn kỵ vượng chỉ có thể tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên (vds 22).
4 - Tam hợp ngoài tứ trụ có ít nhất 4 chi hóa cục, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh (giống tam hội ngoài tú trụ, chỉ khác tam hợp phải có ít nhất 4 chi), nếu có 2 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds 21;22), còn hóa cục cùng hành thì...

Sửa bởi SongHongHa: 19/04/2026 - 13:23


#161 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 503 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào Hôm qua, 08:41

Ví dụ số 23 : Nam bị tai nạn nặng

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân vượng mà Kiêu Ấn nhiều (vì có 2 can chi đều được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Thủy), nên dụng thần chính là Quý tàng trong Tý trụ năm có 4,3đv, hỷ thần là Thực Thương (Kim) còn kỵ thần là Quan Sát (Mộc), Kiêu Ấn (Hỏa) và Tỷ Kiếp (Thổ). Thân có 16,45đv lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy có 0,45đv trên 10đv nên Thổ là kỵ vượng.
Năm 1989 gặp tai họa nặng là năm Kỷ Tị thuộc đại vận Canh Thân, có 2 tiểu vận Đinh Dậu và Mậu Tuất.
Ta thấy có tam hợp của Thân đại vận hợp với Tý trụ năm, Thìn trụ tháng và Thìn trụ giờ không hóa (vì không có thần dẫn).
1 - Dụng thần Quý tàng trong Tý trụ năm hợp với tuế vận nên có 1đh, dụng thần Quý hưu tù ở lưu niên Tị có 0đh.
2 - Nhật can Mậu vượng ở lưu niên Tị có -1đh.
3 - Bính trụ tháng và trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên Tị khắc Canh đại vận mỗi lực có 1đh. Canh đại vận vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị Bính khắc mất hết. 2 Bính có 0đh can động.
Đinh tiểu vận vượng ở Dậu tiểu vận khắc Canh đại vận có 0,5đh (vì khắc trái dấu).
4 - Kỷ lưu niên có 2 cát thần có -2.0,25đh, Tị lưu niên có 2 hung thần có 2.0,25đh, Dậu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
5 - Dần trụ ngày hình và hại Tị lưu niên mỗi lực có 1đh.
6 - Lửa sấm sét trụ năm có Mậu vượng ở lưu niên khắc Đất trên thành trụ giờ và gỗ Lựu đại vận mỗi lực có 1đh.

Tổng số có 6,63đh. Ta thấy có tam hợp ngoài tứ trụ không hóa này giống với ví dụ số 21 và 22 là đều có từ 4 chi, trong đó có 3 chi trong tứ trụ nên 3 chi đầu có -1đh (giống với Tam hội, chỉ khác là Tam hợp phải có ít nhất 4 chi), còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh, vì vậy có -1,25đh. Ở đây chỉ có khác là tam hợp này không hóa nhưng cũng có 2 chi trong tứ trụ giống nhau nên chắc chắn tổng điểm hạn không thể được giảm 1/7 mà chỉ có thể giảm 1/8. Nếu đúng như vậy thì tổng điểm hạn còn (6,63 -1,25).7/8đh = 4,71đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là tai họa rất nặng.


Theo định nghĩa của tôi thì tổng điểm hạn từ 4,6đh đến dưới 4,7đh được gọi là nặng tới mức phải cấp cứu còn từ 4,7đh đến dưới 4,75đh mới được coi là rất nặng.

Nếu Tổng điểm hạn được giảm 1/7 thì còn (6,63 -1,25).6/7đh = 4,61đh mặc dù ở mức cấp cứu nhưng so với định nghĩa trên chỉ được coi là nặng.

Vì tam hợp không hóa cục nên yếu tố tam hợp gây ra tai họa là quá thấp trong khi Dần trụ ngày hình và hại thái tuế Tị mới là yếu tố quan trọng tác động mạnh cho tai họa xẩy ra. Do vậy tháng Dần (của lưu niên) là tháng đáng ngại nhất (vì nó ám hình, hại thái tuế Tị). Trong tháng Dần (từ ngày 4/2) thì ngày 15/2Bính Ngọ nó là ngày Thổ là hành kỵ vượng cực vượng thêm Hỏa vượng sinh cho nên Thổ đã quá vượng càng thêm cường vượng đã tác động làm cho tai họa xẩy ra vào ngày này chăng ?
Giả sử điều dự đoán này là đúng thì có cách giải cứu nào giúp người này thoát được tai họa không ?

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc .

Tam hợp ngoài tứ trụ không hóa cục có từ 4 chi trở lên mà trong tứ trụ có ít nhất 3 chi thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh. Nếu tam hợp không hóa này có 2 chi giống nhau trong tứ trụ thì Tổng điểm hạn được giảm 1/8.

Sửa bởi SongHongHa: Hôm qua, 08:55







Similar Topics Collapse

5 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 5 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |