Có khi nhiếc móc chẳng xong,
Có khi kìm nén để lòng tạm yên.
Có khi rộng lượng, được liền;
Cũng khiến dạ phiền nhẹ bớt âu lo.
Sửa mình khéo léo thuận cho,
"Căng", "chùng" đúng lúc, thì không mệt nhoài.
Đường dài việc khó gắng ai,
"Giá" thời trả hết, việc thời thành công.
"Tổn", "Hàm" ta bước thong dong,
Thả trâu gặm cỏ, ngồi nằm rung chân.
Sơn Trạch Tổn
損: 有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有攸往
Tổn: Hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng.
曷之用 ? 二簋可用享
Hạt chi dụng? Nhị quỹ khả dụng hưởng.
“Tổn” nghĩa là đè nén xuống, là giảm bớt; cũng có nghĩa là nhiếc móc, đay nghiến; là làm hại, là hủy hoại. “Phu” nghĩa là sự thành tín; “Hữu phu” là có sự thành tín. “Nguyên” tức ban sơ, là khởi thủy; là trạng thái trong sáng lúc mới có mặt trên cuộc đời này. “Cữu” là lỗi lầm; “Vô cữu” là không phạm lỗi lầm. “Khả” nghĩa là có thể; là thích hợp; “Trinh” là sự trong sáng, trong trắng, là tiết hạnh cao quý. “Hữu du vãng” là đi ra ngoài; “Lợi hữu du vãng” là đi xa ra ngoài thì có lợi. “Chi” nghĩa là thuộc về. “Hạt” nghĩa cớ gì, tại sao. “Hạt chi dụng ?” nghĩa là dùng nó bằng cách nào ? “Quỹ” là bình đựng lúa, nếp, kê v..v để cúng tế thời xưa ( "Quỹ" thường có hình tròn, có nắp đậy, có hai quai cầm hai bên và có chân đế. Chất liệu phổ biến là đồng, nhưng cũng có thể làm bằng gốm hoặc các vật liệu khác.) “Hưởng” là dâng lên, là tiến cống. “Khả dụng hưởng” là có thể sử dụng để dâng lên.
Toàn bộ các câu Kinh trên nghĩa là: Hãy giảm bớt hình thức, có sự thành tín với tâm trong sáng như thủa phát tâm ban đầu là đủ khiến vui lòng rồi, mà cũng không phạm lỗi lầm chi cả. Khi có việc ra ngoài, chỉ cần giữ gìn sự thuần khiết phù hợp là sẽ được lợi ích. Cách làm như thế nào ? Sử dụng hai bình đựng lúa nếp để dâng lên là được.
Thánh nhân lấy hình thức tế lễ giản dị để biểu đạt cho sự sửa mình của người Quân tử, cái quý nằm ở chỗ “thành tín”, “trong sáng” và “kính cẩn”, nghĩa là ở sự chân thật nội tâm, chớ không phải ở nơi, ở lúc, ở hình thức bên ngoài cho người khác thấy, để người khác coi. Tu sửa mà chỉ để cho người khác coi vào, nhìn vào và cố làm sao để họ không chê bai mà khen ngợi mình, thì ấy không phải là sự sửa mình chân chánh. Việc làm như thế chỉ nuôi lớn bản ngã, là sự làm màu ra vẻ, không đi vào thực chất. Nó chỉ khiến tăng thêm sự che đậy, sự giả dối của nội tâm. Không có ích chi cho sự thành tựu Đức Hạnh chân thật, nó không khiến ta đạt được sự an vui đích thực và khả năng bình thản trước sóng gió nghịch cảnh. Nó sẽ làm ta mệt mỏi hơn vì phải đóng diễn nhiều vai nơi thế gian.
Kinh nói: Tổn, Hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng.
“Tổn” là giảm bớt, là nhiếc móc, là đay nghiến, là sự hủy hoại. Tại sao sự nhiếc móc xuất hiện, sự đay nghiến xuất hiện ? Vì ta làm sai cách hay vì người không thích ta; hay vì ta tức giận chính mình vì sửa chữa hoài mà không hết thói hư tật xấu ? Tại vì thói xấu còn thì chướng nạn dĩ nhiên xuất hiện, “nhiếc móc”, “đay nghiễn” chỉ là một trong những thử thách thường tình để hỗ trợ ta bào mòn thói xấu thôi, không có gì bất ngờ cả, thậm chí cần phải cảm ơn vì nó xuất hiện, chớ nó không xuất hiện thì ta lại cứ nghĩ mình ổn rồi, khỏi cần sửa chữa gì thêm nữa, nghĩ rằng ta đã tốt đẹp rồi khi mà ta chưa như thế ấy là nuôi lớn sự nguy hại âm thầm, ắt sẽ phải chịu quả đắng về sau.
Người ta thường nói: “Cái gì cũng có cái giá của nó”, sự tu sửa bản thân dĩ nhiên cũng vậy, cái “giá” cũng không hề “rẻ”, giá đó là gì vậy ? Là nhận chịu thiệt thòi ! Tại sao sửa mình là việc trong mình lại phải nhẫn chịu thiệt thòi ? Vì sửa mình cốt làm cho lòng trong lặng hơn, nghĩa là phải bỏ cái Tôi của mình qua một bên, bỏ cái ý riêng mà thay vào đó là cái lợi chung. Cho nên, không làm việc mưu cầu cho bản thân mình thì dĩ nhiên phải thuận theo khát vọng của người, vì người mà quên mình thì cái Tôi nó mới tiêu mòn, thói hư tật xấu nó mới không có nơi trú ngụ. Bằng không thì người bảo anh làm vậy không đúng rồi, thì mình đáp không đúng gì mà không đúng, tôi làm vậy suốt có sao đâu ! Hoặc khi có người nói, anh đừng như thế nữa chẳng có lợi đâu, thì mình nói đấy là quyền tự do của tôi, không khiến anh bận tâm, tôi thích thì tôi làm, có vấn đề gì nào ? Thế đấy, cứ hễ mà người ý kiến là mình phản bác lại liền, để bảo vệ quan kiến cá nhân. Bo bo giữ lấy ý mình thì cái Tôi nó lớn dần theo năm tháng, sự cố chấp nó nở rộ như cỏ dại mùa Xuân thì làm sao mà thói hư tật xấu nó thay mầu đội dạng thành thói lành việc tốt cho được. Dẹp trừ bản ngã là gốc của tu sửa, do đó, nhẫn chịu thiệt thòi là cái giá phải trả đi. Nói là thiệt, chứ thật ra, nếu mình bỏ đi cái dở mà thu về cái tốt lành, thì rốt cục mình là người được lợi nhất chớ có ai được lợi hơn mình đâu. Nên bỏ cái dở, hạ cái Tôi, lắng nghe cái đúng và tự sửa cái sai thì ấy là tự mình thương mình, tự mình cứu mình, tự mình làm điều tốt mang lại hạnh phúc an vui lâu dài cho chính mình đó vậy. Đó là vì sao tuy “tổn” mà lại được “Cát”, “lợi”. Thánh nhân nhấn mạnh trong quá trình tự sửa mình, thì nhẫn chịu “tổn” hại thiệt thòi là thứ bậc đầu tiên.
Vậy khi bị chỉ trích, khi bị lên án, khi bị góp ý v…v tức là khi bị người tác động tới thì mình nên làm sao ? Cứ thành tín “hữu phu” là được. Chỉ cần vậy là đủ rồi, dụng đúng cái chỗ dạy của bậc Hiền Thánh: Biết sao thì nói vậy, không biết thì nói là không biết, làm được hay không làm được thì cứ nói thẳng ra, khó khăn chướng ngại ở đâu thì cứ khai cho hết…vậy đó, phơi bày gan ruột ra cho thiện hạ mổ xẻ, thì ắt là người có lòng sẽ chỉ vẽ cho ta con đường ta đi mà cũng không chấp nhất ta làm gì, vì ta là người thành thực không che dấu. Ai mà lại không yêu quý sự thành thật cơ chứ ? Chỉ có kẻ muốn chịu khổ về sau thì mới ghét bỏ sự thành thật mà thôi !
Hễ muốn thành thật thì phải giữ tâm trong sáng, cũng như sự thành thật sẽ giúp việc giữ gìn tâm trong sáng được dễ dàng hơn “khả trinh”. Không có so đo suy tính thiệt hơn, không để trong tâm có chút lòng toan tính lao xao nào, như Trời trong xanh không mây che phủ, thuần khiết “trong sáng” thì sự thành thật nó mới lột tả được đúng hiện thực, nó mới mang lại “Cát” hỷ niềm vui cho cả mình và người đón nhận. Không tin ư ? Làm thử coi ! Khẩu quyết Thánh nhân dạy là: “lòng trống rỗng và nói ra sự thật”, đơn giản vậy đó, tu sửa “dễ như ăn kẹo”, thêm bớt nhào nặn mới khó, chứ khai thật ra những gì hiện hữu thì khó gì đâu nào phải không ?
Như trước đây đã từng nói, việc đi ra ngoài cuộc đời, va chạm cuộc sống, tức là sự cọ sát mài dũa tâm tánh nó luôn có “lợi” cho việc sửa mình, hơn là chỉ ngồi yên một chỗ xa cách tất cả, vì do có sự tương tác nên nó dễ bộc lộ thói quen – thứ mà phản ứng lại ngay khi bị tác động là thứ chân thật – lấy đó làm chỗ nhìn nhận học tập, làm chỗ tu sửa. Vì thế việc ra ngoài “hữu du vãng” mang theo tâm hồn thành thật không quanh co, khả dĩ có “lợi” cho sự rèn luyện tâm tánh, để làm lộ ra đức “Trinh” thuần khiết tiềm ẩn bên trong, là điều nên làm vậy.
Kinh nói: Hạt chi dụng? Nhị quỹ khả dụng hưởng.
Ấy là Thánh nhân đặt mình vào vị trí của phàm nhân mà tự hỏi để mà tự đáp, vì nhiều khi phàm nhân cũng không biết có việc đó để mà hỏi, hoặc có biết cũng chẳng dám hỏi vì sợ bị chê trách. Nên thôi thì, Thánh nhân có lòng, gọi là “tự biên tự diễn”, tự hỏi tự đáp. Tu sửa bản thân phải chịu thiệt thòi, thế làm sao để nhẫn chịu thiệt thòi mà không đòi đè người ra đánh hay là khóc tu tu như trẻ em bị dựt mất kẹo cầm tay đây ? Đơn giản như đang giỡn: “lấy hai cái bình dâng lên”.
Trên nói ăn, nói uống, nay lại nói bình nói lọ nói lúa nói kê, quả là các Ngài cũng thật thảnh thơi, nên nơi nơi đều đảo mắt tới, chính thế mà thích đem cái thí dụ gần kề trước mắt để tỏ cái Đạo sâu sắc bên trong. Tại sao phải lấy bình đựng lúa ? Tại sao phải là hai không phải là ba bốn năm hay một ? Vì tu sửa cần cân bằng khéo léo, nên lấy hai; vì khổ não chẳng khi không mà rớt xuống, đều từ tương tác mà sinh ra nên nói hai; vì sự biết và cái biết luôn song hành không rời nên lấy hai mà không phải là con số khác. Lại nữa vì “bình” có thể chưa đựng lúa kê, là thứ quan trọng cho sự sống và “tâm hồn” lại có thể chứa đựng những ý niệm, là cội gốc sinh ra hành động thiện ác thuận nghich, thế thì lấy “bình” tượng cho “tâm”, lấy “lúa, kê” tượng cho ý niệm thiện lành ích lợi, đem cái ý tốt đẹp trao dâng cho người, đổi lấy lấy cái chỉ trích, cái khó chịu, cái thiệt thòi mà người mang đến cho mình. Nói nôm na là lấy ân báo oán theo kiểu thế tục, vì người đời hay ví von sự nghịch cảnh mình gặp là điều “oán than” vậy đó.
Người xưa nói: “ Oán oán tương báo, hà thời liễu ?” – Đem oán thù đáp trả thù oán thì bao giờ mới kết thúc ? Lại nói : “Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh, thối nhất bộ hải khoát thiên không” – nhẫn một lúc sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng Trời cao. Y cứ vào đây thì biết cái gốc của sự thành tựu đức “nhẫn” tức là chịu “tổn” mà không khởi sinh ý định báo thù, không khởi lên cái ý muốn báo oán, muốn làm đối phương phải chịu sự đau khổ tương xứng giống mình. Làm như thế thì sao gọi là “tu sửa” gì nữa, đó là trả đũa, là hơn thua mất rồi.
Hãy vui vẻ nhẫn chịu sự “tổn thương” mà hoàn cảnh bất như ý nó mang tới, nhưng sự tổn thương ấy không phải sinh rồi thì giữ nó lại để nó hành hạ thân tâm mình, mà đem sự tổn thương ấy, bỏ vô cái lọ “bình an” mà dâng lên Trời cao với đức Trinh thuần khiết - nghĩa là buông xả nó đi, hóa giải nó đi bằng tâm khoan dung, trong sáng, cao thượng vốn sẵn nơi mình. Trời Đất sẽ đón nhận hết, coi như là lễ vật quý, trao cho Trời Đất cái đó thì lòng mình nhẹ lại, ấy là nghĩa thô nghĩa tế của sự khéo dụng tâm khi phải gặp điều trái lòng khó yên. “Nhẫn khổ thì hết khổ” ấy là chân lý chắc thật, chớ nên lo lắng hoài nghi thêm làm gì !
Chẳng thể mà hễ bị oán than thì ai nấy lại kêu hai tiếng: Trời ơi ! Kêu mà không gửi gì cho nhau thì người ta gọi là kêu réo ầm ĩ, đã kêu Trời ơi rồi, thì nên tặng cho Trời cái nỗi lòng của mình nữa, thì mới được coi là trọn vẹn câu chuyện.
Sửa bởi HieuHcmVN: 24/06/2025 - 23:00















