Jump to content

Advertisements




“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)


183 replies to this topic

#166 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 03/05/2026 - 14:35

Ví dụ số 27 : Bé trai ốm nặng may thoát chết

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Dậu trụ ngày với Tị trụ giờ hóa Kim (vì có Tân làm thần dẫn). Mặc dù Kim cực vượng có tới 5 can chi nhưng không thể Tòng Kim (vì có Ngọ trụ năm là Quan Sát của Kim). Thân của tứ trụ này quá nhược vì có mỗi Nhật can Ất ở trạng thái tử tuyệt còn bị Quan Sát cực vượng có tới 5 can chi (Lâm quan) hội tụ khắc mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có. Do vậy không thể lấy Nhật can làm dụng thần mà phải lấy kỵ thần Thực Thương là can Đinh tàng trong Ngọ trụ năm, có 6đv (vì lực khắc của Thực Thương với Quan Sát lợi hơn nhiều lần làm xì hơi Nhật can). Vì phải lấy kỵ thần làm dụng thần nên nó phải có ít nhất 0,5đh (coi như Dụng thần ở tử tuyệt tại lệnh tháng).

Tai họa xẩy ra vào năm Tân Dậu (1981) chưa vào đại vận (tháng 11/1984) nên ta phải lấy 2 tiểu vận là Giáp Thân và Ất Dậu thay thế đại vận. Ta xét tiểu vận Ất Dậu vì có thêm nhiều điểm hạn của Tân khắc Ất và Dậu hợp với Tị hóa Kim.
Vì có Kim cục 2 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Kim hay có chi tuế vận hợp với chi trong tứ trụ hóa Kim nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận điểm hạn và điểm vượng của ngũ hành được diễn tả trong sơ đồ trên. Dụng thần không thay đổi còn điểm vượng của Hỏa lớn hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 60đv nên Hỏa là kỵ vượng. Ở đây điểm kỵ vượng được tăng bao nhiêu lần ?


1 - Dụng thần Đinh có 0,5đh (vì là kỵ thần lấy làm dụng thần), dụng thần Đinh vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
2 - Nhật can Ất tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
3 - Bán hợp Kim cục có 0,5đh (vì chỉ có 2 chi ở tuế vận có điểm hạn còn 2 chi trong tứ trụ đã hóa Kim từ khi sinh). Dậu đại vận và Dậu Lưu niên là kỵ vượng có x.0,5đh kỵ vượng (vì hóa cục Kim là kỵ vượng và được tăng x lần, sẽ xét sau).
4 - Tân trụ tháng và Tân trụ giờ vượng ở lưu niên khắc Ất đại vận và Ất trụ ngày mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động. Tân lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Ất, mỗi lực có 0,7đh, có 0,5đh can động và có 1 cát thần có -0,25đh.
Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh nhưng bị 3 Tân khắc còn -0,25.0,3.0,3.0,3đh = -0,01đh, có 0đh can động. Ất trụ ngày thất lệnh còn nhược ở tuế vận có 0đh can động.
5 - Gỗ Lựu trụ tháng và gỗ Lựu lưu niên khắc Kim giá đèn trụ giờ có 0đh (vì không có lửa yếu là Lửa đèn).

Chưa xét đến điểm kỵ vượng của 2 Dậu ở tuế vận thì ta có Tổng số là 5,44đh. Ví dụ này giống ví dụ 26 trên (vì trong tứ trụ có 2 Dậu, trong đó Dậu trụ ngày hợp với Tị trụ giờ hóa Kim rồi hợp với tuế vận hóa Kim) nên Tổng điểm hạn được giảm giữa 2 mức 1/3 và 5/12. Do vậy điểm kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi nên có thêm 2.2.0,5đh = 2đh. Tổng số có 7,44đh sau khi giảm còn 7,44.(2/3+7/12).1/2 = 4,65đh. Số điểm này quá thấp không thể chấp nhận được vì nó chỉ gây ra tai họa nặng chứ không phải là thoát chết. Nếu điểm kỵ vượng tăng gấp 3 thì Tổng số có 8,44đh sau khi giảm còn tới 5,27đh. Số điểm này thừa sức gây ra tử vong nên cũng không thể chấp nhận được.
Bây giờ ta thấy chỉ cần tìm thêm khoảng 0,25đh nữa là được vì khi đó Tổng số còn lại là (7,44+0,25).(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Mặc dù không có Lửa yếu là lửa Đèn nhưng ta thấy lửa Mặt trời mạnh hơn lửa Đèn không quá nhiều (vì nó giúp cho các loại cây sống được) nên có thể coi là Lửa hơi mạnh nên vẫn giúp các loại gỗ khắc được Kim giá đèn. Ta giả sử cho các loại gỗ khắc Kim giá đèn giảm 50% đh khi có lửa Mặt trời so với số điểm hạn mà các loại gỗ khắc Kim giá đèn khi có Lửa yếu là Lửa đèn xem sao ?
Nếu sử dụng giả thiết này (vì 2 lửa này có thể giúp cây sống và phát triển được?) thì khi có lửa Mặt trời, mỗi lực gỗ Lựu khắc Kim giá đèn có 0,25.50%đh = 0,13đh. Khi đó ta có thêm 2.0,13đh = 0,26đh. Tổng số có 7,7đh sau khi giảm còn 7,7.(2/3+7/12).1/2đh = 4,81đh. Số điểm này quá chính xác vì nó ứng hợp với thực tế là may mắn thoát chết (từ 4,75đh đến dưới 4,9đh).

Vì đến giờ chúng ta vẫn không biết dựa vào đâu mà người ngoài hành tinh của chúng ta nạp âm cho Bảng 60 năm Giáp Tý nên đành phải suy luận như vậy.

Nếu lấy dụng thần đầu tiên là Ất trụ ngày thì kỵ thần Hỏa 1đh, khi đó Tổng số trên 10đh, sau khi giảm còn trên 6đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được.


Tôi thấy ví dụ này Quá Đặc Biệt nên cố gắng đưa vào đây luận thử xem sao ?
Hy vọng mọi người tham gia bình xem bài luận này có sai hay không chặt chẽ ở chỗ nào không ?
Xin cám ơn mọi người trước.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Khi Thân quá nhược còn Quan Sát lại quá vượng nhưng không thể Tòng mà Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp lại không có thì dụng thần đầu tiên có thể là Thực Thương có 0,5đh (vì kỵ thần lấy làm dụng thần thì coi như dụng thần tử tuyệt tại lệnh tháng).
2 - Các loại gỗ khắc Kim giá đèn gặp lửa yếu là Lửa đèn có 0,25đh, gặp Lửa mặt trời mạnh hơn Lửa đèn nên chỉ có 0,13đh, còn gặp các loại Lửa khác quá mạnh đều có 0đh (khi không có lửa thì các loại gỗ sẽ chết nên không khắc được Kim giá đèn chăng ?).
3 - Khi chưa vào đại vận thì sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận một hành là kỵ vượng chỉ có thể được tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên.
4 - Một tổ hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục phải có ít nhất
4 chi có điểm hạn thì khi hóa cục đó là kỵ vượng mới được tăng như điểm kỵ vượng.
5 - Chi tuế vận hợp với chi hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hóa cục; hay hóa cục có 2 chi trong tứ trụ hợp với chi tuế vận đều là Quy tắc 102, tức phải tính lại và tính thêm điểm vượng ở tuế vận, khi đó dụng thần có thể bị thay đổi (vds13;27).

Sửa bởi SongHongHa: 03/05/2026 - 14:42


#167 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 07/05/2026 - 14:25

Tôi (VULONG) đã tìm ra “Thuyết trường thống nhất” mà hơn thế kỷ qua Albert Einstein cùng các nhà Vật Lý thế giới vẫn bó tay. Nó chính là lực hấp dẫn bởi vì lực hấp dẫn trong sao Lùn trắng đủ sức ép chặt các hạt ProtonNeutron với nhau, khi đó rõ ràng lực hấp dẫn không nhỏ hơn lực Hạt nhân mạnh hàng tỷ tỷ tỷ tỷ lần mà ngược lại nó lớn hơn lực Hạt nhân mạnh hàng tỷ tỷ tỷ tỷ lần. Còn lực hấp dẫn trong Lỗ đen còn lớn hơn nhiều tỷ tỷ... lần nữa vì nó đủ sức ép chặt các hạt QuarkGluon với nhau thành 1 khối. Nhưng tại tâm của Lỗ đen các hạt QuarkGluon không phải chịu lực hấp dẫn này nữa vì lực hấp dẫn lên chúng về mọi hướng là như nhau nên thật Ngớ Ngẩn khi Albert Einstein và các nhà Vật lý thế giới lại cho rằng các hạt Quark Gluon này vẫn tiếp tục bị lực hấp dẫn của Lỗ đen làm cho co lại tới mức thành điểm Kỳ Dị mà ở đó họ cho rằng Không gian Thời Gian không còn tồn tại.

Rõ ràng ở đây 3 lực là Điện từ, Hạt nhân mạnh và yếu chỉ là các trường hợp riêng của lực hấp dẫn nên "Thuyết trường thống nhất" chính là Lực Hấp Dẫn.

Qua đây tôi hy vọng thế hệ trẻ bây giờ không còn bị Thống Trị bởi sự suy luận Ngớ Ngẩn này nữa. Mặc dù tôi biết những tên “Tiến Sĩ Giấy” hay “Tiến Sĩ Lợn” vẫn đang ngăn cản tôi công bố “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” này, nhất là diễn đàn của “Hội Vật Lý Việt Nam”.

Dĩ nhiên “Thuyết trường thống nhất” chỉ có mục đích là thống nhất 4 lực cơ bản, nó không có liên quan gì đến việc giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ cũng như không giải thích được vận mệnh của con người, kể cả thời điểm tử vong của con người.

Trong khi “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” chính xác phải là “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất” bởi vì nó không những giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ mà còn giải thích được vận mệnh của con người, kể cả thời điểm tử vong.

Vậy thì “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất” có đáng nhận được giải Nobel Vật Lý hay không ?
(Mọi người nên nhớ rằng lòng cốt hay cội nguồn của“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” cách nay 7500 năm ở Ukraine Châu Âu là do người ngoài hành tinh của chúng ta phát minh ra đấy.)

Theo suy nghĩ Thiển Cận của tôi thì không dễ dàng gì đâu, chắc phải đợi đến ít nhất 350 năm nữa giống như Thuyết Nhật Tâm của Galileo Galilei ?

Có cuốn Kinh Thánh nào viết “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ” mà các Giáo Sĩ, đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã đưa Galileo Galilei lên giàn lửa thiêu khi qua kính thiên văn ông phát hiện ra Trái Đất không phải là trung tâm của vũ trụ mà quay xung quanh Mặt Trời. Rất may trước khi bị quẳng lên giàn lửa thiêu ông đã kịp nói “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ”. Chắc lúc đó ông còn trẻ, khỏe để tiếp tục nghiên cứu nên ông nghĩ không thể chết một cách Ngu Xuẩn như vậy bởi... Chính câu nói này đã cứu ông thoát khỏi lưỡi hái của Tử Thần từ Tòa Thánh Vatican. Khi về già biết không còn sống được lâu nữa ông đã công khai công bố công trình của mình về Thuyết Nhật Tâm. Dĩ nhiên ông đã bị các Hồng y, Giám mục... đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã kỷ niệm 60 gậy “đầy tình yêu thương” lên người ông. Nhà bác học đáng kính của chúng ta ra đi như vậy đấy. (Những thông tin này trước đây tôi đã đọc ở đâu đó nay quên mất rồi, nếu có sai sót gì mong mọi người lượng thứ bỏ qua cho tôi).

“Tòa thánh Vatican chính thức thừa nhận sai lầm trong việc kết tội
Galileo Galilei vào năm 1992. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức khép lại vụ án kéo dài hơn 350 năm, thừa nhận những sai lầm của các nhà thần học thời đó khi kết án Galileo vì quan điểm Trái đất quay quanh Mặt trời.” (Theo Wikipedia)

(Những ai quan tâm hãy gõ lên Google để đọc chủ đề “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa – bản hoàn chỉnh”)
............................................................................................


VULONG đã chứng minh được không có Vật Chất TốiNăng Lượng Tối.
VULONG đã chứng minh được Tốc Độ Ánh Sáng phụ thuộc vào Kích Thước của Trái Đất (khi người đo đứng ở Trái Đất).
Ai quan tâm xin gõ lên Google để đọc chủ đề "Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa - (bản hoàn chỉnh)".


VULONG là sinh viên đã tốt nghiệp khóa 23 (1978) khoa Vật Lý trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội (nay là trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội).
Năm thứ 4 chính cựu bộ trưởng bộ đại học và trung học lúc đó là Tạ Quang Bửu đã về dạy và làm chủ nhiệm lớp chuyên ngành mà anh ta học.


Ai muốn biết thêm về VULONG hãy gõ lên Google để đọc chủ đề "VULONG : Thằng Bờm hay Thánh Nhân - phần 1 , 2 và viết tiếp". Chủ đề này chính là hồi ký của VULONG, tất cả đều là sự thật đã xẩy ra trong đời thực. Nhiều đoạn đọc như Huyền Thoại nhưng anh ta xin lỗi vì bây giờ chưa thể giải thích được. Sau này mọi người sẽ biết qua cuốn sách có tên "Những Huyền Thoại Của Đời Tôi".
…...................................................................................................

Tôi hy vọng mọi người truyền giúp tôi bài viết này tới các bạn trẻ, nhất là các sinh viên khoa Vật Lý tại các trường đại học trên toàn thế giới.

Xin cám ơn mọi người trước.

Sửa bởi SongHongHa: 07/05/2026 - 14:42


#168 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 08/05/2026 - 12:15

Bài trên tôi đã sai khi viết Sao Lùn Trắng xin đổi lại là Sao Neutron.

Thành thật xin lỗi mọi người.

#169 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 08:58

Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.


Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Canh Thân :
Ta thấy có ngũ hợp của Bính đại vận với Tân trụ năm không hóa (vì không có thần dẫn là Thủy), còn có lục hợp của Mão lưu niên với Tuất đại vận hóa Hỏa thành công (vì có thần dẫn Bính, Đinh...). Với 2 tổ hợp này (1 hóa cục còn 1 thì không) mà không phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm thì năm Đinh Mão chắc chắn đại phát Tài chứ không thể Phá sản như vậy được (vì có thêm Hỏa cục là dụng thần).
Do vậy ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại điểm vượng của ngũ hành được mô tả trong sơ đồ trên. Ta thấy Hỏa chỉ có 24,17đv không lớn hơn hỷ dụng 1 (có 7,48đv) trên 20đv nên cách Tòng (Hỏa) bị phá. Thân quá vượng mà Kiêu Ấn ít còn Quan Sát thì không có nên dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương (Thổ), can làm dụng thần chính là Mậu tàng trong Tị trụ năm (vì có Tị sinh cho, không phải Mậu tàng trong Dần trụ tháng vì Dần khắc Mậu), hỷ thần là Kim và Thủy, còn kỵ thần là Mộc và Hỏa. Sau khi tính thêm ở tuế vận điểm kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv nên điểm kỵ vượng được tăng gấp 3.
1 - Dụng thần Mậu vượng ở lưu niên Mão có -1đh, nhưng nhập Mộ ở đại vận Tuất có 1đh.
2 - Nhật can Đinh hưu tù tại lưu niên Mão có 0đh.
3 - Lục hợp của Mão với Tuất hóa Hỏa có 0,5đh, mỗi chi Tuất và Mão có 3.0,5đh kỵ vượng.
3 - Bính đại vận vượng ở lưu niên hợp khắc Tân trụ năm có 0,5đh, còn có 3.0,5đh kỵ vượng. Tân trụ năm thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,25đh can động bị giảm 50% (vì Bính khắc) còn -0,13đh.
Đinh lưu niên nhược ở cả tuế và vận nên khắc Canh tiểu vận và Canh trụ tháng đều có 0đh, và có 0đh can động (chú ý can tiểu vận không bao giờ có điểm hạn can động). Khi đó Đinh trụ ngày thất lệnh và nhược ở tuế vận mới khắc Canh trụ tháng có 0đh, và có 0đh can động. Canh trụ tháng thất lệnh và nhược ở tuế vận có 0đh can động.
Thân tiểu vận có 3 hung thần có 3.0,13đh.
4 - Lửa trong lò lưu niên có can của nó nhược ở tuế vận nên khắc gỗ Tùng trụ tháng có 0đh.
Đất mái nhà đại vận có can của nó vượng ở lưu niên khắc nước Mưa ở trụ ngày và trụ giờ có hiệu số của 2,5đk (tổng số điểm khắc của can và nạp âm cùng trục) trừ đi phần điểm khắc mà can của nó đã sử dụng là (2,5-1)đk = 1,5đk có thể gây ra 1,5đh (can Bính của nạp âm đã dùng 1đk để khắc Tân trụ năm gây ra 0,5đh, vì khác dấu). Do vậy mỗi lực khắc nước Mưa này có 1,5.1/2đh = 0,75đh, bị giảm thêm 50%đh do can và chi của nạp âm đều hợp với tuế vận (sẽ nói sau) còn 0,75.50%đh = 0,38đh.
Can của nạp âm hay nạp âm không bị giảm điểm hạn do bị khắc nào cả nên mặc dù chi của nạp âm là Tuất hóa Hỏa nhưng không sinh được điểm hạn nào cho nạp âm (mang hành Thổ).
Tổng số có 7,01đh. Số điểm này được giảm 1/3 (vì tam hội cục trong tứ trụ hóa cục có 3 chi không liền nhau và cả 3 trụ đều động) còn 7,01.2/3đh = 4,67đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó ứng hợp với thực tế là phá sản.

Mức độ tai họa nặng nhẹ theo thang điểm 5 (dựa theo các thông tin của tứ trụ với tuế vận)
1 - Từ 4đh (điểm hạn) đến 4,4đh, chỉ có hạn nhẹ, có thể phải đến bệnh viện nhưng không phải nằm lại bệnh viện để điều trị lâu dài.
2 - Từ 4,4đh đến dưới 4,6đh, có hạn nặng, phải nằm ở bệnh viện để điều trị, hoặc bị phá tài hay lao tù nhẹ .
3 - Từ 4,6đh đến dưới 4,8đh, hạn khá nặng có thể phải cấp cứu, hoặc bị phá sản hay lao tù nặng.
4 - Từ 4,8đh đến dưới 4,9đh, hạn rất nặng có thể bị ngất.
5 - Từ 4,9đh đến dưới 5.00đh, hạn cực nặng có thể tới mức chết lâm sàng.
6 - Từ 5,0đh trở lên có thể dẫn tới tử vong nếu không có cách nào giải cứu được.
Theo phương pháp này sai số có thể từ - 0,05đh tới + 0,05đh ?
Tôi đã dùng Toán Học để xác định Tai Họa nặng hay nhẹ như vậy đấy

Tiểu vận Canh Thân từ ngày Giáp Thân (4/2) đến ngày Mậu Thân (28/2) chỉ có 24 ngày. Trong đó có ngày Đinh Hợi (6/2) là ngày TKĐX với năm sinh Tân Tị (1987) là đáng ngại nhất, sau đó mới tới ngày Bính Ngọ (26/2) là ngày có can chi đều là Hỏa nên Hỏa cực vượng.

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.

3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.

Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 09:19


#170 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 15:32

Tôi vừa đăng bài viết "Phản Biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối" lên diễn đàn "Hội Vật Lý Việt Nam" xem lần này họ còn xóa hay không ?

Phản biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 15:57


#171 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 13/05/2026 - 17:11

Ở câu " 6 - Phản biện Năng Lượng Tối trong Vũ Trụ" ở bài trên tôi đã sai nên xin bỏ đoạn sau :

" Do vậy Năng Lượng Tối không những phải

Chất Tối Vật Chất nhìn thấy."

Thành thật xin lỗi mọi người vì sự sơ xuất này.

(Nếu thời gian sửa bài kéo dài khoảng 6 tiếng thì cám ơn Ban điều hành diễn đàn nhiều.)

Sửa bởi SongHongHa: 13/05/2026 - 17:18


#172 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 15/05/2026 - 08:34

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 13/05/2026 - 15:32, said:

Tôi vừa đăng bài viết "Phản Biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối" lên diễn đàn "Hội Vật Lý Việt Nam" xem lần này họ còn xóa hay không ?

Phản biện Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


.......................................................................................
........................................................................................

.......................................................................................

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



...........................................................................................................................

Phần cuối bài viết trên tôi đã sơ xuất bỏ mất một đoạn không đăng nay xin đăng đầy đủ như sau :
............................................................................................................................

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


.....................................................................................................................

Thành thật xin lỗi mọi người vì sự cẩu thả này.

Sửa bởi SongHongHa: 15/05/2026 - 08:59


#173 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 17/05/2026 - 13:03

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 13/05/2026 - 08:58, said:

Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.


..................................................................................................
.................................................................................................

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.

3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.

Ví dụ số 28 trên phần Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi : tôi luận chưa đầy đủ nay xin luận thêm :

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ trường hợp này rõ ràng ta thấy nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau nếu không xẩy ra tai họa khác thì Tổng số được giảm ít nhất 20% còn lại là (7,01-3.0,13+1,5).4/5.2/3đh = 5,41đh.5,41.80%đh = 4,33đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó không đủ sức gây ra bất kỳ thêm tai họa nào cả. Nhưng nếu thực tế tiểu vận sau là Kỷ Mùi vẫn xẩy ra tiếp tai họa nào đó thì ta phải giảm thêm tỉ lệ giảm ở tiểu vận Kỷ Mùi xuống mức thấp hơn (như 10% hay 5% ...chẳng hạn ?) để nó ứng hợp với tai họa nặng hay nhẹ đã diễn ra trong thực tế.
Còn nếu vì sao đó mà tiểu vận đầu là Canh Thân chưa xẩy ra tai họa nặng hay nhẹ nào cả thì đến tiểu vận sau là Kỷ Mùi chắc tai họa nặng hay nhẹ sẽ xẩy ra theo đúng số điểm hạn của nó.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
4 - Nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau Tổng số điểm thường bị giảm thêm khoảng 20% hoặc nhỏ hơn nếu có tai họa khác xẩy ra.

Sửa bởi SongHongHa: 17/05/2026 - 13:30


#174 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 20/05/2026 - 10:50

Ví dụ số 29 : Bé gái bị chết đuối

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Ngọ trụ tháng với Mùi trụ ngày hóa Thổ thành công (vì có Mậu là thần dẫn). Ta thấy Thực Thương (Thổ) quá cường vượng nhưng không thể Tòng (vì có Giáp trụ giờ là Quan Sát khắc được 4 can chi Thổ - nhưng 2 chi Thổ cục không khắc được). Thổ là hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Tỷ Kiếp (Hỏa) trên 20đv nhưng điểm kỵ vượng không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, nên dụng thần chính là Ất tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Hỏa còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.

Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990) chưa vào đại vận, thuộc tiểu vận thứ 2 thay đại vận là Tân Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 21/6). Nó thuộc tháng Quý Mùi (tháng 7) và ngày Giáp Thìn (ngày18) của năm Canh Ngọ.
Lục hợp Thổ trong tứ trụ hợp với lưu niên Ngọ hóa Thổ nên điểm vượng trong vùng tâm phải tính lại. Sau khi tính lại ta thấy điểm vượng của Thổ coi như không thay đổi nên Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành không thay đổi. Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận ta thấy hành kỵ vượng (Thổ) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 30đv nên điểm kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993).

1 - Dụng thần Ất vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
2 - Nhật can Đinh nhập mộ tại đại vận Sửu có 1đh (vì Thân nhược), nhưng vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Sửu đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và 1 hung thần có 0,25đh.
4 - Lục hợp Thổ cục trong tứ trụ hợp với Ngọ lưu niên có 0,25đh (vì chỉ có Ngọ lưu niên có điểm hạn). Ngọ lưu niên hóa Thổ có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Đinh trụ ngày được lệnh lại vượng ở lưu niên khắc Tân đại vận có 0,7đh và Canh lưu niên có 0,38đh (vì khác dấu), có 0đh can động.
Tân đại vận nhược ở cả tuế và vận nên có 0đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 0đh. Canh lưu niên vượng ở lưu niên có 1đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng đều bị giảm 35%đh (do Đinh khắc) còn 0,65đh.
Giáp trụ giờ thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị giảm 65%đh (do Canh khắc) còn -0,5.35%đh = -0,18đh. Lực khắc của Giáp trụ giờ với Thổ cục có 0,5đk cũng bị giảm 65% (do Canh khắc) còn 0,5.0,35đk = 0,18đk (lực này không gây ra điểm hạn). Do vậy Thổ cục có 0,25đh bị giảm 18% còn 0,25.82%đh = 0,21đh.
6 - Lửa mặt trời trụ tháng có Mậu vượng ở lưu niên khắc Lửa đèn trụ giờ có 1đh.
Đất ven đường lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Nước mưa trụ ngày có 1đh.
Đất trên tường đại vận có Tân nhược ở cả tuế và vận khắc Nước mưa trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 4,93đh. Số điểm này cho dù được cộng thêm sai số 0,05đh vẫn chỉ là 4,98đh nên khó có thể chấp nhận được (vì nó rất khó gây ra tử vong). Do vậy ta phải tìm một lý do nào đó hợp lý, có logic mà có thể gây ra thêm 0,05đh là được.
Ở đây ta thấy chỉ có lý do về điểm kỵ vượng là đáng quan tâm nhất. Bởi vì điểm kỵ vượng được tăng từ 2 hay 3 lần trở lên… chắc chắn phải có thêm một sai số nào đó mới hợp lý ? Do vậy ta đưa ra giả thiết nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm +0,05đh.
Nếu sử dụng giả thiết này thì ta thấy điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 2 lần nên có thêm 0,05đh.
Tổng số là (4,93+0,05+0,05)đh = 5,03đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức để gây ra tử vong - 5,00đh).

Ta thấy năm Canh Ngọ hành Thổ quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra liên quan tới hành Thổ đại diện nhưng ở đây nó lại liên quan tới hành Thủy (vì chết đuối) là hành yếu nhất còn là hành bị hành vượng nhất của 5 hành trong tứ trụ khắc nên bị chết đuối. Điều này chứng tỏ tai họa xẩy ra không chỉ liên quan tới hành vượng nhất mà còn liên quan tới hành nhược nhất mà hành vượng nhất khắc.
Nhưng tại sao tai họa không xẩy ra vào các tháng Tị hay Ngọ là các tháng Thổ cực vượng còn Thủy thì cực nhược mà lại xẩy ra vào tháng Mùi ? Bởi vì điểm hạn của hành kỵ vượngThổ quá quan trọng để gây ra tai họa này nên Mùi trụ ngày là yếu tố then chốt vì nó hợp với Ngọ trụ tháng và Ngọ lưu niên hóa Thổ. Do vậy tai họa không xẩy ra vào tháng Tị hay Ngọ mà phải xẩy ra vào tháng Mùi là vậy. Ta thấy ngày sinh nhật là ngày 21/6/1990 chính là ngày bắt đầu của tháng Quý Mùi. Thêm một yếu tố phụ là tháng Quý Mùi có Quý thuộc hành nhược nhất còn bị nhập mộ tại Mùi.
Trong tháng Quý Mùi của lưu niên tai họa xẩy ra vào ngày Giáp Thân (18/7), có thể do Giáp trong tứ trụ động do Canh và Tân ở tuế vận khắc ? Nếu vậy thì sao Đinh trụ ngày cũng động vì khắc Canh và Tân ở tuế vận mà tai họa không xẩy ra vào ngày Đinh mà lại vào ngày Giáp ? Điều này cho biết can ngày của năm xẩy ra tai họa thường mang hành khắc hay bị hành cường vượng khắc phải ở trạng thái tử tuyệt tại chi mà nó đóng.

Qua ví dụ này ta thấy điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là hoàn toàn chính xác.


Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm 0,05đh.
2 - Tai họa thường xẩy ra vào tháng (của lưu niên) giống với chi trong tứ trụ động mang yếu tố quan trọng nhất.
3 - Tai họa thường xẩy ra vào ngày và tháng của lưu niên có can mang hành nhược khắc hay bị hành kỵ vượng khắc mà tử tuyệt tại chi chúng đóng.


#175 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 26/05/2026 - 09:41

Ví dụ số 30 : Tai họa của tầu Titanic bị đắm ngày 15/4/1912
(Titanic theo tiếng Anh có nghĩa là to lớn, khổng lồ, vĩ đại nên nó mang tính cách của phái mạnh là đàn ông.)

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Buổi lễ diễn ra tại xưởng đóng tàu Harland and Wolff ở Belfast, Bắc Ireland, vào lúc 2:15 chiều ngày thứ Tư (tức 14.15'), 31 tháng 5 năm 1911. Đây là thời điểm Titanic – con tàu được mệnh danh là kỳ quan kỹ thuật vĩ đại – chính thức được hạ thủy xuống nước lần đầu tiên, sau gần ba năm thi công phần thân. trích từ bài viết của Nguyễn Khắc Cần.

Qua bài viết này ta thấy tầu Titanich được hạ thủy vào ngày 31/5/1911 là hoàn toàn chính xác nên 3 trụ đầu trụ năm là Tân Hợi, trụ tháng là Quý Tị và trụ ngày là Tân Sửu không còn gì phải nghi ngờ nữa. Bây giờ ta chỉ còn phải xác định trụ giờ (tức giờ sinh) của tứ trụ này. Nhìn qua ta thấy trong tứ trụ có 3 can chi Thủy là Quý 2 Hợi gặp năm Nhâm Tý (1912) có thêm 2 Thủy nữa là Nhâm mà Tý lưu niên lại hợp với Hợi và Sửu trong tứ trụ thành tam hội cục hóa Thủy thành công (vì có Quý và Nhâm làm thần dẫn). Ta thấy Sửu trong tứ trụ đã hóa Thủy nên cách Tòng thực thương (Thủy) dễ được thành lập. Nhưng nếu thành cách Tòng Thủy thì tai họa không thể xẩy ra vào năm Nhâm Tý được mà phải là tin mừng (vì can chi Thủy cùng Thủy cục đều là dụng thần). Do vậy muốn cách Tòng này bị phá thì trụ giờ phải xuất hiện Quan Sát (tức can hay chi mang hành Thổ).

Ta thấy sau 14,15' ngày 31/5 mà can trụ ngày là Tân nên chỉ còn lại các giờ có can hay chi mang hành ThổẤt Mùi (từ13 tới 15 giờ), MậuTuất (từ 19 tới 21 giờ) Kỷ Hợi (từ 21 tới 23 giờ).

Giờ Ất Mùi bị loại vì đây là con tầu Titanic to lớn và vĩ đại nhất lúc đó thì không có chuyện hạ thủy sau 45' rồi chạy đi ngay được (vì giống như thai nhi trong bụng mẹ vẫn đập như động cơ con tầu đang hoạt động mà phải tính lúc thai nhi ra khỏi người mẹ mà còn đập thì mới được tính là giờ sinh, giống như con tầu hạ thủy xong thì phải chạy được một đoạn dài khi đó thời điểm đi được mét đầu tiên mới được tính là giờ sinh của con tầu).

Giờ Mậu Tuất cũng không thể chấp nhận được bởi vì Thân vượng nhưng vào năm Nhâm Tý có tiểu vận Đinh Dậu thay đại vận, có tam hợp của Tị và Sửu trong tứ trụ hợp với Dậu đại vận hóa Kim (vì có 2 Tân làm thần dẫn) bị tam hội của Hợi và Sửu trong tứ trụ hợp với Tý lưu niên tranh hợp đã phá tan tam hợp và hóa Thủy (vì có Quý và Nhâm làm thần dẫn). Nhưng có bán hợp Tị trụ tháng với Dậu đại vận hóa Kim. Vì Tị và Sửu trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại ta thấy Thân thành nhược (vì Nhật can là Tân nhập mộ nên không nhận được 50%đv của Kiêu Ấn sinh cho) nên Thủy cục là hỵ thần. Sau khi tính thêm ở tuế vận Thủy là kỵ vượng nhưng tổng điểm hạn quá thấp không thể gây ra bất kỳ một tai họa nào cả. Vì vậy chỉ còn lại là giờ Kỷ Hợi.

Qua sơ đồ giờ Kỷ Hợi được mô tả ở trên ta thấy Thân vượng mà Kiêu Ấn (Thổ) là nhiều (vì có 2 can chi Thổ trong vùng tâm đều vượng) nên dụng thần đầu tiên phải là Mộc (Tài tinh), can làm dụng thần chính là Giáp tàng trong Hợi trụ năm, hỷ thần là Thủy, còn kỵ thần là Kim, Thổ và Hỏa (vì Thổ nhiều).

Vào ngày 15/4/1912, nó thuộc năm Nhâm Tý và tiểu vận Mậu Tuất thay đại vận (là tiểu vận đầu tiên sau khi sinh vì chưa qua ngày sinh nhật 31/5).
Có tam hội của 2 Hợi và Sửu trong tứ trụ hợp với Tý lưu niên hóa Thủy thành công (vì có Quý hay Nhâm làm thần dẫn).
Có ngũ hợp của Mậu đại vận với Quý trụ tháng hóa Hỏa thành công (vì có lệnh tháng là Tị) nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm (Hỏa cục này có ngay sau khi sinh còn tam hội Thủy cục sau năm sinh mới xuất hiện).

Sau khi tính lại ta thấy Thân thành nhược mà Thủy (Thực Thương) là nhiều (vì có 3 can chi Thủy) nên dụng thần đầu tiên phải là Thổ (Kiêu Ấn) nhưng vì Mậu (Thổ) trụ giờ không thể khắc (tức thành vô dụng) được Thủy cục có 4 chi (nếu tính thêm 1 chi vì Kỷ tọa trên Hợi hóa Thủy cục sẽ là 5 chi) và Nhâm lưu niên thành 5 can chi (chính xác là 6 can chi) nên phải chọn đến dụng thần thứ 2 là Tỷ Kiếp (Kim), can làm dụng thần chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng, hỷ thần là Thổ còn kỵ thần là Thủy, Mộc và Hỏa.
Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận Thủy là kỵ thần 1 đã thành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim (có 9,8đv) trên 20đv nhưng không thể Tòng vì nếu Tòng thì năm Nhâm Tý có can Nhâm và Thủy cục đều là dụng thần phải đẹp không thể gặp tai họa tử vong như vậy. Từ đây ta phải đưa ra giả thiết một hành dù vượng tới mức nào mà có can chi Quan Sát xuất hiện cũng không thể Tòng cho dù can chi Quan Sát đó vô dụng (tức không khắc được can chi hành Tòng hay hóa cục hành Tòng).

Nếu áp dụng giả thiết này thì Dụng thần và điểm hạn của các hành không thay đổi nhưng mặc dù hành kỵ vượng (Thủy) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 20đv vẫn không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận).

1 - Dụng thần Canh tử tuyệt tại lưu niên Tý có 1đh.
2 - Nhật can Tân vượng ở lưu niên Tý có -1đh.
3 - Trụ giờ Kỷ Hợi TKĐX với trụ tháng Quý Tị có 0,25đh (vì Kỷ được lệnh nhưng nhược ở tuế và vận), có thêm + 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
4 - Kỷ trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế và vận khắc Nhâm lưu niên có 0đh (vì Kỷ không khắc được 5 can chi Thủy trong đó có 4 chi của Thủy cục còn là kỵ vượng thêm chi Nhâm của lưu niên), nhưng có 0,5đh can động.
5 - Ngũ hợp Hỏa cục có 2.0,5đh (tức mỗi can có 1/2đh của hành đó) = 1đh nhưng bị giảm 50% do Nhâm vượng ở lưu niên khắc còn 0,5đh (vì hóa cục của can tuế vận với can trong tứ trụ, còn bị giảm 100% nếu hóa cục của can tuế vận với can tiểu vận, không bị giảm nếu hóa cục của chi tuế vận với chi tiểu vận hoặc chi tuế vận với các chi trong tứ trụ, sẽ nói chi tiết sau).
Tam hội Thủy cục có 4.0,25đh = 1đh. Chi Tý lưu niên hóa Thủy là kỵ vượng có 0,5đh kỵ vượng.
6 - Vì Hỏa cục có trước (ngay sau khi sinh tới ngày sinh nhật năm sau) còn Thủy cục có sau (hết năm sinh 1911) nên Thủy cụcHỏa cục xung khắc nhau được gọi là Đại Chiến có 6.0,5đh = 3đh (vì số can chi của hóa cục chủ khắc ở đây gấp đôi số can chi của hóa cục bị khắc nên điểm hạn cho mỗi can chi tham chiến có 0,5đh; có 0,4đh nếu lớn hơn; có 0,3đh nếu bằng nhau; có 0,2đh nếu nhỏ hơn,... sẽ nói chi tiết sau).
(Chú ý : Nếu hóa cục chủ khắc có trước sẽ cản phá hóa cục bị khắc có sau thì hóa cục bị khắc không thể được tạo thành.)
7 - Đất trên tường trụ ngày có can vượng ở lưu niên khắc nước Sông trụ tháng có 1đh.
Gỗ đồng bằng trụ giờ có can được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Gỗ dâu lưu niên có 0,25đh.
Gỗ đồng bằng đại vận có can nhược ở cả tuế và vận khắc Gỗ dâu lưu niên có 0đh.

Tổng số có 7,55đh. Vì có tam hội ngoài tứ trụ có 4 chi mà trong tứ trụ có 3 chi nên có -(1+0,25)đh = -1,25đh và có 2 trong 3 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục cùng hành thì phải được giảm thêm ít nhất 1/6 mới hợp lý, vì Tổng số được giảm 1/7 khi có 2 chi hóa cục khác hành ở các ví dụ trên. Do vậy Tổng số còn lại là (7,55 -1,25).5/6đh = 5,25đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tai họa thảm khốc (tử vong) hoàn toàn ứng hợp với tai họa của tầu Titanic.

Nếu Tổng số được giảm 1/5 thì còn (7,55-1,25).4/5đh = 5,04đh. Số điểm này vẫn chấp nhận được vì nó đủ sức gây ra tai họa thảm khốc (tử vong). Nhưng ở đây ta tạm thời lấy tỉ số giảm là 1/6 vì thấy hợp lý, có logic hơn (cần có thêm các ví dụ tương tự khác để kiểm tra).
Rõ ràng ta thấy năm Nhâm Tý hành Thủy quá cường vượng nên tai họa xẩy ra do tảng băngThủy gây ra đắm tầu (tức chết đuối). Thủy quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra vào tháng Hợi hay nhưng tại sao ở đây lại xẩy ra vào tháng Thìn ?
Có thể mặc dù Canh làm dụng thần chính nhưng tất cả điểm vượng của hành Kim trong tứ trụ lại là của 2 Tân (âm Kim) nên tai họa phải xẩy ra vào tháng Thìn2 Tân nhập Mộ tại tháng Thìn (của lưu niên) chăng ?
Cho nên tai họa xẩy ra vào ngày Tân Dậu vì có can Tân và chi Dậu đều là âm Kim cũng nhập Mộ tại Thìn ?

Thông tin tổng quan do AI tạo

Sự cố va chạm: Vào lúc 23h40 ngày 14/4/1912, Titanic va chạm với một tảng băng trôi. Vụ va chạm làm thủng 5 trong số 16 khoang kín nước (trong khi tàu chỉ được thiết kế để nổi tối đa khi ngập 4 khoang).
Chìm tàu: Tàu chìm hoàn toàn vào lúc 2h20 sáng ngày 15/4/1912
Đoạn trích trêncho biết chính xác tai họa xẩy ra vào giờ (Mậu Tý từ 23.00' hôm trước tới 1.00' hôm sau) của ngày 15/4/1912. Một lần nữa ta thấy lại được xuất hiện (vì nó liên quan tới hành kỵ vượngThủy).

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Một hành dù vượng tới mức nào mà có can chi Quan Sát xuất hiện cũng không thể Tòng cho dù can chi Quan Sát đó vô dụng (tức không khắc được can chi hành Tòng hay hóa cục hành Tòng).
2 - Nếu hóa cục chủ khắc có số can chi nhiều gấp đôi số can chi của hóa cục bị khắc thì điểm hạn cho mỗi can chi tham gia Đại Chiến0,5đh.
3 - Điểm hạn hóa cục của các can ở tuế vận với các can trong tứ trụ bị giảm 50%đh của nó khi bị can ở tuế vận khắc.

Không biết bài luận của tôi có sai sót chỗ nào không xin mọi người chỉ giáo?

Sửa bởi SongHongHa: 26/05/2026 - 09:47


#176 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 26/05/2026 - 16:13

Bài viết trên tôi quên quy tắc 4 nay thêm cho đầy đủ :

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Một hành dù vượng tới mức nào mà có can chi Quan Sát xuất hiện cũng không thể Tòng cho dù can chi Quan Sát đó vô dụng (tức không khắc được can chi hành Tòng hay hóa cục hành Tòng).
2 - Nếu hóa cục chủ khắc có số can chi nhiều gấp đôi số can chi của hóa cục bị khắc thì điểm hạn cho mỗi can chi tham gia Đại Chiến (tức tham chiến)0,5đh.
3 - Điểm hạn hóa cục của các can ở tuế vận với các can trong tứ trụ bị giảm 50%đh của nó khi bị can ở tuế vận khắc.
4 - Tam hợp hay tam hội giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục mà có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, trong đó có 2 chi giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds21;22); được giảm 1/6 nếu 2 chi giống nhau hóa cục cùng hành (vds30) hay 3 chi giống nhau hóa cục khác hành (vds31).
Nếu tam hợp hay tam hội giữa tứ trụ với tuế vận không hóa cục mà có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, trong đó có 2 chi giống nhau thì Tổng điểm hạn được giảm 1/8 (vds23).


Ký hiệu (vds23) có nghĩa là quy tắc này được đưa ra từ Ví dụ số 23.

Sửa bởi SongHongHa: 26/05/2026 - 16:19


#177 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 01/06/2026 - 20:57

Ví dụ số 31 : Nam bị cấp cứu mổ ruột thừa năm 1999

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ở tứ trụ này khi xác định Thân vượng hay nhược ta gặp phải trường hợp Mùi khắc (khắc ngũ hành) tới 5 can chi là Thủy (2 can Quý và 3 chi Hợi). Vì vậy qua các ví dụ tương tự khác ta đưa ra giả thiết can hay chi không khắc được 5 can chi khác cùng hành. Nếu sử dụng giả thiết này thì Mùi trụ giờ không khắc được 5 can chi Thủy. Do vậy qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược nhưng không thể lấy Kiêu Ấn (Thổ) làm dụng thần đầu tiên mà phải lấy đến dụng thần thứ 2 là Tỷ Kiếp (vì Kim chỉ bị hao khi xì hơi để sinh Thủy vẫn lợi hơn khi Thổ là vô dụng không khắc được Thủy), nên can làm dụng thần chính là Tân (Kim) trụ ngày, hỷ thần là Thổ, kỵ thần là Thủy, Mộc và Hỏa. Trong đó Thực Thương (Thủy) có tới 5 can chi còn nắm lệnh và lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 20đv nhưng không thể Tòng Thủy (vì có Mùi trụ giờ là Quan Sát của Thủy), nên Thủy là kỵ vượng điểm kỵ vượng được tăng gấp đôi.

Tai họa xẩy ra năm Kỷ Mão (1999) thuộc đại vận Tân Dậu có 2 tiểu vận là Kỷ Mão và Mậu Dần. Ta xét tiểu vận đầu là Kỷ Mão vì có thêm điểm hạn của Dậu đại vận khắc Mão tiểu vận.
Ta thấy có tam hợp của 3 HợiSửu trong tứ trụ với Mão lưu niên hóa Mộc thành công (vì có Ất trụ giờ làm thần dẫn). Vậy thì Dậu đại vận khắc Mão lưu niên có đủ sức phá tan tam hợp ngoài tứ trụ hóa Mộc có 5 chi này không ?

I - Đầu tiên ta xét trường hợp tam hợp Mộc cục không bị phá
Ta thấy có 3 chi Hợi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
Sau khi tính lại ta thấy Mộc (Tài tinh) là kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 20đv nhưng không thể Tòng (vì có Tân trụ ngày là Quan Sát của Mộc) nên Mộckỵ vượngđiểm kỵ vượng được tăng gấp đôi. Do vậy Dụng thần đầu tên phải là Tỷ Kiếp (Kim), nên can làm dụng thần chính là Tân (Nhật can). Mặc dù Tân vô dụng không khắc được Tài tinh Mộc có tới 7 can chi nhưng vẫn phải lấy, vì nếu lấy đến dụng thần thứ 2 là Kỷ (Kiêu Ấn) thì còn kém hơn (vì Kiêu Ấn chỉ có Kỷ là can tàng phụ trong Mùi còn bị khắc bởi Mùi đã hóa Mộc, hơn nữa Mộc quá vượng).
Sau khi tính thêm ở tuế vận Mộc vẫn là Kỵ vượng và điểm kỵ vượng vẫn được tăng gấp đôi.

1 - Dụng thần Tân tử tuyệt tại Mão lưu niên có 1đh.
2 - Dụng thần Tân tử tuyeejt lại Mão lưu niên có 1đh.
3 - Tam hợp cục Mộc có 5 chi có 2.1,25đh (vì điểm kỵ vượng được tăng gấp đôi). Mão lưu niên hóa Mộc nên có 2.0,5đh kỵ vượng.
4 -Tân đại vận chỉ vượng ở đại vận khắc Ất trụ giờ có 0,5đh (vì Tân đại vận không khắc được hóa cục của các địa chi giữa tứ trụ với tuế vận - do ở quá thấp), có -0,5đh can động. Khi đó Tân trụ ngày mới có thể khắc Ất trụ giờ nhưng Tân trụ ngày không khắc được Mộc cục và Ất trụ giờ (vì Mộc cục có 6 chi - do Hợi trụ ngày được tính là 2 chi - thêm Ất là 7 can chi), Tân có 0,5đh can động.
5 - Ất trụ giờ thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên khắc được Kỷ lưu niên có 1đh nhưng bị giảm 50% do Tân đại vận khắc còn 0,5đh, và có 0,5đh can động cũng bị giảm 50% còn 0,25đh. Ất có 2.0,5đh kỵ vượng cũng bị giảm 50% còn 0,5đh (vì Tân khắc).
Kỷ lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,25đh can động bị giảm 50% (vì Ất khắc) còn -0,13đh, và Kỷ khắc 2 Quý trong tứ trụ mỗi lực có 0,7.50%đh (vì Kỷ chỉ vượng ở đại vận) còn bị giảm 50% (vì Ất khắc) còn 0,19đh.
Dậu đại vận khắc Mão tiểu vận có 0,15đh nên Mão tiểu vận là kỵ vượng có 2.0,25đh kỵ vượng. Suy luận ta thấy các can khắc nhau thì điểm khắc và điểm hạn coi như bằng nhau nhưng địa chi thì hoàn toàn không giống như vậy. Đây chính là điều bất hợp lý vì địa chi khắc nhau (theo tứ hành xung) không thể giảm theo điểm hạn như thiên can được nên ta đưa ra giả thiết điểm hạn kỵ vượng (hay điểm hạn của các Thần Sát) của 1 chi bị khắc (theo tứ hành xung như Dậu khắc Mão hay Tý khắc Ngọ) giảm 100% , nhưng chỉ giảm 50% khi bị xung (như Mão xung Dậu hay Thìn xung Tuất...). Nếu sử dụng giả thiết này thì điểm kỵ vượng của Mão tiểu vận có 2.0,25đh kỵ vượng còn 0đh (vì bị Dậu đại vận khắc).
6 - Nước biển trụ năm và trụ tháng đều có Quý vượng ở lưu niên khắc gỗ Lựu đại vận, Đất trên thành lưu niên và Kim trong cát trụ giờ mỗi lực có tổng cộng có max 2đh (theo lý thuyết đã đưa ra).

Tổng cộng có 11,65đh, giữa tứ trụ và tuế vận có tam hợp hóa cục có 5 chi mà trong tứ trụ có 4 chi nên có -(1+2.0,25)đh= -1,5đh3 chi trong tứ trụ giống nhau nhưng hóa cục khác hành nên Tổng điểm hạn phải được giảm thêm ít nhất 1/6 giống như trong tứ trụ có 2 chi giống nhau hóa cục cùng hành (vds30).
Ta lại thấy có tới 4 lực của 2 nạp âm trong tứ trụ khắc nạp âm trên tuế vận nên tạm thời coi mỗi lực khắc này gây ra 0,75G (giống ví dụ số 19 chỉ có 3 lực khắc nạp âm tuế vận). Nếu vậy ta có 4.0,75G + 2.0,375G (vì có thêm 2 lực của 2 Nước biển khắc Kim trong cát trụ giờ nên mỗi lực bị giảm 50% G) = 3,75G. Với tổng số 3,75G nó tương ứng với Tổng điểm hạn được giảm thêm 5/12.
Do vậy Tổng điểm hạn còn lại (11,65-1,5).5/6.7/12đh = 4,93đh. Số điểm này khá cao không thể chấp nhận được (vì nó tương ứng tới mức chết lâm sàng). Bây giờ ta phải tìm cách giảm khoảng 0,5đh xem sao ? Ta thấy Tân trụ ngày khắc tới 7 can chi Mộc (6 chi của Mộc cục, trong đó chi Hợi trụ ngày được tính là 2 chi, thêm can Ất trụ giờ thành 7). Nên ta đưa ra giả thiết Tân trụ ngày không những không khắc được 7 can chi cùng hành mà còn ở trạng thái không động nên không có điểm hạn can động.
Nếu áp dụng giả thiết này thì Tổng điểm hạn còn lại (11,65- 0,5-1,5).7/12.5/6đh = 4,69đh. Số điểm này quá chính xác để gây ra cấp cứu vì mổ ruột thừa. Do vậy các giả thiết được đưa ra ở trên là hoàn toàn chính xác.

Từ ví dụ này và vài ví dụ khác ta đưa ra các quy tắc :
1 - Điểm hạn kỵ vượng hay của các thần sát của 1 chi bị khắc (theo tứ hành xung như Dậu khắc Mão hay Tý khắc Ngọ) giảm 100% , còn giảm 50% khi bị xung (như Mão xung Dậu hay Thìn xung Tuất...).
2
- Một can khắc hóa cục của địa chi được tính thêm 1 chi nếu chi cùng trụ với nó có trong hóa cục mà nó khắc (vds31).
3
- Can không khắc được 5 hay 6 can chi cùng hành nhưng có 0đh và can này vẫn được coi là động nên có điểm hạn can động (vds30), nhưng không khắc được từ 7 can chi cùng hành trở lên khi đó can này được coi là không động nên không có điểm hạn can động (vds31).
4 - Tam hợp hay tam hội giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục mà có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, trong đó có 2 chi giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds21;22); được giảm 1/6 nếu 2 chi giống nhau hóa cục cùng hành (vds30) hay 3 chi giống nhau hóa cục khác hành (vds31).
Nếu tam hợp hay tam hội giữa tứ trụ với tuế vận không hóa cục mà có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, trong đó có 2 chi giống nhau thì Tổng điểm hạn được giảm 1/8 (vds23). (Quy tắc 4 này đã đưa ra ở ví dụ trên.)



II - Tam hợp Mộc cục bị phá
..................................................................
....................................................................

Sửa bởi SongHongHa: 01/06/2026 - 21:06


#178 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 03/06/2026 - 06:11

II - Tam hợp Mộc cục bị phá

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Nếu Dậu đại vận khắc Mão lưu niên phá được tam hợp Mộc cục giữa tứ trụ và tuế vận có 5 chi thì qua sơ đồ trên ta thấy Thân khá nhược mà Thực Thương quá vượng (lớn hơn trên 30đv) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Thổ), can làm dụng thần chính là Kỷ tàng trong Mùi trụ giờ, hỷ thần là Kim còn kỵ thần là Thủy, Mộc và Hỏa. Thủy là kỵ vượng và điểm kỵ vượng được tăng gấp 3. Ở phần trên tôi đã xác định sai dụng thần đầu tiên là Kim vì không để ý đến Thủy là kỵ vượng.

1 - Dụng thần Kỷ nhược ở lưu niên Mão có 0đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Mão có 1đh.
3 - Tân đại vận chỉ vượng ở đại vận khắc Ất trụ giờ có 0,5đh và có -0,25đh can động. Khi đó Tân trụ ngày thất lệnh chỉ vượng ở đại vận mới khắc được Ất trụ giờ có 0,5đh và có 0,25đh can động.
Ất trụ ngày thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên khắc Kỷ lưu niên có 1đh nhưng bị giảm 2 lần 50% (vì 2 Tân khắc) còn 1.50%.50%đh = 0,25đh, và Ất có 1đh can động nhưng cũng bị 2 Tân khắc còn 0,25đh.
Kỷ lưu niên chỉ vượng ở đại vận nên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 25% (vì Ất khắc) còn -0,38đh và Kỷ khắc 2 Quý trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,35đh nhưng bị giảm 25% (vì Ất khắc) còn 0,35.50%đh = 0,26đh.
2 Quý trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động và có 0đh kỵ vượng (vì 2 Quý là kỵ vượng nhưng không phải do can đại vận khắc).
Dậu đại vận khắc Mão lưu niên có (1+0,3)đh, Mão lưu niên có 2 cát thần có -2.0,25đh nhưng bị Dậu đại vận khắc mất hết. Dậu đại vận khắc Mão tiểu vận có 0,15đh, Mão tiểu vận có 2 cát thần có -2.0,13đh cũng bị Dậu đại vận khắc mất hết.
4 - Nước biển trụ năm và trụ tháng có can của chúng vượng ở lưu nên nên khắc Gỗ lựu đại vận và Đất trên thành lưu niên và Kim trong cát trụ giờ mỗi lực khắc có max 2đh (theo lý thuyết khi can của chúng không sử dụng điểm khắc).

Tổng số có 8,09đh. Ta thấy có 4 lực của 2 nạp âm trong tứ trụ khắc các nạp âm ở tuế vận nên ta giả thiết mỗi lực này có 0,75G (vì ví dụ số 19 chỉ có 3 lực mà mỗi lực đã có 0,75G). Nếu sử dụng giả thiết này ta có 4.0,75G = 3G, khi đó mỗi lực khắc Kim trong cát trụ giờ mới có 0,75.50%G = 0,375G (vì ở bậc thứ 2 bị giảm 50%G). Vậy tổng số có 3,75G nó tương đương với Tổng điểm hạn được giảm 5/12 còn 8,09.7/12đh = 4,72đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó ứng hợp với thực tế cấp cứu mổ ruột thừa.
Đến đây thì cả 2 trường hợp Dậu khắc Mão gần vẫn chưa biết chính xác có phá được tam hợp giữa tứ trụ với tuế vận có 5 chi hay không. Ta đành phải tìm thêm ví dụ tương tự khác để kiểm tra vậy. Theo tôi suy luận thì chi chỉ có thể khắc tới một tổ hợp có max 6 chi (vì tứ trụ và tuế vận và tiểu vận tổng cộng chỉ có 7 chi) nên nếu phá được tổ hợp 5 chi thì sẽ không thể phá được tổ hợp 6 chi mới là hợp lý, nếu không chả nhẽ nó phá được hết hay sao ?

Hy vọng ai có ví dụ tương tự xin giúp vì tôi vẫn chưa tìm được ví dụ có tổ hợp 5 can chi bị khắc.

Sửa bởi SongHongHa: 03/06/2026 - 06:17


#179 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 03/06/2026 - 07:47

Câu cuối cùng của bài viết trên tôi đã sai khi viết : "Hy vọng ai có ví dụ tương tự xin giúp vì tôi vẫn chưa tìm được ví dụ tổ hợp có 5 can chi bị khắc".

Xin mọi người xóa giúp chữ "can" tôi tô đỏ đi.
Thành thật xin lỗi mọi người.

Sửa bởi SongHongHa: 03/06/2026 - 08:05


#180 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPip
  • 527 Bài viết:
  • 118 thanks

Gửi vào 06/06/2026 - 12:05

Ví dụ số 32 : Nam đại phát tài năm 1986
Đây là ví dụ số 2 trang 533 trong mục Phát Tài cuốn “Dự Đoán Theo Tứ Trụ in năm 2002 của ông Thiệu Vĩ Hoa (hay ví dụ số 139 trong cuốn “Giải Mã Tứ Trụ .Tôi đã vô tình bỏ qua vì ví dụ này trong phần về Phát Tài chứ không phải ở phần về Tai Họa mà tôi đang tìm.
A - Sơ đồ tính điểm hạn tai họa năm 1986 khi tam hợp không bị phá :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy tứ trụ này có Thân vượng vì có bán hợp củaTuất trụ ngày với Ngọ trụ giờ hóa Hỏa thành công (vì có Bính làm thần dẫn). Vì Tuất đã hóa Hỏa do vậy Thân (Thủy) mới vượng mà Kiêu Ấn chỉ có can tàng còn Thực Thương thì không có nên dụng thần đầu tiên phải là Quan Sát (Thổ), can làm dụng thần chính là Kỷ tàng trong Ngọ trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Hỏa còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Năm 1986 là năm Bính Dần thuộc đại vận Giáp Tý và 2 tiểu vận là Giáp Tuất và Ất Hợi. Ta thấy xuất hiệntam hợp có 5 chi của 3 Tuất và Ngọ trong tứ trụ với Dần lưu niên hóa Hỏa thành công (vì có Bính là thần dẫn).
Nếu như Tý đại vận khắc Ngọ trụ giờ (thuộc tứ hành xung) mà không phá được tam hợp Hỏa cục có 5 chi này thì 3 Tuất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại ta thấy Thân trở thành nhược và Hỏa thành kỵ vượng nên dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Thủy), can làm dụng thần chính là Nhâm trụ tháng, hỷ thần là Kim còn kỵ thần là Mộc, Hỏa và Thổ. Hỏa là kỵ vượng (vì Hỏa lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 10đv).
Sau khi tính thêm ở tuế vận điểm kỵ vượng Hỏa lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 20đv nên điểm kỵ vượng được tăng gấp đôi nhưng không thể Tòng (Hỏa) vì có 2 Nhâm là Quan Sát của Hỏa.
Ta thấy năm 1986 Thân thành nhược mà Tài tinh là Hỏa cực vượng (vì Hỏa thành kỵ vượng và điểm kỵ vượng được tăng gấp đôi) thì may thoát tai họa nặng như phá sản, lao tù, tai nạn nặng... là tốt lắm rồi còn nói gì tới Đại phát tài cơ chứ ?


1 - Dụng thần Nhâm nhược ở lưu niên Dần có 0đh.
2 - Nhật can Nhâm nhược ở lưu niên Dần có 0đh.
3 - Tam hợp Mộc cục có 5 chi có 2.5.0,25đh = 2,5đh (vì điểm kỵ vượng được tăng gấp đôi). Dần thái tuế hóa Hỏa là kỵ vượng có 2.0,5đh kỵ vượng.
4 - Bính lưu niên có 3 cát thần có -3.0,25đh, nếu tính thêm 2 hung thần ở Hợi tiểu vận thì có thêm 2,0,13đh.
5 - Giáp đại vận vượng ở lưu niên khắc Mậu trụ năm có 1đh, và có 0,5đh can động. Mậu trụ năm thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên có 1đh can động nhưng bị Giáp đại vận khắc còn 0đh.
2 Nhâm trong tứ trụ không khắc được 7 can chi Thủy (khắc ngũ hành, vì Hỏa cục có 5 chi thêm 2 can Bính là 7 can chi - chưa tính Tuất trụ tháng và Tuất trụ ngày hóa Hỏa bị Nhâm cùng trụ khắc được tính thêm 1chi nên chính xác phải là 9 can chi). Vì vậy 2 Nhâm và 2 Bính đều ở trạng thái tĩnh không những không khắc được nhau mà còn không có điểm hạn can động.

Tổng cộng có 3,75đh. Vì tam hợp cục có 5 chi, trong đó có 4 chi trong tứ trụ nên có -(1+2.0,25)đh = -1,5đh, mà trong tứ trụ có 3 chi giống nhau hóa cục khác hành nên Tổng số được giảm thêm 1/6 còn (3,75-1,5).5/6đh = 1,88đh. Số điểm hạn này quá thấp nên may mắn năm 1986 không thể gây ra bất cứ một tai họa nào cả (khi tam hợp cục không bị phá), còn phát Tài hay đại phát Tài thì đừng có mơ (vì điều kiện phát Tài là Thân phải lớn hơn Tài tinh và càng gần bằng nhau càng phát mạnh).


B - Sơ đồ tính điểm hạn tai họa năm 1986 khi tam hợp bị phá :
................................................
................................................

Sửa bởi SongHongHa: 06/06/2026 - 12:15







Similar Topics Collapse

3 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 3 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |