Jump to content

Advertisements




“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)


136 replies to this topic

#121 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 22/01/2026 - 08:55

Trước khi vào ví dụ sau ta cần sử dụng bảng tổng điểm hạn được giảm (sẽ nói sau):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Dòng đầu tiên trong bảng là số thứ tự, dòng thứ hai là điểm G (giảm) và dòng thứ ba là tỉ lệ tổng điểm hạn được giảm tương ứng theo điểm G.
Nếu số điểm G (gần hay) bằng điểm giữa của 2 mức giảm thì tổng điểm hạn mới có thể được giảm ở mức (gần hay) trung bình của 2 mức giảm đó (?).

Ví dụ số 11 : Ông Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết (1011 - 1077) là một nhà dịch học nổi tiếng Trung Quốc đã đợi qua năm Đinh Dậu (46 tuổi) mới quyết định ra làm Quan. Điều này chứng tỏ năm Đinh Dậu chắc chắn có tai họa cực nặng liên quan đến Quan vận nên ông mới phải tránh nó như vậy (ông Thiệu Vĩ Hoa là cháu nội đời thứ 29 của ông Thiệu Khang Tiết).

Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Đinh Dậu (46 tuổi) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân hơi vượng nhưng ngũ hành khá cân bằng, Kiêu Ấn (Thủy) đủ (vì chỉ có 2 chi mà Hợi ở vùng ngoài không Lâm quan hay Đế vượng nên cũng như Tý trụ ngày đều coi như thất lệnh), nên Dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương chính là Đinh tàng trong Tuất trụ giờ có 3đh. Hỷ thần là Thổ và Kim còn kỵ thần là Thủy và Mộc.
Trong tứ trụ có tam hội Hợi Tý Sửu (không hóa cục) cho biết cả thế giới vô hình (Thần ling) lẫn hữu hình (con người, xã hội) phù hộ, giúp đỡ.
Nhưng năm Đinh Dậu lại thuộc đại vận Đinh Dậu là Tuế Vận Cùng Gặp rất xấu vì có 1đh, xấu hơn nữa 2 Đinh là Thương quan ở tuế vận lại gặp 2 Quan trong tứ trụ mới thật đáng sợ. Vì thường mỗi Thương quan vượng ở tuế vận gặp Quan có 1đh nên ở đây có tới có 2đh. Đây chính là lý do ông Thiệu Ung đã phải chờ qua năm Đinh Dậu mới dám ra làm Quan là như vậy. Bởi vì khi chưa làm Quan thì không có 2đh này nhưng nếu làm Quan rồi đến năm Đinh Dậu cáo lão hồi hương không làm Quan nữa vẫn không thể trách được 2đh này (vì 2đh này là do các năm làm Quan không tránh được các mâu thuẫn gây ra với một vài ai đó nên họ sẽ luôn chờ cơ hội để trả thù bằng được).
1 - Dụng thần Đinh tử tuyệt tại lệnh tháng có 0,5đh (viết ngay cạnh Dụng thần Đinh), Đinh vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Giáp hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Dậu ở đai vận và lưu niên mỗi chi có 1 hung thần có +0,25đh. Hợi tiểu vận có 1 hung thần có +0,13đh.
4 - Mỗi Thương quan ở tuế và vận gặp Quan trong tứ trụ có 0đh (vì chưa làm Quan).
5 - Tuế Vận cùng gặp có 1đh.
6 - Đinh đại vận và Đinh lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Tân trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,7đh, và mỗi Đinh có -1đh can động.
Tân ở trụ năm và trụ tháng đều thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên nên mỗi Tân có -0,5đh can động nhưng bị 2 lực khắc, mỗi lực có 0,7đh còn -0,5.0,3.0,3đh = -0,05đh.
7 - Dậu đại vận tự hình Dậu lưu niên có 1đh và hại Tuất trụ giờ có 1đh.
Dậu lưu niên hại Tuất trụ giờ có 1đh.
8 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Đất trên tường trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (vì nó chỉ có max 1đh).
Lửa dưới núi ở đại vận và lưu niên đều có Đinh vượng ở lưu niên nên khắc Đất trên thành trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (nó chỉ còn max 1đh, vì can đã sử dụng 1,5đk).

9 - Mỗi Đinh ở tuế và vận là Thương quan gặp Quan trong tứ trụ có 0đh (vì chưa ra làm Quan).

Tổng số chỉ có 7,83đh sau khi giảm 7/12 (vì tam hội cục không hóa có 3 chi liền nhau và có 2 trụ năm và tháng động) còn 7,83.7/12đh = 4,57đh. Số đểm hạn này phải đến bệnh viện nằm điều trị nhưng không hề đe dọa tới tính mạng.
Nếu như ông Thiệu Ung đã ra làm Quan rồi thì cho dù đến năm Đinh Dậu ông không còn làm Quan nữa thì vẫn có 2đh do Thương quan gặp Quan. Khi đó tổng số sẽ là 9,83đh khi giảm 7/12 còn 9,83.7/12đh = 5,73đh. Số điểm này là quá cao khó mà thoát... được, mặc dù ông đã trở thành đại cao thủ về mệnh học (nhất là môn Tử Bình này). Đây chính là lý do ông đã biết trước nên phải đợi qua năm Đinh Dậu mới ra làm quan.
Đây chính là một cách giải hạn cơ bản mà chúng ta cần phải biết để nghiên cứu thêm các cách giải hạn khác.


Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Đinh Tị (66 tuổi) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Năm Đinh Tị (1077) thuộc đại vận Ất Mùi và 2 tiểu vận là Mậu Thìn và Đinh Mão.
Ta thấy tam hội Hợi Tý Sửu không hóa trong tứ trụ bị phá bởi có lưu niên Đinh Tị TKĐX với trụ năm Ất Hợi và đại vận Ất Mùi TKĐX với trụ tháng Tân Sửu.
1 - Dụng thần Đinh vượng ở lưu niên có -1đh, nhưng tử tuyệt ở lệnh tháng có 0,5đh.
2 - Nhật can Giáp nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Mùi đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và Thìn tiểu vận có 1 hung thần có +0,13đh.
4 - Trụ tháng Tân Sửu TKĐX với đại vận Ất Mùi có 0,13đh vì Tân thất lệnh còn nhược ở tuế vận (sẽ nói sau).
Lưu niên Đinh Tị TKĐX với trụ năm Ất Hợi có 0,5đh vì có Đinh vượng ở lưu niên.
Có 4 trụ TKĐX với nhau nên có thêm 0,3đh (sẽ nói sau).
5 - Đinh lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Tân trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,7đh, Đinh có -1đh can động.
2 Tân trong tứ trụ thất lệnh còn nhược ở tuế vận khắc Ất đại vận mỗi lực có 0đh và đều có 0đh can động.
Ất đại vận vượng ở lưu niên khắc Mậu tiểu vận có 1.1/2.1/2đh = 0,25đh (vì khắc trái dấu và khắc tiểu vận).
Mùi đại vận xung Sửu trụ tháng có 0,15đh và thêm 0,25đh do xung lệnh tháng (sẽ nói sau).
Hợi trụ năm khắc Tị lưu niên có 0,3đh và thêm 1đh do khắc Thái tuế.
6 - Mùi đại vận hình Tuất trụ giờ có 1đh và hại Tý trụ ngày có 1đh.
7 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Đất trên tường trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh.
Cát trong đất lưu niên có Đinh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát đại vận có 0đh (vì nạp âm có chi là Tị bị khắc bởi Hợi trụ năm).
8 -
Vì chi Mùi đại vận có 3 lực tác động tới các chi trong tứ trụ nên lực xung của Mùi đại vận với Sửu trụ tháng có 1G, Mùi đại vận hại Tý trụ ngày có 0,5G và hình Tuất trụ giờ có 0,5G. Tổng cộng có 2G, số điểm này nằm giữa 2 mức giảm là 1/6 và 1/5. Do vậy được giảm bằng mức trung bình của 2 mức giảm này (sẽ nói sau).
9 - Đinh lưu niên là Thương quan gặp Quan trong tứ trụ có 1đh.

Tổng số có 6,61đh có 2G nên được giảm còn 6,16.(4/5 + 5/6).1/2 đh = 5,03đh.
Với số điểm hạn này có thể chấp nhận được vì nó có thể gây tử vong nhưng đây là một Đại Cao Thủ về Tử Bình nên ông có thể giải cứu được, khó mà tử vong.


Do vậy từ ví dụ này chắc ta phải đưa ra quy tắc mới :
Lực khắc của nạp âm với các nạp âm khác bị giảm ¾ khi chi của nó bị khắc gần bởi Hợi hay Thân.
Nếu áp dụng quy tắc mới này thì Cát trong đất lưu niên có Đinh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát đại vận có 1đh nhưng bị giảm ¾ còn 1.3/4đh = 0,25đh.


Tổng số sẽ là 6,41đh khi giảm 2G sẽ còn 6,41.(4/5 + 5/6) .1/2 đh= 5,24đh.

Với số điểm 5,24đh này mới có thể chấp nhận được.

Do vậy quy tắc :
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc bởi tứ hành xung (như Tý khắc Ngọ; Dậu khắc Mão, Hợi khắc Tị, Thân khắc Dần).

Ta phải sửa lại thành :
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc gần bởi Tý hay Dậu và bị giảm ¾ khi bị khắc gần bởi Dậu hay Hợi.

Từ ví dụ này ta khẳng định Tam hội không hóa bị phá khi có ít nhất 2 trụ của nó bị TKĐX, vì nếu không bị phá thì tổng số cho dù có tới 8đh khi được giảm 5/12 còn 8.7/12đh = 4,67đh vẫn không thể gây ra tử vong được.

Cách giải cứu
Qua đây ta thấy giải cứu 2đh bởi hình và hại mà tới Đại Cao Thủ Thiệu Ung vẫn còn bó tay thì rõ ràng tôi đã sai khi cho rằng nếu đã hiểu nguyên nhân chủ yếu của hình và hại do con người gây ra thì có thể tránh được.

Sửa bởi SongHongHa: 22/01/2026 - 09:24


#122 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 26/01/2026 - 11:54

Ví dụ số 12 : Tổng thống PuTin sinh ngày 7/10/1952 lúc 12.00' (?)
Sơ đồ diễn tả điểm hạn của TT. PuTin năm Mậu Thân (2028) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Thìn trụ năm với Dậu trụ tháng không hóa cục (vì không có Thần dẫn) và bán hợp của Ngọ trụ giờ với Tuất trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Bính trụ ngày dẫn hóa) nhưng bị trụ năm Nhâm Thìn TKĐX với trụ ngày phá tan cục còn tổ hợp. TKĐX này còn phá tan lục hợp của Thìn trụ năm với Dậu trụ tháng.
Ta thấy ngũ hành đầy đủ và khá cân bằng, mặc dù Thân hơi nhược so với Thực Thương nhưng vẫn vượng hơn Tài và Quan Sát nên vẫn có thể phát Tài và Quan khi vào các vận hỷ dụng thần. Ta thấy vào các vận Giáp Dần và Ất Mão (từ tháng 3/1993 tới tháng 3/2013)có can Giáp và Ất đều là dụng thần ở lâm quan, đế vượng tại vận mà trong tứ trụ không có can Canh hay Tân khắc thì chắc chắn đây là 2 vận dụng thần lên ngôi, 2 vận huy hoàng nhất của cuộc đời.
Thực tế đúng như vậy, ông ta đã được làm tổng thống Nga và rất may mắn gặp Thiên thời Địa lợi là giá dầu tăng lên đã khôi phục được nền kinh tế nghèo đói thành phát triển, đời sống người dân và xã hội phát triển mạnh giống như các nước Ả Rập ở trung đông (vì ngoài dầu mỏ ra không có ngành nghề nào phát triển mạnh đáng nói cả). Bằng chứng là trước năm 2014 khi chưa bị cấm vận nước Nga phải nhập lương thực, ngũ cốc... từ Mỹ và Canađa, hoa quả, thực phẩm (thịt, gia cầm...) của châu Âu...

Nhìn vào tứ trụ ta thấy Nhật can Bính tử tại lệnh tháng Dậu nhưng rất may có Ngọ trụ giờ là Kình dương trợ Thân nên Thân có lực dễ dàng thắng được Tài Quan (được làm Quan và giầu có vì Tài Quan trong tứ trụ yếu nhược hơn Thân). Vì Nhật can quá nhược (tới cùng cực là 3đv) không có can chi Hỏa nào khác ngoài chi Ngọ trụ giờ là Kình dương nên Nhật can như chết đuối vớ được cọc bám lấy Kình dương làm bùa hộ mệnh như Kim Chỉ Nam của mình.
Tính cách của Kình dương : Kình dương vừa là "Sát" đã đạt đến cực độ của hung, tức nằm ở cực đỉnh của đế vượng. Kình dương chủ về hung bạo, ngang tàng, nóng nảy...Nó là võ tinh, nên võ quan gặp nó thì công thành danh toại, có Kiếp sát là nắm quyền sinh sát trong tay nhưng Kình dương kiêm ác sát (các thần sát có +0,25đh) thì tai họa vô cùng...(tóm tắt theo wikipedia).
Nói chung tính cách và tài năng của PuTin hầu như do Kình dương quyết định, khống chế hoàn toàn...


Sau khi PuTin mang quân xâm chiếm Ukraine một thời gian, trong đầu tôi thấy hình ảnh có một đội quân đánh tràn qua Nga rồi tiến về châu Á. Đây có phải là nhìn thấy tương lai (viễn thị) hay không thì tôi không biết nhưng tôi đã suy nghĩ nhiều. Nếu như Trung Quốc tuyên bố không để cho Nga thua ở Ukraine (Nato cũng phát ngôn tương tự không để Ukraine thua). Đối với Nato thì không cần quan tâm nhưng tuyên bố của Trung Quốc thì chắc muốn chờ Nga suy tàn đế lấy chính lý do của PuTin xâm chiếm Ukraine “Vì đó là đất và dân của Nga” thì Trung Quốc sẽ chiếm vùng Viễn Đông cũng với lý do tương tự “Vì đó là đất và dân của Trung Quốc”.
Chắc vì lý do này nên PuTin đã cứng họng phải nhượng đất vùng Viễn Đông để cầu mong Trung Quốc vẫn tiếp tục giúp đỡ Nga đánh Ukraine chăng ?
Nếu đúng như vậy thì dân Nga sẽ không cho PuTin sống và sau đó cầu hòa và bắt tay Ukraine cùng Nato tràn sang châu Á để đánh chiếm lại vùng Viễn Đông chăng ?

Sơ đồ trên diễn tả điểm hạn của PuTin năm 2028

Năm 2028 là năm Mậu Thân thuộc đại vận Đinh Tị và có 2 tiểu vận là Canh Tuất và Tân Hợi.
Có tam hội của Thân lưu niên với Dậu trụ tháng và Tuất trụ ngày không hóa (vì bán hợp của Ngọ trụ giờ với Tuất trụ ngày không hóa cục do bị phá) và có Ngũ hợp của Nhâm trụ năm với Đinh đại vận không hóa.
1 - Dụng thần Giáp tử tuyệt ở lưu niên có 1đh.
2 - Nhật can Bính nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Đại vận Đinh Tị TKĐX với tiểu vận Tân Hợi có 0,25đh (vì Đinh vượng ở lưu niên có 0,5đh và TKĐX với tiểu vận giảm 50%).
Trụ năm Nhâm Thìn TKĐX với trụ ngày Bính Tuất có 0,5đh (vì Nhâm vượng ở lưu niên), thêm 0,3đh (vì có 4 trụ TKĐX với nhau, sẽ nói sau).
4 - Nhâm trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Đinh đại vận có 0,5đh, và có 0đh can động. Đinh đại vận vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 50% do Nhâm khắc còn -0,25đh.
Giáp trụ giờ thất lệnh và nhược ở tuế vận khắc Mậu lưu niên có 0đh, và có 0đh can động. Mậu lưu niên chỉ vượng ở đại vận có 0,25đh can động.
5 - Tị đại vận xung Hợi tiểu vận có 0,15đh và có 1 hung thần có 0,25đh. Hợi tiểu vận có 3 hung thần và 1 cát thần có 2.0,13đh nhưng bị giảm 13% còn 0,21đh (do Tị xung). Tân tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh.
6 - Nước Sông trụ năm và Đất dịch chuyển trụ tháng đều có can vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát trụ giờ mỗi lực có 1đh.
Cát trong đất đại vận và Đất dịch chuyển lưu niên đều có can vượng ở đại vận hay lưu niên khắc Kim trong cát trụ giờ mỗi lực có 1đh.
7 - Tam hội giữa tứ trụ với tuế vận có 3 chi, trong đó có 2 chi trong tứ trụ khác nhau nên có -1đh (sẽ nói sau).

Tổng số là 603đh. Số điểm hạn này quá cao thừa sức gây ra tử vong (vì theo bảng giảm thì chưa có quy tắc nào ở sơ đồ trên có điểm giảm G).
Nếu năm 2028 PuTin không chết mà chỉ bị tai họa nặng thì sao ?

Nếu như vậy thì ta phải đưa ra quy tắc mới :
Nếu có ít nhất từ 2 lực khắc trở lên của nạp âm ở tuế vận với tứ trụ thì mỗi lực khắc(có điểm hạn) này có 1G (hay 0,5G) khi đó mỗi lực khắc của nạp âm trong tứ trụ gần với nhau (có điểm hạn) sẽ có 0,5G (hay 0,25G).


Khi áp dụng quy tắc này thì tổng cộng có 2,38G (hay 1,2G) khi đó tổng điểm hạn được giảm 2,38G (coi như ở giữa 2G và 2,5G) còn 6,03.4/5đh = 4,82đh (hay 5,17đh). Nếu đúng như vậy thì PuTin có tai họa khá nặng tới mức thoát chết là may (hay có thể tử vong nếu có 5,17đh).

Bảng tra các ngày trong năm 2028 TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua bảng trên ta thấy ngày Bính Tuất (2/3) và Mậu Tuất (14/3) TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn là đáng ngại nhất vì chúng thuộc tháng Ất Mão (của lưu niên) TKĐX thêm với trụ tháng Kỷ Dậu. Sau đó đến ngày Mậu Tuất (9/11) vì nó thuộc tháng Quý Hợi TKĐX với đại vận Đinh Tị. Cuối cùng mới đến các ngày 29/8, 10/9 và 28/10 vì chúng là các tháng Thân, Dậu, Tuất có các chi tác động tới tam hội trong tứ trụ. Các tác động này làm cho tai họa dễ xẩy ra.

Các điều dự đoán này đúng hay sai, chúng ta đành phải chờ tới tháng 3 năm 2028 để kiểm nghiệm vậy.

(Còn năm 2030 là Canh Tuất có tới 6,14đh, mọi người thử tính xem.)

Sửa bởi SongHongHa: 26/01/2026 - 12:07


#123 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 27/01/2026 - 08:54

Bài trên tôi đã luận sai khi không phát hiện ra ngũ hợp của Nhâm trụ năm với Đinh đại vận không hóa bị phá bởi 2 TKĐX là tiểu vận Tân Hợi TKĐX với đại vận Đinh Tị và trụ ngày Bính Tuất TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn.

Do vậy tôi xin sửa và đăng lại cả bài này như sau :

Ví dụ số 12 : Tổng thống PuTin 10sinh ngày 7/1952 lúc 12.00' (?)

Sơ đồ diễn tả điểm hạn của TT. PuTin năm Mậu Thân (2028) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Thìn trụ năm với Dậu trụ tháng không hóa cục (vì không có Thần dẫn) và bán hợp của Ngọ trụ giờ với Tuất trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Bính trụ ngày dẫn hóa) nhưng bị trụ năm Nhâm Thìn TKĐX với trụ ngày phá tan cục còn tổ hợp. TKĐX này còn phá tan lục hợp của Thìn trụ năm với Dậu trụ tháng.
Ta thấy ngũ hành đầy đủ và khá cân bằng, mặc dù Thân hơi nhược so với Thực Thương nhưng vẫn vượng hơn Tài và Quan Sát nên vẫn có thể phát Tài và Quan khi vào các vận hỷ dụng thần. Ta thấy vào các vận Giáp Dần và Ất Mão (từ tháng 3/1993 tới tháng 3/2013)có can Giáp và Ất đều là dụng thần ở lâm quan, đế vượng tại vận mà trong tứ trụ không có can Canh hay Tân khắc thì chắc chắn đây là 2 vận dụng thần lên ngôi, là 2 vận huy hoàng nhất của cuộc đời.
Thực tế đúng như vậy, ông ta đã được làm tổng thống Nga và rất may mắn gặp Thiên thời Địa lợi là giá dầu tăng lên đã khôi phục được nền kinh tế nghèo đói thành phát triển, đời sống người dân và xã hội phát triển mạnh giống như các nước Ả Rập ở trung đông (vì ngoài dầu mỏ ra không có ngành nghề nào phát triển mạnh đáng nói cả). Bằng chứng là trước năm 2014 khi chưa bị cấm vận nước Nga phải nhập lương thực, ngũ cốc... từ Mỹ và Canađa, hoa quả, thực phẩm (thịt, gia cầm...) từ châu Âu...

Nhìn vào tứ trụ ta thấy Nhật can Bính tử tại lệnh tháng Dậu nhưng rất may có Ngọ trụ giờ là Kình dương trợ Thân nên Thân có lực dễ dàng thắng được Tài Quan (được làm Quan và giầu có vì Tài Quan trong tứ trụ yếu nhược hơn Thân). Vì Nhật can quá nhược (là 3đv) không có can chi Hỏa nào khác ngoài chi Ngọ trụ giờ là Kình dương nên Nhật can như chết đuối vớ được cọc bám lấy Kình dương làm bùa hộ mệnh, như Kim Chỉ Nam của mình.


Tính cách của Kình dương :Kình dương vừa là "Sát" đã đạt đến cực độ của hung, tức nằm ở cực đỉnh của đế vượng. Kình dương chủ về hung bạo, ngang tàng, nóng nảy... Nó là võ tinh, nên võ quan gặp nó thì công thành, danh toại, có Kiếp Sát là nắm quyền sinh sát trong tay nhưng Kình dương kiêm ác sát (các thần sát có +0,25đh) thì tai họa vô cùng...(tóm tắt theo wikipedia).

Nói chung tính cách và tài năng của PuTin hầu như do Kình dương quyết định, khống chế hoàn toàn...
Sau khi PuTin mang quân xâm chiếm Ukraine, trong đầu tôi thấy hình ảnh có một đội quân đánh tràn qua Nga rồi tiến về châu Á. Đây có phải là nhìn thấy tương lai (viễn thị) hay không thì tôi không biết nhưng tôi đã suy nghĩ nhiều về nó. Nếu như Trung Quốc tuyên bố không để cho Nga thua ở Ukraine (Nato cũng phát ngôn tương tự, không để Ukraine thua). Đối với Nato thì không cần quan tâm nhưng tuyên bố của Trung Quốc thì chắc muốn chờ Nga suy tàn đế lấy chính lý do của PuTin xâm chiếm Ukraine “Vì đó là đất và dân của Nga” thì Trung Quốc sẽ chiếm vùng Viễn Đông cũng với lý do tương tự “Vì đó là đất và dân của Trung Quốc”.
Chắc vì lý do này nên PuTin đã cứng họng phải nhượng đất vùng Viễn Đông để cầu mong Trung Quốc vẫn tiếp tục giúp đỡ Nga đánh Ukraine chăng ?
Nếu đúng như vậy thì dân Nga sẽ không cho PuTin sống và sau đó cầu hòa và bắt tay Ukraine cùng Nato tràn sang châu Á để đánh chiếm lại vùng Viễn Đông chăng ?

Sơ đồ trên diễn tả điểm hạn của PuTin năm 2028
Năm 2028 là năm Mậu Thân thuộc đại vận Đinh Tị và có 2 tiểu vận là Canh Tuất và Tân Hợi.
Có tam hội của Thân lưu niên với Dậu trụ tháng và Tuất trụ ngày không hóa (vì bán hợp của Ngọ trụ giờ với Tuất trụ ngày không hóa cục do bị phá).
Có ngũ hợp của Nhâm trụ năm với Đinh đại vận không hóa bị phá bởi tiểu vận Tân Hợi TKĐX với đại vận Đinh Tị và trụ ngày Bính Tuất TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn.

1 - Dụng thần Giáp tử tuyệt ở lưu niên có 1đh.
2 - Nhật can Bính nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Đại vận Đinh Tị TKĐX với tiểu vận Tân Hợi có 0,25đh (vì Đinh vượng ở lưu niên có 0,5đh và TKĐX với tiểu vận giảm 50%).
Trụ năm Nhâm Thìn TKĐX với trụ ngày Bính Tuất có 0,5đh (vì Nhâm vượng ở lưu niên), thêm 0,3đh (vì có 4 trụ TKĐX với nhau, sẽ nói sau).
4 - Giáp trụ giờ thất lệnh lại nhược ở tuế vận nên khắc Mậu lưu niên có 0đh và có 0đh can động.
Mậu lưu niên chỉ vượng ở đại vận có 0,25đh can động và khắc Nhâm trụ năm có 0,5đh (vì chỉ vượng ở đại vận).
Nhâm trụ năm được lệnh còn vượng ở lưu niên có 0đh can động và khắc Đinh đại vận có 0,5đh (vì khắc trái dấu) nhưng bị giảm 50% (do Mậu khắc Nhâm) còn 0,25đh.
Đinh đại vận vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 25% do Nhâm khắc còn -0,38đh. Đinh khắc Tân tiểu vận có 0,5đh (vì khắc vào tiểu vận giảm 50%đh) bị giảm 25% (do Đinh bị Nhâm khắc) còn 0,38đh.
5 - Tị đại vận xung Hợi tiểu vận có 0,15đh và có 1 hung thần có 0,25đh. Hợi tiểu vận có 3 hung thần và 1 cát thần có 2.0,13đh nhưng bị giảm 15% (do Tị xung) còn 0,21đh. Tân tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh bị giảm 38% còn -0,08đh.
6 - Nước Sông trụ năm và Đất dịch chuyển trụ tháng đều có can vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát trụ giờ mỗi lực có 1đh.
Cát trong đất đại vận và Đất dịch chuyển lưu niên đều có can vượng ở đại vận hay lưu niên khắc Kim trong cát trụ giờ mỗi lực có 1đh.
7 - Tam hội giữa tứ trụ với tuế vận có 3 chi, trong đó có 2 chi trong tứ trụ khác nhau nên có -1đh (sẽ nói sau).

Tổng số là 6,58đh. Số điểm hạn này quá cao thừa sức gây ra tử vong (vì theo bảng giảm thì chưa có quy tắc nào ở sơ đồ trên có điểm giảm G).
Nếu năm 2028 PuTin không chết mà chỉ bị tai họa nặng thì sao ?

Nếu như vậy thì ta phải đưa ra quy tắc mới :
Nếu có ít nhất từ 2 lực khắc trở lên của nạp âm ở tuế vận với tứ trụ thì mỗi lực khắc (có điểm hạn) này có 1G (hay 0,5G) khi đó mỗi lực khắc của nạp âm trong tứ trụ gần với nhau (có điểm hạn) sẽ có 0,5G (hay 0,25G).

Khi áp dụng quy tắc này thì tổng cộng có 2,38G (hay 1,2G) khi đó tổng điểm hạn được giảm 2,38G còn 6,58.4/5đh = 5,26đh (hay 5,64đh nếu chỉ có 1,2G).

Nếu như số điểm hạn này không sai thì thật đáng lo ngại cho PuTin.
Hy vọng mọi người giúp tôi tìm thêm được một số điểm giảm G nữa hay không ?

Bảng tra các ngày trong năm 2028 TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua bảng trên ta thấy ngày Bính Tuất (2/3) Mậu Tuất (14/3) TKĐX với trụ năm Nhâm Thìn là đáng ngại nhất vì chúng thuộc tháng Ất Mão (của lưu niên) TKĐX thêm với trụ tháng Kỷ Dậu. Sau đó đến ngày Mậu Tuất (9/11) vì nó thuộc tháng Quý Hợi TKĐX với đại vận Đinh Tị. Cuối cùng mới đến các ngày 29/8, 10/9 và 28/10 vì chúng là các tháng Thân, Dậu, Tuất có các chi tác động tới tam hội trong tứ trụ. Các tác động này làm cho tai họa dễ xẩy ra.

Các điều dự đoán này đúng hay sai, chúng ta đành phải chờ tới tháng 3 năm 2028 để kiểm nghiệm vậy.

Sơ đồ diễn tả điểm hạn của TT. PuTin năm Canh Tuất (2030) :


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Mọi người thử luận xem có ra đúng các điểm hạn như trong sơ đồ hay không ?

Sửa bởi SongHongHa: 27/01/2026 - 09:12


#124 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 28/01/2026 - 21:58

Vì từ ví dụ số 12 của PuTin ta mới đưa ra quy tắc các nạp âm khắc nhau có thể có điểm giảm G nên ta phải xét lại tất cả các ví dụ về tính điểm hạn trước đây. Rất may là ta mới có 3 ví dụ, trong đó có ví dụ số 10 của ông Trương Chấn Hoàn năm 1994 và ví dụ số 11 của ông Thiệu Ung năm 1057. Kết hợp cả 3 ví dụ này, ta phải chỉnh sửa lại để đưa ra 2 Quy Tắc sau :
1 - Khi nạp âm của lưu niên và đại vận cùng khắc nạp âm trong tứ trụ có điểm hạn thì lực khắc của mỗi nạp âm này mới có max 1G, khi đó các nạp âm trong tứ trụ khắc nhau gần có điểm hạn mới có 0,5G (còn cách 1 ngôi giảm 50%, cách 2 ngôi giảm thêm 50%).
2 - Chi của nạp âm hóa cục có thể sinh được cho nạp âm cùng trụ max 0,25đh, điểm hạn này vẫn bị giảm bình thường khi nạp âm bị khắc nhưng tổng điểm hạn còn lại của 2 lực khắc này không được vượt quá điểm hạn của nạp âm khi chưa bị khắc.


Áp dụng 2 quy tắc trên ta phải luận lại điểm hạn năm 1994 của ông Trương Chấn Hoàn như sau :
Ví dụ số 10 : Trương Chấn Hoàn chủ nhiệm ủy ban khoa học kỹ thuật quốc phòng (TQ), sinh ngày 21/10/1915 khoảng 12,00’ sáng. Ông ta mất vào ngày 24/3/1994. Trần Viên cho biết (trong phần Nhập Môn in cùng cuốn Dự Đoán Theo Tứ Trụcủa ông Thiệu Vĩ Hoa) tháng 8 năm 1993 ông bị bệnh về tim phải nằm viện cấp cứu, mấy lần nguy kịch. Khắp nơi các cao sư khí công kéo về cứu giúp. Thầy Thiệu Vĩ Hoa cũng dốc hết sức mình kéo dài tuổi thọ cho ông. Ngày 24/9/1993 sau khi bệnh đỡ ông đã ra viện đi an dưỡng (6 tháng sau, ngày 24/3/1994 ông mới mất).
Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa ngày 24/3 năm Giáp Tuất (1994) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Sửa lại là :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



(Quy ước : Từ ví dụ sau để cho sơ đồ đỡ rối rắm tôi diễn tả điểm vượng trong vùng tâm của các can chi trong sơ đồ ngay dưới hay bên cạnh các can chi của chúng.)

Ngày 24/3/1994 là năm Giáp Tuất thuộc đại vận Mậu Dần và tiểu vận đầu tiên là Quý Hợi. Ta thấy có tam hợp của Tuất, Ngọ trong tứ trụ hợp với Dần đại vận và Tuất lưu niên hóa Hỏa thành công (vì có Bính trụ tháng làm Thần dẫn). Thêm ngũ hợp của Mậu đại vận với Quý tiểu vận cũng hóa Hỏa thành công (vì có Dần đại vận hóa Hỏa làm Thần dẫn). Điểm vượng trong vùng tâm không phải tính lại (sẽ nói sau).
1 - Dụng thần Nhâm vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Ất tử tuyệt tại lưu niên có 1đh.
3 - Tam hợp 4 chi hóa Hỏa có 1đh và Ngũ hợp hóa Hỏa có 0,5đh.
4 - Nhâm trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên nhưng khắc 2 Hỏa cục đều có 0đh (Nhâm khắc tới 6 can chi Hỏa cục - vì 2 hỏa cục này có thể liên kết với nhau) và Nhâm có 0đh can động.
5 - Nước biển tiểu vận có Quý vượng ở chi Hợi khắc Đất trên thành đại vận và Lửa đỉnh núi lưu niên mỗi lực có 1đh.
Lửa đỉnh núi lưu niên có Giáp chỉ vượng ở đại vận có max 1,5đk khắc Đất mái nhà trụ tháng và gỗ Liễu trụ giờ mỗi lực có 0,75đh nhưng bị giảm 50%đh do Nước biển tiểu vận khắc (vì nước biển chỉ khắc được phần dung nham núi lứa đã trào lên mặt biển còn phần dưới lòng đất không khắc được vẫn không ngừng phun lên) còn 0,75.50%đh = 0,38đh.
Đất mái nhà trụ tháng có Bính chỉ vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh nhưng bị Lửa đỉnh núi khắc mất 38%đh còn 0,62đh nhưng Tuất cùng trụ hóa Hỏa có thể sinh cho nạp âm max 0,25đh, cũng bị giảm 38% còn 0,16đh. Tổng cộng còn lại là 0,16đh + 0,62đh = 0,78đh (điểm hạn này chấp nhận được vì vẫn nhỏ hơn 1đh).
Đất trên thành đại vận có Mậu chỉ vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh nhưng can chi của nó đều hợp với tuế vận nên bị giảm 50% còn 0,5đh, phần còn lại bị nước Biển tiểu vận khắc mất hết. Dần cùng trụ hóa Hỏa nên có thể sinh cho Đất trên thành max 0,25đh nhưng cũng bị nước biển tiểu vận khắc mất hết.

Tổng số là 5,08đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó đủ sức gây ra tử vong (vì tuế vận chỉ có 1 nạp âm lưu niên khắc nạp âm trong tứ trụ có điểm hạn
nên không có điểm G).
Đây chỉ là số điểm hạn tất yếu (nếu đúng), nếu như không có điểm hạn dương gây ra bởi các yếu tố bên ngoài thì số điểm hạn âm được các cao nhân Trung Quốc giải cứu chắc chắn không thể lớn hơn -0,08đh.

Ở đây ta thấy ngày 24/3/1994 là ngày xẩy ra tai họa tử vong lại chính là ngày Kỷ Dậu TKĐX với trụ năm Ất Mão.
Không biết đây là trường hợp lặp lại ngẫu nhiên hay là tất nhiên ?

Cách giải cứu
Tai họa này điểm hạn chủ yếu do Hỏa cục và nạp âm gây ra. Tôi không biết giải điểm hạn về Hỏa cục, còn điểm hạn do nạp âm gây ra thì theo tôi nghĩ chắc nó thuộc về ngũ tạng của con người bị bệnh thì phải ? Nếu đúng như vậy thì ta lại phải nhờ đến nghành y...


#125 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 30/01/2026 - 09:49

(Tiếp theo)

Ví dụ số 11 : Ông Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết (1011 - 1077) là một nhà dịch học nổi tiếng Trung Quốc đã đợi qua năm Đinh Dậu (46 tuổi) mới quyết định ra làm Quan. Điều này chứng tỏ năm Đinh Dậu chắc chắn có tai họa cực nặng liên quan đến Quan vận nên ông mới phải tránh nó như vậy (ông Thiệu Vĩ Hoa là cháu nội đời thứ 29 của ông Thiệu Khang Tiết).
Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Đinh Dậu (46 tuổi) :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Xin sửa lại là :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ trên ta thấy Thân hơi vượng nhưng ngũ hành khá cân bằng, Kiêu Ấn (Thủy) đủ (vì chỉ có 2 chi mà Hợi ở vùng ngoài không Lâm quan hay Đế vượng nên cũng như Tý trụ ngày đều coi như thất lệnh), nên Dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương chính là Đinh tàng trong Tuất trụ giờ có 3đh. Hỷ thần là Thổ và Kim còn kỵ
Trong tứ trụ có tam hội Hợi Tý Sửu (không hóa cục) cho biết cả thế giới vô hình (Thần ling) lẫn hữu hình (con người, xã hội) phù hộ, giúp đỡ.
Nhưng năm Đinh Dậu lại thuộc đại vận Đinh Dậu là Tuế Vận Cùng Gặp rất xấu vì có 1đh, xấu hơn nữa 2 Đinh là Thương quan ở tuế vận lại gặp 2 Quan trong tứ trụ mới thật đáng sợ. Vì thường mỗi Thương quan vượng ở tuế vận gặp Quan có 1đh nên ở đây có tới có 2đh. Đây chính là lý do ông Thiệu Ung đã phải chờ qua năm Đinh Dậu mới dám ra làm Quan là như vậy. Bởi vì khi chưa làm Quan thì không có 2đh này nhưng nếu làm Quan rồi đến năm Đinh Dậu cáo lão hồi hương không làm Quan nữa vẫn không thể trách được 2đh này (vì 2đh này là do các năm làm Quan không tránh được các mâu thuẫn gây ra với một vài ai đó nên họ sẽ luôn chờ cơ hội để trả thù bằng được).
1 - Dụng thần Đinh tử tuyệt tại lệnh tháng có 0,5đh (viết ngay cạnh Dụng thần Đinh), Đinh vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Giáp hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Dậu ở đai vận và lưu niên mỗi chi có 1 hung thần có +0,25đh. Hợi tiểu vận có 1 hung thần có +0,13đh.
4 - Mỗi Thương quan ở tuế và vận gặp Quan trong tứ trụ có 0đh (vì chưa làm Quan).
5 - Tuế Vận cùng gặp có 1đh.
6 - Đinh đại vận và Đinh lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Tân trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,7đh, và mỗi Đinh có -1đh can động.
Tân ở trụ năm và trụ tháng đều thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên nên mỗi Tân có -0,5đh can động nhưng bị 2 lực khắc, mỗi lực có 0,7đh còn -0,5.0,3.0,3đh = -0,05đh.
7 - Dậu đại vận tự hình Dậu lưu niên có 1đh và hại Tuất trụ giờ có 1đh.
Dậu lưu niên hại Tuất trụ giờ có 1đh.
8 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Đất trên tường trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (vì nó chỉ có max 1đh).
Lửa dưới núi ở đại vận và lưu niên đều có Đinh vượng ở lưu niên nên khắc Đất trên thành trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (nó chỉ còn max 1đh, vì can đã sử dụng 1,5đk).
Tổng số chỉ có 7,83đh sau khi giảm 7/12 (vì tam hội cục không hóa có 3 chi liền nhau và có 2 trụ năm và tháng động) còn 7,83.7/12đh = 4,57đh. Số đểm hạn này phải đến bệnh viện nằm điều trị nhưng không hề đe dọa tới tính mạng.
Nếu như ông Thiệu Ung đã ra làm Quan rồi thì cho dù đến năm Đinh Dậu ông không còn làm Quan nữa thì vẫn có 2đh do Thương quan gặp Quan. Khi đó tổng số sẽ là 9,83đh khi giảm 7/12 còn 9,83.7/12đh = 5,73đh. Số điểm này là quá cao khó mà thoát... được, mặc dù ông đã trở thành đại cao thủ về mệnh học (nhất là môn Tử Bình này). Đây chính là lý do ông đã biết trước nên phải đợi qua năm Đinh Dậu mới ra làm quan.
Đây chính là một cách giải hạn cơ bản mà chúng ta cần phải biết để nghiên cứu thêm các cách giải hạn khác.

Khi áp dụng 2 quy tắc mới vừa tìm được trên ta có 2,38G thì tổng số 7,83đh trên ngoài được giảm 5/12 còn được giảm thêm bởi 2,38G là 1/5 còn 7,83.7/12..4/5đh = 3,66đh. Nếu đúng như vậy thì có thêm 2đh của Thương quan gặp Quan thì tổng số sẽ là 9,83đh khi đó sau khi giảm sẽ còn 9,83.7/12.4/5đh = 4,58đh. Số điểm này tất nhiên phải tới bệnh viện để điều trị nhưng không tới mức đe dọa tính mạng nên không thể chấp nhận được, vì thực tế đại cao thủ Thiệu Ung phải chờ qua năm Đinh Dậu (1057) mới dám ra làm Quan.

Do vậy từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc mới :
Tuế vận cùng gặp thì các nạp âm của nó khắc các nạp âm trong tứ trụ không gây ra điểm giảm G.

(Nếu các nạp âm ở tuế vận khắc các nạp âm ở trong tứ trụ gây ra điểm giảm G thì các can ở tuế vận khắc các can trong tứ trụ chắc cũng sẽ gây ra điểm giảm G ?)

Sửa bởi SongHongHa: 30/01/2026 - 10:03


#126 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 03/02/2026 - 06:44

Ví dụ số 13 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


“Elgin-Alexander Kirk Fraser (2004–2007) là một cậu bé 3 tuổi dũng cảm đã truyền cảm hứng cho đội khúc côn cầu Ottawa Senators và người hâm mộ trong cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư hiếm gặp, neuroblastoma.
Elgin đã qua đời vào ngày 19/5/2007 tại nhà, chỉ vài giờ sau khi xem đội bóng yêu thích của mình giành quyền vào chung kết Stanley Cup.” (theo Wikipedia)

Năm Đinh Hợi (2007) chưa vào đại vận (tháng 8/2012) nên ta phải lấy 2 tiểu vận của nó là Quý Dậu và Giáp Tuất thay đại vận. Vì ngày 19/5 đã qua ngày sinh nhật 10/4 nên nó thuộc tiểu vận thứ 2 cũng là đại vận Giáp Tuất mà ta cần tìm.
Ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Mùi trụ tháng với Ngọ trụ giờ hóa Thổ thành công (vì có Mậu hay Kỷ là thần dẫn). Có ngũ hợp của Nhật can Kỷ với Giáp đại vận không hóa (vì có Giáp trụ năm là Quan Sát của Thổ cục và có tỷ kiếp là Mậu và Thổ cục).
Qua sơ đồ ta thấy Thân quá vượng có tới 30,73đv (Thổ được thêm 1,25đv vì có 5 can chi Thổ, sẽ nói sau), nhưng không thể Tòng (Thổ) vì có Giáp là Quan Sát của Thổ, còn có khả năng khắc được 3 can chi Thổ (2 can là Mậu và Kỷ và chi là Thìn). Hành Thổ quá vượng mà không thể Tòng cho biết đây là một Mệnh rất xấu. Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Mộc (Quan Sát) chính là Ất tàng trong Thìn trụ tháng, hỷ thần là Kim và Thủy còn kỵ thần là Hỏa và Thổ.


1 - Dụng thần Ất tử tuyệt tại lưu niên có 1đh và nhập mộ đại vận có 1đh.
2 - Nhật can Kỷ nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Hợi lưu niên có 2 hung thần có 2.0,25đh.
4 - Giáp đại vận vượng ở lưu niên hợp khắc Kỷ trụ ngày có 0,5đh và có -1đh can động. Kỷ trụ ngày thất lệnh và nhược ở tuế vận có 0đh can động.
Đinh lưu niên nhược ở tuế và vận khắc Canh trụ giờ có 0đh và có 0đh can động. Canh trụ giờ thất lệnh còn nhược ở tuế vận có 0đh can động.
Tuất đại vận xung Thìn lệnh tháng có 0,15đh và có thêm 0,25đh vì xung lệnh tháng.
5 - Thân trụ năm hại Hợi lưu niên có 1đh.
6 - Lửa đỉnh núi đại vận có Giáp vượng ở lưu niên khắc Đất mái nhà lưu niên có 1đh.

Tổng cộng có 4,4đh. Số điểm này không thể chấp nhận được vì nó không thể gây ra tử vong.
Ta thấy không thể tìm được thêm thông tin nào ngoài hành Thổ là hành quá vượng mà không thể Tòng thì đây chính là nguyên nhân có thể làm tăng thêm điểm hạn.

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc mới :
Một hành là kỵ thần 1 lớn hơn hỷ dụng 1 từ 10đv trở lên được gọi là hành kỵ vượng và có điểm hạn kỵ vượng đúng bằng điểm hạn của hành đó.


Nếu áp dụng quy tắc này thì Kỷ trụ ngày là hành kỵ vượng bị Giáp đại vận hợp khắc phải có điểm hạn kỵ vượng là 0,5đh, bị giảm 50% do Giáp đại vận hợp khắc còn 0,25đh kỵ vượng. Tuất đại vận là hành kỵ vượng xung với Thìn lệnh tháng cũng phải có 0,5đh kỵ vượng vì nó động. Ở đây chưa cần xét đến Thìn lệnh tháng cũng là hành kỵ vượng (vì đã thừa 5đh).

Tổng cộng có 5,15đh. Số điểm này mới chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Ta thấy tháng 4/2007 thuộc đại vận Giáp Tuất có 2 ngày là 14/4 là Mậu Dần và ngày 26/4 là Canh Dần đều TKĐX với trụ năm Giáp Thân nhưng tai họa không xẩy ra mà lại xẩy ra vào ngày 19/5 là Quý Sửu thuộc tháng Ất Tị, tại sao lại như vậy ?

Có thể vì sự yêu thích và khát vọng lớn lao của mình cho đội khúc côn cầu Ottawa Senators mà cậu bé đã vượt qua được 2 cửa ải ngày 14/4 và 26/4. Chính vì vậy cậu bé đã hạnh phúc, vui vẻ ra đi khi xem xong trận đấu thắng lợi vang dội sau vài giờ chăng ?

Điểm hạn tại năm sinh :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Tổng số điểm hạn quá thấp không thể gây ra bất kỳ tai họa nào cả nhưng bệnh ung thư xuất hiện chắc do Thổ trong tứ trụ quá cường vượng mà năm sinh Giáp Thân có tiểu vận (tức đại vận) Tân Mùi gây ra chăng ? Đúng như vậy bởi vì Thổ cục trong tứ trụ hợp thêm với Mùi đại vận hóa Thổ làm cho Thổ càng thêm cường vượng nhưng vẫn không thể Tòng (Thổ), điều này chắc chắn đã gây ra bệnh ung thư ở trạng thái tĩnh (an toàn) là vậy.

Sửa bởi SongHongHa: 03/02/2026 - 06:55


#127 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 09/02/2026 - 13:54

Ví dụ số 14 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Năm Canh Thìn (2000) thuộc đại vận Tân Mão và 2 tiểu vận là Tân Tị và Canh Thìn.
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân quá nhược mà Kiêu Ấn lại quá vượng vì lớn hơn Thân trên 20đv lại không có Tài tinh là Quan Sát của Kiêu Ấn nên dễ thành cách Tòng Kim (Kiêu Ấn). Nhưng nếu Tòng Kim thì vào năm Canh Thìn có thêm lục hợp của Dậu trụ ngày với Thìn lưu niên hóa Kim (vì có 2 Canh làm Thần dẫn), khi đó ngũ hợp của Ất trụ tháng với Canh lưu niên sẽ hóa Kim (vì có Thìn lưu niên hóa Kim làm thần dẫn). Còn lục hợp của Mùi trụ tháng với Mão đại vận hóa Mộc (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn) nhưng bị phá mất cục còn hợp (vì có trụ năm Tân Sửu TKĐX với trụ tháng Ất Mùi,
và lực hợp của Mão đại vận với Mùi trụ tháng là 8,17đv lớn hơn lực xung của Sửu trụ năm với Mùi trụ tháng chỉ có 3,88đv). Vì vậy cách Tòng Kim càng mạnh thì nó phải là năm Dụng thần lên ngôi, là năm đại phát Tài (vì có thêm 2 Kim cục là dụng thần) chứ không thể là phá Tài được.
Từ đây ta khẳng định tứ trụ này không thể Tòng Kim (Kiêu Ấn) được và năm Canh Thìn là phá Tài thì ta cũng khẳng định luôn Kiêu Ấn phải là hành kỵ thần (có 0,5đh) mặc dù Thân nhược. Do vậy ta kết luận Kiêu Ấn phải là kỵ thần 1 còn là hành kỵ vượng (vì lớn hơn hỷ dụng 1 trên 20đv), nên Dụng thần chính là Nhâm tàng trong Thân trụ giờ, các hành khác đều là kỵ thần.
Vì có Ất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Kim có 24,83đv được thêm 1,39đv của Ất trụ tháng hóa Kim (nên Mộc còn 0đv) và 4,27đv của Canh lưu niên thành 30,49đv.

Vì Kim là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận (số điểm vượng thêm này không làm thay đổi Dụng thần trong tứ trụ mà nó chỉ có tác dụng tới xét điểm vượng của hành kỵ vượng, sẽ nói sau). Do vậy Kim có 30,49đv được thêm 7,5đv của Thìn lưu niên (vì đã hóa Kim) thành 37,99đv (tức lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 30đv), còn Mộc có 0đv được thêm 8,17đv của Mão đại vận thành 8,17đv.
1 - Dụng thần Nhâm tử tuyệt tại lưu niên có 1đh.
2 - Nhật can Quý nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Thìn tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh (không xét tiểu vận Tân Tị vì Tị có 2 cát thần có -2.0,13đh).
4 - Ngũ hợp của Ất với Canh hóa Kim có 0,5đh, Ất và Canh mỗi can có 0,5đh kỵ vượng (vì hóa Kim, chưa xét tới nó lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv).
Lục hợp của Dậu với Thìn hóa Kim có 0,5đh và chi Thìn lưu niên có 0,5đh kỵ vượng (vì hóa Kim, chi trong tứ trụ không có điểm hạn kỵ vượng, sẽ nói sau).
5 - Trụ năm Tân Sửu TKĐX với trụ tháng Ất Mùi có 0,13đv (vì Tân thất lệnh còn nhược ở tuế vận) và được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau, sẽ nói sau).
6 - Gỗ Lựu trụ năm có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim giá đèn lưu niên có 0,25đh (vì không có lửa yếu là Lửa đèn).
Gồ Tùng đại vận có Tân nhược ở tuế vận khắc Kim giá đèn lưu niên có 0đh.

Tổng số có 4,06đh. Số điểm này quá thấp không thể chấp nhận được vì nó không thể gây ra bất cứ tai họa nào cả. Theo các ví dụ thực tế thì phá Tài chỉ là mất một số ít tài sản của đương số nên nó tương đương với tổng số từ 4,5đh tới dưới 4,6đh, còn phá sản là mất hết toàn bộ tài sản của đương số, thậm chí còn bị nợ thêm, tương ứng với tổng số từ 4,6đh trở lên. Do vậy ở đây vì chỉ là phá tài nên ta chỉ cần tìm thêm 0,5đh nữa là đủ. Từ đây ta mới phải đụng chạm tới điểm kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv. Vì chỉ có 3 điểm hạn kỵ vượng nên mỗi điểm kỵ vượng này chỉ cần thêm 0,5.1/3đh = 0,17đh kỵ vượng là đủ.

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Kiêu Ấn có 4 hay 5 can chi và không có Tài tinh (tức không có Quan Sát của Kiêu Ấn) thì không thể Tòng khi Thân không lớn hơn 20%đv (hay 25%đv ?) của Kiêu Ấn. Kiêu Ấn là kỵ thần 1 và lớn hơn hỷ dụng 1 từ 20đv trở lên, khi đó Kiêu Ấn trở thành hành kỵ vượng có +0,5đh, nếu Kiêu ấn lớn hơn Thân từ 30đv trở lên thì điểm kỵ vượng mới được tăng thêm 1/3 (kể cả khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận), còn nếu lớn hơn Thân từ 40đv trở lên điểm kỵ vượng mới có thể được tăng gấp đôi.

Nếu áp dụng quy tắc này thì không thể Tòng Kim (Kiêu Ấn) vì Thân nhỏ hơn Kiêu Ấn là 3,88/37,99 = 10,21% (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy hành Kiêu Ấn đã trở thành hành kỵ vượng có 0,5đh kỵ vượng và được thêm 1/3đh của nó là 0,5.1/3đh = 0,17đh thành 0,67đh.

Tổng số là 4,57đh. Số điểm hạn này mới có thể chấp nhận được.


Ta thấy tai họa dễ xẩy ra vào ngày 4/10 (của lưu niên), vì nó là tháng Ất Dậu TKĐX với đại vận Tân Mão, thêm có chi Dậu này cùng Dậu trụ ngày trong tứ trụ tranh hợp với Thìn lưu niên, nhưng quan trọng nhất trong tháng 10 này có ngày mùng 4 là ngày Ất Mùi TKĐX với trụ năm Tân Sửu.

(Mỗi cách Tòng đều có các ngoại lệ của nó, nhất là Tòng theo Thực Thương, Kiêu Ấn, Lệnh tháng... sẽ nói sau.)

Sửa bởi SongHongHa: 09/02/2026 - 14:16


#128 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 18/02/2026 - 14:10

Ví dụ số 15 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Hạn xẩy ra vào năm Kỷ Tị (1989) thuộc đại vận Kỷ Sửu có 2 tiểu vận là Kỷ Mùi và Mậu Ngọ.
Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận vượng ở lưu niên khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng (vì bị giảm 50%đh) và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đh 0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Lửa sấm sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.


Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế Tị chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/4 là 0,25G (sẽ nói sau), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh (vì khắc lệnh tháng), tương ứng có thêm 0,13G. Vậy tổng cộng có 5,88G.
Để tính với 5,88G tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức nào thì qua bảng :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ta thấy tổng điểm hạn được giảm theo tỉ lệ thuận với độ lớn của G. Do vậy ta thấy 5,88G nằm trong khoảng độ giảm từ 6/12 (tức 5G) tới 7/12 (tức 7G) có thể tính theo bảng sau :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ta thấy với 5G thì tổng số điểm hạn được giảm chính xác là 6/12, còn với 7G thì được giảm chính xác là 7/12. Do vậy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm ở mức trung bình của 5G và 7G là (6/12 + 7/12).1/2 = (13/2)/12 = 6,5/12.
Ta thấy với 5,5G thì tổng điểm hạn được giảm ở mức trung bình của 5G và 6G là (6/12 + 6,5/12).1/2 = 6,25/12.
Ta thấy với 5,75G thì tổng điểm hạn được giảm ở mức trung bình của 5,5G với 6G là (6,25 + 6,5).1/2 = 6,375/12.
Ta thấy với 5,875G thì tổng điểm hạn được giảm ở mức trung bình của 5,75G với 6G là (6,375/12 + 6,5/12).1/2 = 6,438/12.


Ta thấy 5,875G là gần nhất với số điểm 5,88G mà ta cần tìm nên tổng số điểm hạn còn lại là 10,28.(12 – 6,438)/12đh = 10,28.5,562/12đh = 4,765đh. Số điểm này hoàn toàn có thể chấp nhận được vì nó tương ứng với trường hợp bị phá sản.
(Mọi người theo cách này có thể lập bảng tra các tỷ lệ được giảm theo các điểm giảm G khác.)


Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?

Sửa bởi SongHongHa: 18/02/2026 - 14:30


#129 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 18/02/2026 - 21:46

(Bổ xung)
Suy nghĩ lại tôi thấy với 4,76đh thì nó ở mức Phá Sản quá nặng trong khi ở đây tôi không biết thực tế nó nặng tới cỡ nào? Do vậy để khách quan cho phù hợp với thực tế, tôi nên đưa ra kết quả Phá Sản ở mức độ khá nặng thì hợp lý hơn.
Cho nên ta cần tăng thêm điểm giảm G khi lệnh tháng bị xung khắc từ 1/4 lên thành 1/3. Nếu áp dụng tỷ lệ này thì điểm giảm G sẽ từ 1G.1/4 = 0,25G thành 1G.1/3 = 0,33G (với xung khắc gần) và thêm 0,33.1/2G = 0,17G (với xung khắc cách 1 ngôi). Tổng cộng có (5,88 – 0,38 + 0,5)G = 6G.
Với số điểm giảm 6G này thì tổng điểm hạn còn lại là :
10,28.(12 – 6,5).1/12đh = 10,28.5,5/12đh = 4,71đh. Số điểm hạn này có lẽ hợp lý và dễ chấp nhận hơn chăng ?

Sửa bởi SongHongHa: 18/02/2026 - 21:53


#130 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 19/02/2026 - 17:48

Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đh0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh do xung lệnh tháng (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.

Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/3 = 0,33G (hay 1/4 ?), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh, tương ứng có thêm 0,17G. Tổng cộng có 6G.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua bảng trên ta thấy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức 6,5/12. Do vậy tổng điểm hạn còn lại là 10,28.5,5/12 = 4,71đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế là phá sản khá nặng.

Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?

Ta thấy ví dụ số 14 và 15 này đều có điểm hạn kỵ vượng tham gia chính gây ra tai họa về Tài, trong đó ví dụ số 14 tới 44%đh trong tổng số là 4,57đh, còn ví dụ số 15 này cũng chiếm tới 26%đh trong tổng số 10,28đh. Chả nhẽ điểm kỵ vượng lại có thể quyết định tai họa về Tài là phá tài hay phá sản hay sao ?


#131 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 19/02/2026 - 20:52

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 19/02/2026 - 17:48, said:

Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :
....................................................

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Bảng trên tôi đã sai nên thay bằng bảng sau :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thành thật xin lỗi mọi người.

Sửa bởi SongHongHa: 19/02/2026 - 20:54


#132 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 22/02/2026 - 08:16

Ví dụ số 17 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Hợi trụ ngày với Mão trụ tháng hóa Mộc (vì có Ất trụ năm làm thần dẫn) và có Thân nhược mà Thực Thương (Mộc) là kỵ vượng (vì lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 10đv). Vì Mộc (Thực Thương) chỉ có 3 can chi nên không thể tòng Mộc được. Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, Dụng thần chính là Canh tàng trong Tị trụ năm có 4,2đv, hỷ thần là Tỷ Kiếp (Thủy) còn kỵ thần là Thực Thương (Mộc), Tài tinh (Hỏa) và Quan Sát (Thổ).
Năm Tân Tị (2001) thuộc đại vận Ất Hợi có 2 tiểu vận là Kỷ Mão và Mậu Dần nhưng ngày 4/12 xẩy ra tai họa nó thuộc tiểu vận thứ 2 là Mậu Dần.
Ta thấy có ngũ hợp của Bính trụ giờ với Tân lưu niên không hóa (vì không có thần dẫn).
Lục hợp của Hợi đại vận với Dần tiểu vận hóa Mộc (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn) cùng bán hợp Mộc trong tứ trụ đều bị phá tan cả cục và hợp bởi lực xung của Tị lưu niên (có 8,07đv) với 2 Hợi lớn hơn lực hợp của Mão trụ tháng với Hợi trụ ngày (chỉ có 6,5đv) cũng như lớn hơn lực hợp của Dần tiểu vận với Hợi đại vận (chỉ có 6,17đv). Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá nhưng không phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm (vì không có 2 chi bị phá khác hành).


1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh.
2 - Nhật can Quý nhược ở lưu niên Tị có 0đh.
3 - Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và Dần tiểu vận có 3 hung thần có 3.0,13đh.
4 - Lưu niên Tân Tị TKĐX với đại vận Ất Hợi có 0,38đh (vì Tân chỉ vượng ở đại vận) và thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá có -0,5đh (đúng bằng điểm hạn của hành đó nhưng đổi dấu), chi Hợi tự do có -0,25đh còn chi Mão có 0,25đh (bằng 50%đh hạn của hành đó). Mộc cục ở tuế vận bị phá không có các điểm hạn này (vì nó xuất hiện sau khi sinh).
6 - Hợi trụ ngày là Kình dương (vì Nhật can ở trạng thái Đế vượng tại Hợi) nên khi Kình dương (Hợi) xuất hiện trên tuế vận thì mỗi Kình dương có 1đh (riêng ở tiểu vận có 0,5đh). Do vậy Hợi đại vận là Kình dương có 1đh.
7 - Bính trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên hợp và khắc Tân lưu niên có 0,5đh và có 0đh can động. Tân lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị khắc mất 50% bởi Bính còn -0,25đh.
Ất đại vận vượng ở lưu niên lại là kỵ vượng khắc Kỷ trụ tháng và Mậu tiểu vận nên mỗi lực có 0,7đh, riêng lực khắc với Mậu tiểu vận chỉ có 0,18đh (vì khắc trái dấu giảm 50% và khắc vào tiểu vận giảm thêm 50%). Ất đại vận có 0,5đh can động và 0,5đh kỵ vượng.
Khi đó Ất trụ năm cũng là kỵ vượng được lệnh và vượng ở lưu niên mới khắc được Kỷ trụ tháng có 1đh (vì khắc gần), có 0,5đh kỵ vượng và 0đh can động. Kỷ trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên Tị có 0,5đh can động nhưng bị 2 Ất khắc mất hết.
Hợi trụ ngày và Hợi đại vận khắc thái tuế Tị mỗi lực có 1,3đh. Khi đó Hợi trụ ngày mới xung khắc được Tị trụ năm có 0,3.50%đh = 0,15đh (vì cách 1 ngôi), còn Hợi đại vận xung khắc Tị trụ năm có 0,3đh (vì xung khắc gần).
8 - Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 1đh. Dần tiểu vận hình và hại Tị lưu niên mỗi lực có 1đh.
9 - Nước biển trụ ngày có Quý được lệnh nhưng chỉ vượng ở đại vận khắc Đất trên thành của trụ tháng có 1đh nhưng khắc Lửa đỉnh núi đại vận chỉ có 0,5đh (vì Quý chỉ vượng ở đại vận).
Tổng cộng có 11,25đh. Vì chỉ bị tai nạn nặng nhưng không đe dọa tới tính mạng nên rõ ràng ở đây phải có nhiều điểm giảm G là cái chắc.

Để dễ hiểu ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu mỗi lực khắc của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 2G thì khi đó mỗi lực khắc của nó với chi trong tứ trụ mới có 1G (khi khắc gần), còn mỗi lực hình hay hại hoặc tự hình của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, chi tiểu vận cũng tương tự khi đó khắc thái tuế có 2G, xung thái tuế có 1G còn hình, hại thái tuế có 0,5G.
2 - Nếu mỗi lực xung của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 1G thì khi đó mỗi lực xung của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G (khi xung gần), còn mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,25G.
3 - Nếu chi đại vận xung các chi trong tứ trụ có 1G thì khi đó mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, còn các chi trong tứ trụ giống chi đại vận xung hay hình, hại các chi trong tứ trụ điểm G tương ứng sẽ giảm đi 50%.
(Lý thuyết cơ bản về điểm G sẽ nói sau.)

Nếu chỉ có chi Hợi trụ ngày trong tứ trụ khắc thái tuế Tị thì không thể gây ra được điểm G nhưng may mắn ta thấy có thêm Hợi đại vận cũng khắc thái tuế Tị. Do vậy ta coi 2 Hợi này giống như cùng ở trong tứ trụ khắc thái tuế Tị nên mỗi lực khắc có 2G là hợp lý. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc được Tị trụ năm có 1G.50% = 0,5G (vì cách 1 ngôi). Tương tự ta có Hợi đại vận khắc Tị trụ tháng có 1G (vì khắc gần). Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 0,5G còn Dần tiểu vận hình và hại thái tuế Tị mỗi lực có 0,5G.

Tổng cộng có 7G, với số điểm G này thì tổng điểm hạn được giảm 7/12 còn lại 11,25.5/12đh = 4,69đh. Với số điểm này có thể chấp nhận được vì nó tương ứng với thực tế tai họa giao thông khá nặng.

Ở ví dụ này ta thấy điểm kỵ vượng chỉ chiếm 1/11,25 = 9%, điểm hình, hại và tự hình chiếm 3/11,25 = 26,67%, còn điểm xung khắc bởi tứ hành xung của Hợi với Tị chiếm 3,05/11,25 =27,11% . Tai họa này gây ra bởi lực về tự hình, hình, hại và xung khắc nên không thể về phá tài hay phá sản được mà về giao thông do đi lại bất cẩn bởi chính mình tự hại mình và người ngoài gây ra
(vì có các đh về tự hình và hình, hại) dẫn đến va chạm bởi xe cộ với nhau (vì có 2 Hợi xung khắc Tị) là hoàn toàn hợp lý.

Nhưng tiểu vận Mậu Dần từ 10/3 đến ngày 4/12 là ngày xẩy ra tai họa có nhiều ngày TKĐX với trụ năn Ất Tị mà lại xẩy ra vào tháng Kỷ Hợi của năm Tân Tị là Sao ?
Phải chăng vì có Hợi trụ ngày và Hợi đại vận xung khắc với thái tuế Tị ?

Mà tháng Hợi (của lưu niên) lại là thángKỷ Hợi TKĐX với trụ năm Ất Tị, đây có phải là yếu tố then chốt để tác động gây ra tai họa hay không ? Nhưng tháng Hợi có ngày Kỷ Hợi (2/12) TKĐX với năm Ất Tị nhưng tai họa lại không xẩy ra mà lại xẩy ra sau 2 ngày là ngày Tân Sửu (4/12), vậy thì tại sao ?
Hy vọng mọi người trả lời giúp tôi những câu hỏi này.

Sửa bởi SongHongHa: 22/02/2026 - 08:28


#133 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 23/02/2026 - 16:16

Ví dụ trên là Ví dụ số 16 nhưng tôi đã viết nhầm là Ví dụ số 17.
Thành thật xin lỗi mọi người.

#134 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 24/02/2026 - 08:53

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ngoài ra can chi ngũ hành còn đại diện cho các mùa, ngũ hành, phương hướng, mầu sắc, nghề nghiệp... sẽ nói sau.

Ví dụ số 17 :

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Qua sơ đồ trên ta thấy tứ trụ này có Thân vượng mà Kiêu Ấn ít và Thực Thương không nhiều nên dụng thần đầu tiên phải là Quan Sát chính là Quý tàng trong Tý trụ tháng, hỷ thần là Thực Thương và Tài tinh, kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.
Tai họa xẩy ra vào ngày 8/8/2005, nó thuộc đại vận Quý Mùi và ở tiểu vận Tân Dậu (vì chưa qua ngày sinh nhật 12/12).
Vì can luôn luôn động trước so với địa chi nên ngũ hợp của Canh trụ giờ với Ất lưu niên hóa Kim (vì có Dậu thái tuế làm thần dẫn) có trước. Sau đó mới tới bán hợp của Tị trụ ngày với Dậu thái tuế hóa Kim (vì có Kim cục làm thần dẫn chứ không phải Canh).


Do có can trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên điểm vượng trong vùng tâm phải được tính lại. Kim có 2đv được thêm 3,53đv của Ất lưu niên hóa Kim và 6,4đv của Tị trụ ngày hóa Kim thành 11,93đv, Hỏa có 11,02đv bị mất 6,4đv của Tị trụ ngày còn 4,62đv. Lúc này Thân đã trở thành nhược mà Tài tinh (Kim) là kỵ thần 1 nên dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Hỏa), khi đó Dụng thần chính sẽ là Bính trụ tháng có 4,2đv, hỷ thần là Kiêu Ấn (Thổ), kỵ thần là Thực Thương, Tài tinh và Quan Sát.
Vì Kim là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận (điểm vượng này không có khả năng làm thay đổi điểm hạn của ngũ hành mà nó chỉ có khả năng xác định điểm kỵ vượng). Kim có 11,93đv được thêm 7,67đv của Dậu thái tuế thành 19,6đv, Thủy có 4,5đv được thêm 4,22đv của Quý đại vận thành 8,72đv. Ta thấy Kim thành hành kỵ vượng có 0,5đh (vì nó lớn hơn hỷ dụng 1 là Hỏa trên 10đv).

1 - Dụng thần Bính tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
2 - Nhật can Đinh vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
3 - Quý đại vận có 1 cát thần có -0,25đh, và Dậu tiểu vận có 2 cát thần có -2.0,13đh.
4 - Ngũ hợp của Ất với Canh hóa Kim (có thần dẫn là Dậu thái tuế) có 0,5đh, nên mỗi can chi Ất và Canh có 0,5đh kỵ vượng. Bán hợp của Tị với Dậu hóa Kim có 0,5đh, Dậu thái tuế hóa Kim có 0,5đh kỵ vượng nhưng Tị trụ ngày là kỵ vượng không có điểm kỵ vượng (vì các chi trong tứ trụ không có điểm hạn kỵ vượng).
5 - Trụ ngày Đinh Tị là Tứ Phế có 1đh (vì trụ ngày có can chi là Hỏa nhưng sinh vào tháng Tý -Thủy). Điều này cho biết đương số tiềm ẩn có những bệnh tật hiểm nghèo (nan y).
6 - Đinh trụ ngày thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên là động mặc dù không khắc được 2 Kim cục có 4 can chi là kỵ vượng (sẽ nói sau), có -1đh can động.
Quý đại vận nhược ở tuế vận khắc Bính và Đinh trong tứ trụ đều có 0đh, có 0đh can động.
7 - Mùi đại vận hình 2 Tuất và hại Tý trong tứ trụ mỗi lực có 1đh.
8 - Lửa đỉnh núi trụ năm có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận nên khắc 3 nạp âm là nước khe trụ tháng, Kim trang sức trụ giờ và gỗ Liễu đại vận có tổng cộng 1đh.
Gỗ Lựu tiểu vận có Tân vượng ở tiểu vận khắc gỗ Liễu đại vận có 1đh.

Với các ví dụ tử vong hay tai họa nặng nhưng thoát chết thì mặc dù đầu tiên ta đều phải kiểm tra lại điểm hạn của các quy tắc đã được sử dụng xem có phải chỉnh sửa hay không, nhưng với bước thứ hai thì ngược với các ví dụ tai họa nặng thoát chết là tìm thêm các quy tắc có thể gây ra điểm hạn sao cho tổng điểm hạn ứng hợp với thực tế đã xẩy ra thì ta phải tìm thêm các quy tắc có thể gây ra các điểm gảm G sao cho tổng diểm hạn là nhỏ nhất mà vẫn có thể gây ra tử vong.

Ở ví dụ này tổng cộng có tới 6,5đh là thừa sức gây ra tử vong. Do vậy đầu tiên ta phải kiểm tra xem các điểm hạn được sử dụng ở đây có phải chỉnh sửa gì hay không ? Sau khi kiểm tra không thấy phải chỉnh sửa thì bước thứ hai ta phải tìm ra các quy tắc có thể gây ra điểm giảm G sao cho tổng điểm hạn này được giảm đi nhưng vẫn có thể gây ra tử vong.


Ta thấy Mùi đại vận hình, hại với 3 chi trong tứ trụ có thể gây ra điểm G.
Nếu đúng vậy thì ta cho :
1 - Mỗi lực có 0,5G thì tổng số có 1,5G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở mức 1/6 còn lại là 6,5.5/6đh = 5,42đh. Số điểm hạn này chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong).
2 - Mỗi lực có 0,75G thì tổng số có 2,25G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở mức 1/5 còn lại là 6,5.4/5đh = 5,2đh. Số điểm hạn này chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong).
3 - Mỗi lực có 0,917G thì tổng số có 2,751G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở trên mức 1/4 một tý còn lại là 6,5.3/4đh = 4,875đh. Số điểm hạn này không thể chấp nhận được (vì nó không đủ sức gây ra tử vong).

Từ đây ta thấy mỗi lực có 0,75G là chính xác và hợp lý nhất.

Mặc dù mỗi lực có thể tới max 0,83G. Vì 3.0,83G = 2,49G nó rất gần tới mức giảm 2,5G là mức giảm trung bình giữa 2 mức 2,25G và 2,75G tương ứng được giảm giữa 2 mức là 1/5 và 1/4 còn lại là 6,5.(4/5 + 3/4).1/2đh = 5,04đh. Số điểm hạn này có thể coi là nhỏ nhất có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức gây ra tử vong).

Từ đây ta đưa ra quy tắc mới :
Chi đại vận có 3 lực hình, hại với các chi trong tứ trụ thì mỗi lực có 0,75G.


Từ ví dụ số 14 ta thấy điểm hạn kỵ vượng có liên quan tới phá tài hay phá sản (tức liên quan tới Tài tinh - tiền, của cải). Còn ở ví dụ số 16 ta thấy điểm hạn hình, hại, tự hình cộng với điểm hạn của xung khắc (tứ hành xung) có liên quan tới tai họa máu me về thân thể nên có thể coi nó chủ về tai nạn giao thông.

Ở ví dụ này tai họa lại do bệnh tật về ung thư phổi gây ra. Vậy thì sai sao ?
Theo sơ đồ trên ta thấy đầu tiên có ngũ hợp của Canh với Ất hóa Kim vì có Dậu lưu niên làm thần dẫn (vì can động trước chi) thì rõ ràng Canh đã hóa theo âm Kim là Dậu (vì Dậu là thần dẫn). Do vậy ta có thể hiểu là Kim cục ở đây này là âm Kim của Tân, Dậu chứ không phải dương Kim của Canh, Thân. Sau đó bán hợp Tị với Dậu mới hóa Kim có thần dẫn là âm Kim cục chứ không phải của Canh trụ giờ. 2 Âm Kim cục có 1đh thêm 3 điểm hạn kỵ vượng của âm Kim cục là 3.0,5đh kỵ vượng thành 2,5đh. Nó chiếm 2,5/6,5 = 39% tổng điểm hạn. Theo bảng can chi ngũ hành đại diện cho Lục Phủ Ngũ Tạng trên ta thấy Dậu đại diện cho Phổi nên bị bệnh ung thư về Phổi do chính điểm hạn của âm Kim cục (của Dậu) này gây ra là hoàn toàn chính xác.


Nếu Ất lưu niên thành can khác thì Canh không hóa được Kim cục thì bán hợp của Tị với Dậu hóa Kim do Canh làm thần dẫn, khi đó nó thành dương Kim cục của Canh. Và nếu tổng điểm hạn của dương Kim cục quá lớn thì bệnh ung thư không xuất hiện ở Phổi mà phải xuất hiện ở Ruột già – đại diện của dương Kim cục (hiểu đơn giản là như vậy).

Ngay đầu năm (tháng Dần và Mão) đã có 2 âm Kim cục này nên chắc chắn bệnh ung thư đã xuất hiện tại Phổi. Dĩ nhiên thường nó cần tới 5 hay 6 tháng để Ủ Bệnh sau đó mới phát tán di căn gây ra tử vong. Điều này cũng phù hợp với tháng Dần và Mão hành Mộc trong tứ trụ là hỷ thần rất vượng còn Kim thì ngược lại ở tử tuyệt nên rất yếu. Do vậy bệnh ung thư Phổi mặc dù đã xuẩt hiện nhưng chỉ có thể ở trạng tái tĩnh (tức Ủ Bệnh). Chỉ đến ngày 7/8 là bắt đầu tháng Giáp Thân thì âm Kim cục mới ở trạng thái Đế Vượng (là vượng nhất) nên ngay hôm sau ngày 8/8 là ngày Giáp Tý bệnh Ung Thư đã phát tán di căn gây ra tử vong, nó không cần đợi đến ngày 12/8 là ngày Mậu Thìn TKĐX với trụ năm Giáp Tuất.


Từ ví dụ này cho ta thấy khi một hành đột nhiên quá vượng nhưng không thể Tòng (hay quá nhược) thì thường tiềm ẩn tai họa lớn do bệnh tật tương ứng với Lục Tạng Ngũ Phủ mà nó đại diện.

Sửa bởi SongHongHa: 24/02/2026 - 09:16


#135 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 484 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 27/02/2026 - 12:19

Quy ước : Tháng 1 của năm dương lịch là tháng 13 của năm trước theo lịch can chi

Ví dụ số 18 :Georg Alzer sinh ngày 4/1/1903 lúc 2,00’ am (?). Anh ta bị mật vụ Đức bắt vào đêm 8/11/1939 tại biên giới Áo sau khi một mình ám sát Adolf Hitler bất thành tại quán bia Burger Broikeler ở Munich, do Adolf Hitler rời đi trước đó 13 phút. (theo Wikipedia).
Sơ đồ diễn tả tai họa của Alzer bị bắt vào đêm 8/11/1939

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Ngày 8/11/1939 lúc 16,48' mới bắt đầu tháng Ất Hợi nên đêm 8/11 (tức qua 16,48') Georg Alzer đã bị bắt là hoàn toàn chính xác. Nhưng tại sao lại phải vào tháng Hợi, mà ngay ngày trước đó 7/11 còn thuộc tháng Giáp Tuất, nó là ngày Mậu Thân TKĐX với năm Nhâm Dần ? Điều này cho biết tháng (của lưu niên) trong một số trường hợp mới là yếu tố tác động mạnh nhất cho tai họa xẩy ra, sau đó mới đến ngày (của lưu niên) TKĐX với trụ năm trong tứ trụ.

Ta thử tìm xem ở đây tại sao tháng Hợi lại đáng sợ đến như vậy ?

Qua sơ đồ trên ta thấy Thủy trong tứ trụ quá vượng là hành kỵ vượng có tới 5 can chi và lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv nhưng không thể Tòng (Thủy). Bởi vì có Sửu là Quan Sát của hành Thủy, mặc dù không khắc được bán cục Thủy trong tứ trụ nhưng vẫn khắc được 3 Nhâm.
Vì Kiêu Ấn ít (chỉ có 1 can chi là Tân) mà Thân (Thủy) có tới 35,48đv lớn hơn Quan Sát trên 30đv nên Quan Sát coi như quá yếu (mặc dù nó vẫn cản được cách Tòng -Thủy), do vậy dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương (Mộc), nó chính là Giáp tàng trong Dần trụ năm, hỷ thần là Tài tinh và Quan Sát còn kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.

Vào ngày 8/8 năm Kỷ Mão (1939) thuộc đại vận Bính Thìn và tiểu vận Mậu Dần (vì chưa qua ngày sinh nhật).
Trong tứ trụ có bán hợp của Tý trụ tháng với Thìn trụ giờ hóa Thủy (vì có Nhâm là thần dẫn) thêm ngũ hợp của Bính đại vận với Tân trụ giờ hóa Thủy (vì có Tý lệnh tháng làm thần dẫn) nên 2 hóa cục này đều là dương Thủy cục, lại còn thêm 3 Nhâm trong tứ trụ cũng là dương Thủy. Do vậy trong tứ trụ toàn là dương Thủy nên vừa vào tháng Hợi của năm Kỷ Mão (1939) thì dương Thủy trong tứ trụ ở trạng thái Lâm quan chưa phải Đế vượng (là mạnh nhất) nhưng nó quá đủ để tác động gây ra tai họa này (không cần đợi tới tháng Tý). Tháng Hợi nó đáng sợ như vậy đấy.
Có tam hội của Dần trụ năm và Dần tiểu vận hợp với Thìn đại vận và Mão lưu niên không hóa (vì không có thần dẫn).

Vì có Tân trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Thủy có 35,48đv được thêm 7,05đv của Tân trụ tháng và 7,33đv của Bính đại vận thành 49,86đv, Kim có 7,05đv bị hóa thành Thủy nên còn 0đv, các hành khác không thay đồi. Vì khi vào tuế vận thì Sửu trụ giờ không còn khắc được 3 Nhâm nhưng vẫn khắc được Thủy cục tại Tân cùng trụ với nó nên vẫn không thể Tòng (Thủy) được (Chú ý : nếu chưa vào tuế vận thì Sửu khắc được 3 Nhâm nhưng không khắc được Thủy cục trong tứ trụ). Do vậy Dụng thần chính vẫn là Giáp tàng trong Dần trụ năm, các hỷ, kỵ thần khác không thay đổi. Thân (Thủy) lớn hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 40đv.
Vì Thủy là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng ở tuế vận. Mộc có 3,33đv được thêm 8,67đv của Mão lưu nên và 8,5đv của Dần tiểu vận thành 20,5đv, Thổ có 1,89đv được thêm 7,33đv của Thìn đại vận thành 9,22đv. Lúc này Thân (Thủy) chỉ lớn hơn Mộc 20đ (gần 30đv) nên điểm hạn kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.

1 - Dụng thần Giáp vượng ở lưu niên Mão có -1đh.
2 - Nhật can Nhâm tử tuyệt tại lưu niên Mão có 1đh (Thân vượng nên Nhật can Nhâm nhập mộ ở Thìn đại vận là tốt, vì làm Thân bớt vượng nên không có 1đh).
3 - Ngũ hợp của Bính với Tân hóa Thủy có 0,5đh. Mỗi can có 2.0,5đh kỵ vượng.
4 - Mậu tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh.
5 - Kỷ lưu niên nhược ở tuế và vận khắc 3 Nhâm trong tứ trụ mỗi lực có 0đh. Mỗi Nhâm được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động.
6 - Thìn đại vận hại Mão lưu niên có 1đh (vì cùng ở trong tam hội không hóa).
7 - Nạp âm Đất trên tường trụ giờ có Tân được lệnh khắc nước Sông trụ ngày có 1đh.
Nạp âm Đất trên Thành lưu niên có Kỷ nhược ở tuế và vận khắc nước Sông trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 3,37đh. Số điểm hạn này quá thấp nên không thể chấp nhận được (vì nó không thể gây ra bất kỳ một tai họa nào cả). Do vậy ở đây ta phải tìm thêm một số điểm hạn nữa. Ta thấy thấy điểm vượng của hành kỵ vượng sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận có 49,86đv trừ đi hỷ dụng 1 là Mộc có 20,5đv còn 29,36đv, chỉ còn thiếu 0,64đv nữa thì Thủy sẽ lớn hơn Mộc gấp 3 lần. Nếu được thêm số điểm vượng này thì điểm hạn kỵ vượng sẽ được tăng 3 lần (tức được thêm 1đh), khi đó tổng số sẽ là 4,37đh. Số điểm này vẫn còn quá thấp không thể chấp nhận được. Như vậy ta chỉ có thể tăng điểm hạn của Thủy cục gấp 3 lần là có vẻ hợp lý nhất, khi đó ta có thêm 1đh thì tổng số có tới 5,37đh lại càng không thể chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong). Do vậy ta đành chỉ có thể tăng gấp 2 lần thì được thêm 0,5đh thành 4,87đh. Số điểm hạn này quá chuẩn vì nó nặng tới mức thừa sống thiếu chết ứng hợp với tai họa của Georg Alzer lúc đó. Bởi vì bọn Gestapo (mật vụ Đức) lúc đó tra tấn anh ta tàn khốc hết mức nhưng không để chết hòng bắt anh ta phải khai ra chỉ huy cùng đồng đội tham gia (thực tế anh ta chỉ hành động một mình).

Từ ví dụ này ta đưa ra 2 quy tắc mới :
1 - Khi điểm vượng của hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 gần 30đv thì sai số cho phép thêm +1đv, còn gần 20đv thì sai số cho phép có thể thêm +0,5đv (?).
2 - Khi điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp ba thì điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.

Ta thấy tứ trụ này Thân quá vượng nhưng không thể Tòng nên đây là mệnh quá xấu, đừng hy vọng giầu sang nên chuyện phá tài hay phá sản là chuyện xa vời, chỉ có tể xẩy ra trong mơ mà thôi. Ở đây nên hiểu một người phải giầu có về tài sản và tiền của thì mới có chuyện phá tài là mất ít, còn phá sản là mất hết còn nợ, chứ không thể là người làm ăn chỉ đủ sống qua ngày không có tiền hay của cải tích trữ.

Vậy không có phá tài hay phá sản mà tai họa ập đến thì tổng điểm hạn sẽ đổ đi đâu đây ?

Trong dân gian có câu “Của đi thay Người” vậy thì khi không có Của đi thay thì Người dĩ nhiên phải đi mà thôi. Điều này đúng hoàn toàn với Georg Alzer, không những anh ta phải vào tù mà hàng ngày còn bị những cuộc tra tấn, hành hạ tàn khốc cả về thể xác lẫn tinh thần, tương ứng tới mức 4,87đh (thoát chết là may).

Sửa bởi SongHongHa: 27/02/2026 - 12:49







Similar Topics Collapse

3 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 3 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |