Jump to content

Advertisements




Binh Pháp Tử Bình về Luận Hành Vận và dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược của VULONG


228 replies to this topic

#196 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 06/03/2022 - 14:33

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

thuongquancach, on 05/03/2022 - 10:53, said:

bác cho em đôi lời về trụ này, công danh tiền tài gia đạo, sức khoẻ. Em cám ơn bác
Nam : Đinh tỵ- Đinh Mùi- Ất sửu- Kỷ mão. (năm tháng ngày giờ)

Tôi đã biếu không cuốn sách còn hướng dẫn mọi người tự học mà lại còn đòi tôi luận cho thì có thấy quá là kỳ cục hay không?

Thôi thì thế này bạn muốn tôi luận cho bạn (ai cũng vậy) thì chỉ còn 1 cách duy nhất là bạn phải tự học để xác định Tứ Trụ của bạn có Thân vượng hay nhược rồi sau đó luận hành vận, khi đó thấy sai tôi sẽ sửa cho.

Sửa bởi SongHongHa: 06/03/2022 - 14:34


Thanked by 1 Member:

#197 thuongquancach

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 457 Bài viết:
  • 184 thanks

Gửi vào 06/03/2022 - 17:13

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 06/03/2022 - 14:33, said:

Tôi đã biếu không cuốn sách còn hướng dẫn mọi người tự học mà lại còn đòi tôi luận cho thì có thấy quá là kỳ cục hay không?

Thôi thì thế này bạn muốn tôi luận cho bạn (ai cũng vậy) thì chỉ còn 1 cách duy nhất là bạn phải tự học để xác định Tứ Trụ của bạn có Thân vượng hay nhược rồi sau đó luận hành vận, khi đó thấy sai tôi sẽ sửa cho.
dạ tứ trụ em rất mê nhưng mà trình độ hạn hẹp nên không thể biết dù em đọc nát sách các loại anh à

#198 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 06/03/2022 - 21:18

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

thuongquancach, on 06/03/2022 - 17:13, said:

dạ tứ trụ em rất mê nhưng mà trình độ hạn hẹp nên không thể biết dù em đọc nát sách các loại anh à

Thực tế đúng là vậy nhưng sách của tôi lại không phải như vậy.

Hãy bắt đầu tự học sách của tôi đi xem có đúng như tôi nói không thì biết ngay thôi mà (nếu không hiểu chỗ nào cứ lên đây tại chủ đề này mà hỏi, tôi sẽ giải đáp ngay tức thì).

Thanked by 1 Member:

#199 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 08/03/2022 - 10:08

Tôi tiếp tục tìm trong 890 ví dụ mẫu trong cuốn Trích Thiên Tủy xem có ví dụ nào phải sử dụng tới trường hợp thứ 6 vừa mới tìm ra bên trên hay không?

Rất may là mới đến ví dụ thứ 197 tôi đã tìm được ví dụ cần tìm.

Sau đây là ví dụ số 197 trong cuốn Trích Thiên Tủy:

“197 - Ất dậu - mậu dần - nhâm ngọ - canh tuất

Ðinh sửu/ bính tý/ ất hợi/ giáp tuất/ quý dậu/ nhâm thân

Nhâm thủy sanh vào lập xuân hai mươi hai ngày, đang lúc giáp mộc chân thần nắm lệnh, mà thiên can thổ kim cũng thấu, địa chia thông căn tuất dậu, tứ trụ này chân thần thất thế, giả thần đắc cục, dụng lấy canh kim hoá sát, đúng phép lấy giả làm chân, đắc thuần tuý. Tuy nhiên hiềm chi toàn hỏa cục. Khắc kim đốt thủy, mừng can hỏa không thấu lộ, lại đắc mậu thổ sanh hóa tuyệt diệu.
Vận trình tây bắc, cho nên sớm đăng vân lộ, nổi danh thiên hạ, làm quan đến chức quan tuần phủ, đức độ tú khí. Tổng quát hiềm hỏa cục là bệnh, quan lộ không tránh gặp thất bại hĩ“.


Trước đây tôi đã xác định được trụ giờ của ví dụ này phải là Tân Hợi (giờ khe) thì mới đúng.

Sau đây là sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược giờ Tân Hợi của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Tác giả cho biết đương số là 1 người sớm đăng khoa phát giáp làm tới chức tướng soái qua câu:

“Vận trình tây bắc, cho nên sớm đăng vân lộ, nổi danh thiên hạ, làm quan đến chức quan tuần phủ“

Ta thấy Tứ Trụ này Thân nhược nên Kim Thủy là hỷ dụng thần còn Mộc Hỏa là kỵ thần nên tác giả chắc mẩm lấy chi đại vận làm trọng là chắc chắn đúng rồi không còn gì phải nghi nghờ?

Vì rõ ràng các chi trong 6 vận đầu tiên đều là Kim Thủy. Cụ thể là Sửu, Tý, Hợi của 3 vận đầu là theo phương bắc là Thủy còn 3 vận sau là Tuất, Dậu và Thân thì rõ ràng là phương Tây là Kim còn gì mà phải tranh cãi?

Đáng tiếc là cái đúng này chỉ đúng theo kiểu: “Chẳng May Chó Ngáp Phải Ruồi“ mà thôi.

Bởi vì nếu lấy Chi làm trọng mà đúng thì cách của đại Sư Lưu Bá Ôn (và của tôi) lấy Can làm trọng phải sai nhưng làm sao sai được cơ chứ?

Ta thử luận theo trường phái lấy Can đại vận làm trọng xem sao?

Vận Bính Tý có Bính là kỵ thần Tử Tuyệt ở vận Tý còn bị Nhâm là hỷ thần đế vượng ở vận Tý khắc cho chết hẳn thì còn đâu ra là vận kỵ thần?
Vận Ất Hợi có Ất là kỵ thần Tử Tuyệt tại Hợi còn bị Tân là dụng thần vượng ở vận Hợi khắc cho chết hẳn thì xấu ở đâu?
Vận Giáp Tuất có Giáp là kỵ thần hưu tù ở vận Tuất còn bị Tân là hỷ thần vượng ở vận khắc (chỉ bằng 50% lực khắc với Ất vì khắc khác dấu) nên Giáp là Thực Thần vào các năm vượng vẫn chế được Mậu là Sát trong Tứ Trụ nên mới trở thành Tướng Soái như vậy. Nếu là giờ Canh Tuất thì làm sao tới được chức quan cao này (bạn đọc tự suy luận)?

Qua các bước luận trên chứng tỏ ví dụ này chắc chắn là có Thân nhược nhưng theo trường hợp thứ 6 mới tìm được bên trên thì với ví dụ này Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân nên Thân đã có 9,01đv nhận thêm 6,15.1/2đv = 3,08đv thành 9,01đv + 3,08đv = 12,09đv.

Ta thấy Thân lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương mỗi hành trên 1đv nên Thân trở thành vượng (theo lý thuyết của VULONG).

Nếu là Thân Vượng thì không ứng hợp với thực tế của đương số.

Từ đây ta chỉ còn một cách cuối cùng là đành phải sửa nội dung trường hợp thứ 6 này từ Nhật can thất lệnh thành…. chỉ đúng khi Nhật can ở trạng thái Suy.

Để mọi người đỡ phải đi tìm 5 trường hợp Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân mà tôi đã công bố, nay tôi đăng lại cả 6 trường hợp này như sau:

1 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Thực Thương mà Nhật can được lệnh.
2 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và ThựcThương còn Nhật can thất lệnh nhưng Thân lớn hơn Tài tinh và Quan Sát, chỉ đúng khi Nhật can không được ở trạng thái Tử và Mộ.
3 – Thân nhược, can trụ tháng hay can trụ giờ là Kiêu Ấn được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
4 – Thân nhược, can trụ năm mang hành sinh cho can trụ tháng, can trụ tháng mang hành sinh cho can trụ ngày với điều kiện 3 can này tạo thành dòng lưu (tức 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp) và can trụ tháng phải ở rạng thái Lâm quan hay Đế vượng, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
5 – Thân nhược, Kiêu Ấn không lớn hơn Tài tinh hay Thực Thương nếu Nhật can được lệnh thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.
6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh nhưng không lớn hơn Thực Thương nếu Nhật can ở trạng thái Suy thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.

Sửa bởi SongHongHa: 08/03/2022 - 10:18


#200 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 09/03/2022 - 01:34

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

SongHongHa, on 08/03/2022 - 10:08, said:

Tôi tiếp tục tìm trong 890 ví dụ mẫu trong cuốn Trích Thiên Tủy xem có ví dụ nào phải sử dụng tới trường hợp thứ 6 vừa mới tìm ra bên trên hay không?

Rất may là mới đến ví dụ thứ 197 tôi đã tìm được ví dụ cần tìm.

Sau đây là ví dụ số 197 trong cuốn Trích Thiên Tủy:

“197 - Ất dậu - mậu dần - nhâm ngọ - canh tuất

Ðinh sửu/ bính tý/ ất hợi/ giáp tuất/ quý dậu/ nhâm thân

Nhâm thủy sanh vào lập xuân hai mươi hai ngày, đang lúc giáp mộc chân thần nắm lệnh, mà thiên can thổ kim cũng thấu, địa chia thông căn tuất dậu, tứ trụ này chân thần thất thế, giả thần đắc cục, dụng lấy canh kim hoá sát, đúng phép lấy giả làm chân, đắc thuần tuý. Tuy nhiên hiềm chi toàn hỏa cục. Khắc kim đốt thủy, mừng can hỏa không thấu lộ, lại đắc mậu thổ sanh hóa tuyệt diệu.
Vận trình tây bắc, cho nên sớm đăng vân lộ, nổi danh thiên hạ, làm quan đến chức quan tuần phủ, đức độ tú khí. Tổng quát hiềm hỏa cục là bệnh, quan lộ không tránh gặp thất bại hĩ“.


Trước đây tôi đã xác định được trụ giờ của ví dụ này phải là Tân Hợi (giờ khe) thì mới đúng.

Sau đây là sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược giờ Tân Hợi của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Tác giả cho biết đương số là 1 người sớm đăng khoa phát giáp làm tới chức tướng soái qua câu:

“Vận trình tây bắc, cho nên sớm đăng vân lộ, nổi danh thiên hạ, làm quan đến chức quan tuần phủ“

Ta thấy Tứ Trụ này Thân nhược nên Kim Thủy là hỷ dụng thần còn Mộc Hỏa là kỵ thần nên tác giả chắc mẩm lấy chi đại vận làm trọng là chắc chắn đúng rồi không còn gì phải nghi nghờ?

Vì rõ ràng các chi trong 6 vận đầu tiên đều là Kim Thủy. Cụ thể là Sửu, Tý, Hợi của 3 vận đầu là theo phương bắc là Thủy còn 3 vận sau là Tuất, Dậu và Thân thì rõ ràng là phương Tây là Kim còn gì mà phải tranh cãi?

Đáng tiếc là cái đúng này chỉ đúng theo kiểu: “Chẳng May Chó Ngáp Phải Ruồi“ mà thôi.

Bởi vì nếu lấy Chi làm trọng mà đúng thì cách của đại Sư Lưu Bá Ôn (và của tôi) lấy Can làm trọng phải sai nhưng làm sao sai được cơ chứ?

Ta thử luận theo trường phái lấy Can đại vận làm trọng xem sao?

Vận Bính Tý có Bính là kỵ thần Tử Tuyệt ở vận Tý còn bị Nhâm là hỷ thần đế vượng ở vận Tý khắc cho chết hẳn thì còn đâu ra là vận kỵ thần?
Vận Ất Hợi có Ất là kỵ thần Tử Tuyệt tại Hợi còn bị Tân là dụng thần vượng ở vận Hợi khắc cho chết hẳn thì xấu ở đâu?
Vận Giáp Tuất có Giáp là kỵ thần hưu tù ở vận Tuất còn bị Tân là hỷ thần vượng ở vận khắc (chỉ bằng 50% lực khắc với Ất vì khắc khác dấu) nên Giáp là Thực Thần vào các năm vượng vẫn chế được Mậu là Sát trong Tứ Trụ nên mới trở thành Tướng Soái như vậy. Nếu là giờ Canh Tuất thì làm sao tới được chức quan cao này (bạn đọc tự suy luận)?

Qua các bước luận trên chứng tỏ ví dụ này chắc chắn là có Thân nhược nhưng theo trường hợp thứ 6 mới tìm được bên trên thì với ví dụ này Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân nên Thân đã có 9,01đv nhận thêm 6,15.1/2đv = 3,08đv thành 9,01đv + 3,08đv = 12,09đv.

Ta thấy Thân lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương mỗi hành trên 1đv nên Thân trở thành vượng (theo lý thuyết của VULONG).

Nếu là Thân Vượng thì không ứng hợp với thực tế của đương số.

Từ đây ta chỉ còn một cách cuối cùng là đành phải sửa nội dung trường hợp thứ 6 này từ Nhật can thất lệnh thành…. chỉ đúng khi Nhật can ở trạng thái Suy.

Để mọi người đỡ phải đi tìm 5 trường hợp Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân mà tôi đã công bố, nay tôi đăng lại cả 6 trường hợp này như sau:

1 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Thực Thương mà Nhật can được lệnh.
2 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và ThựcThương còn Nhật can thất lệnh nhưng Thân lớn hơn Tài tinh và Quan Sát, chỉ đúng khi Nhật can không được ở trạng thái Tử và Mộ.
3 – Thân nhược, can trụ tháng hay can trụ giờ là Kiêu Ấn được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
4 – Thân nhược, can trụ năm mang hành sinh cho can trụ tháng, can trụ tháng mang hành sinh cho can trụ ngày với điều kiện 3 can này tạo thành dòng lưu (tức 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp) và can trụ tháng phải ở rạng thái Lâm quan hay Đế vượng, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
5 – Thân nhược, Kiêu Ấn không lớn hơn Tài tinh hay Thực Thương nếu Nhật can được lệnh thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.
6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh nhưng không lớn hơn Thực Thương nếu Nhật can ở trạng thái Suy thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.


Bài viết trên tôi viết thiếu ở trường hợp thứ 6 về Kiêu Ấn có thể sinh được 50%đv của nó cho Thân qua đoạn sau:

"6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh nhưng không lớn hơn Thực Thương nếu Nhật can ở trạng thái Suy thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương".

Xin sửa lại là:

6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Quan Sát nhưng không lớn hơn Thực Thương nếu Nhật can ở trạng thái Suy thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.

Sửa bởi SongHongHa: 09/03/2022 - 01:35


#201 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 11/03/2022 - 11:14

Tôi xin sửa và đăng lại 6 trường hợp Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân như sau:

1 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Thực Thương mà Nhật can được lệnh.
2 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và ThựcThương còn Nhật can thất lệnh nhưng Thân lớn hơn Tài tinh và Quan Sát, chỉ đúng khi Nhật can không được ở trạng thái Tử và Mộ và Thân phải có can chi Tỷ Kiếp (ví dụ mẫu số 4 : Lão bán đậu hủ) hoặc Nhật can phải nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho (ví dụ số 190/T³ giờ Tân Mão, giờ Đinh Dậu trong sách sai).
3 – Thân nhược, can trụ tháng hay can trụ giờ là Kiêu Ấn được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
4 – Thân nhược, can trụ năm mang hành sinh cho can trụ tháng, can trụ tháng mang hành sinh cho can trụ ngày với điều kiện 3 can này tạo thành dòng lưu (tức 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp) và can trụ tháng phải ở rạng thái Lâm quan hay Đế vượng, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
5 – Thân nhược, Kiêu Ấn không lớn hơn Tài tinh hay Thực Thương nếu Nhật can được lệnh thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.

6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài và Quan Sát nhưng không lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương, điều này chỉ đúng khi Nhật can thất lệnh ở trạng thái Suy (306/T³).

Sửa bởi SongHongHa: 11/03/2022 - 11:16


Thanked by 1 Member:

#202 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 16/03/2022 - 16:29

(Tiếp)

Ví dụ mẫu thứ 16: Dùng Binh pháp Tử Bình về luận hành vận để xác định chính xác điểm vượng của trạng thái TuyệtThai trong bảng “Sinh Vượng Tử Tuyệt“

Sau đây là ví dụ số 127 trong cuốn Trích Thiên Tủy:

“127- Quý dậu - giáp tý - đinh mão - bính ngọ

Quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ ất mùi/ mậu ngọ

Trụ này can chi đều sát sanh ấn, ấn sanh thân, giờ ngọ quy lộc nên nhật chủ vượng; thật vi diệu tứ xung phản ngược thành tứ trợ, kim sanh thủy mà không khắc mộc, thủy gặp mộc không khắc hỏa mà trở lại sanh mộc, trụ này tự nhiên trung hòa sanh hóa vi diệu. Nhật chủ từ nhược biến thành vượng, gặp vận thủy vẫn có thể sanh mộc; gặp vận kim vẫn có thể sanh thủy, ấn thụ không bị thương khắc, cho nên sớm thi đậu hương bảng, làm quan“.


Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược của ví dụ này:


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Theo sơ đồ mô tả trên khi trạng thái Tuyệt có 3,2đv và trạng thái Thai có 4,1đv thì ta thấy mặc dù Kiêu Ấn lớn hơn Tài và Thực Thương nhưng Nhật can thất lệnh và Thân nhỏ hơn Tài và Quan Sát nên so với trường hợp 2 thì Kiêu Ấn trong ví dụ này không sinh được 50% đv của nó cho Thân. Do vậy Thân của Tứ Trụ này là nhược (vì Thân không lớn hơn Quan Sát 1 đv – theo lý thuyết của VULONG).

Thân nhược thì Kiêu Ấn (Mộc) và Tỷ Kiếp (Hỏa) là hỷ dụng thần còn Thổ, Kim và Thủy là kỵ thần.

Nếu Thân nhược thì:

1 - Vận Quý Hợi: Có Quý là kỵ thần đế vượng ở vận Hợi khắc Đinh và Bính là hỷ thần tử tuyệt tại vận Hợi nên Hỏa bị thương tổn nặng thêm Mão là dụng thần hợp với Hợi hóa Mộc nhưng bị trụ năm Quý Dậu thiên khắc địa xung với trụ ngày Đinh Mão phá tan cục còn hợp. Do vậy Binh Đinh đã Tử Tuyệt còn bị tổn thương nặng, Mão thì bị hợp thì làm sao đẹp được nữa. Muốn đẹp thì dĩ nhiên Mộc và Hỏa phải là kỵ thần - tức Thân của Tứ Trụ này phải vượng.

2 – Vân Nhâm Tuất: Nhâm là kỵ thần vượng ở vận Tuất, hợp khắc Đinh hưu tù ở vận Tuất nên Đinh bị thương tổn nặng còn Mão hợp với Tuất hóa Hỏa nhưng bị trụ năm Quý Hợi thiên khắc địa xung với trụ ngày là Đinh Mão phá tan cục còn lại hợp. Do vậy Đinh bị khắc và hợp nên bị thương tổn nặng còn Mão thì bị hợp không hóa nên tương tự như vận Quý Hợi không thể đẹp được trừ khi Mộc và Hỏa phải là kỵ thần - tức Thân của Tứ Trụ này phải vượng.

Chỉ cần luận 2 vận này là quá đủ cho ta kết luận Thân của Tứ Trụ này phải là vượng, điều này sẽ đúng theo câu:

“…gặp vận thủy vẫn có thể sanh mộc; gặp vận kim vẫn có thể sanh thủy, ấn thụ không bị thương khắc, cho nên sớm thi đậu hương bảng, làm quan“.

Nhìn qua ta thấy Thân chỉ nhỏ hơn Quan Sát một ít nên đơn giản ta thấy ngay chỉ cần tăng Hỏa lên một chút để lớn hơn Quan Sát thì Kiêu Ấn sẽ sinh được 50% đv của nó cho Thân, khi đó Thân sẽ vượng là cái chắc (theo trường hợp 2).

Hỏa ở ví dụ này có 2 trạng thái, Tuyệt với can Đinh và Thai với Bính và Ngọ nên muốn tăng điểm vượng trong vùng tâm của Hỏa thì dĩ nhiên phải tăng 2 trạng thái này là được. Kinh nghiệm cùng linh tính đã mách bảo ta rằng nên tăng đồng thời cả 2 trạng thái này hơn là chỉ tăng 1 trong 2 (nếu không sai số sẽ rất cao).

Do vậy ta tăng đồng thời trạng thái Tuyệt từ 3,2đv lên 3,25đv còn trạng thái Thai từ 4,1đv lên 4,15đv thì:

Đinh có 3,25đv được thêm 1,48đv từ can Giáp bên cạnh sinh cho và nhận được thêm 2,38đv từ chi cùng trụ sinh cho thành (3,25 + 1,48 + 2,38) đv = 7,11đv nhưng bị giảm 1/4 do Quý khắc cách 1 ngôi cùng dấu và giảm 1/5 do Tý khắc cách 1 ngôi khác dấu còn 7,11.3/4.4/5đv = 4,266đv.

Bính có 4,15đv bị giảm1/10 do Quý khắc cách 2 ngôi khác dấu và bị giảm 1/9 do Tý khắc cách 2 ngôi cùng dấu còn 4,15.9/10.8/9đv = 3,32đv.

Ngọ có 4,15đv thêm 4,05đv đắc địa Lộc của Đinh tại Ngọ và 0,73đv do Mão bên cạnh sinh cho thành (4,15 + 4,05 + 0,73) đv = 8,93đv nhưng bị giảm 1/4 vì bị Tý khắc cách 1 ngôi cùng dấu và bị giảm 1/20 do Quý khắc cách 3 ngôi khác dấu và bị giảm thêm 2/5 khi vào vùng tâm còn 8,93.3/4.19/20.3/5đv = 3,818đv.

Ta thấy Thân lúc này có (3,818 + 3,32 + 4,266) đv = 11,404 đv là lớn hơn Quan Sát chỉ có 11,4đv nên theo trường hợp 2 thì Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân là 14,38.1/2đv = 7,19đv. Do vậy Thân có 11,404đv được thêm 7,19đv thành 18,59đv.

Như vậy thì Thân đã lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương mỗi hành trên 1đv nên Thân đã trở thành vượng (theo lý thuyết của VULONG).

Theo như cách luận này (lấy can làm trọng) thì dĩ nhiên Thân vượng là đúng vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế của đương số.

Vì số điểm của 2 trạng thái mới này làm cho Thân lớn hơn Quan Sát quá ít nên nếu ta lấy trạng thái Tuyệt là 3,24đv hay trạng thái Thai là 4,14đv thì Thân sẽ nhỏ hơn Quan Sát (bạn đọc tự kiểm tra – tính lại).

Do vậy ta lấy trạng thái Tuyệt min là 3,25đv trạng thái Thai min là 4,15đv.

Sửa bởi SongHongHa: 16/03/2022 - 16:42


Thanked by 1 Member:

#203 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 16/03/2022 - 20:28

"Bảng Sinh Vượng Tử Tuyệt" cùng điểm vượng của các trạng thái của VULONG (tháng 3/2022)

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 1 Member:

#204 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 30/03/2022 - 23:35

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Sửa bởi SongHongHa: 31/03/2022 - 00:00


Thanked by 2 Members:

#205 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 02/04/2022 - 13:27

Ví dụ mẫu thứ 17: Trở thành cao thủ Tử Bình về luận Hành Vận (dễ ợt)

Các bước ngắn nhất có thể đưa các bạn từ một người chưa biết tý gì về Tử Bình có thể trở thành cao thủ Tử Bình về luận Hành Vận như sau:

Các bạn phải đọc chủ đề: “Vulong: Tứ Trụ cho tất cả mọi người“ (cứ gõ lên Google chủ đề này sẽ có ngay), sau đó bạn phải nắm được các khái niệm cơ bản của Tử Bình như sau:

Phần kiến thức cơ bản sơ cấp

1 - Từ đâu mà có các khái niệm 10 thiên can và 12 địa chi (đến giờ mới có VULONG giải thích được chính xác nguồn gốc của chúng)?

2 – Bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý nghĩa là gì?
Can chi của bảng có tuân theo một thứ tự nào không?
Nội dung của các nạp âm bạn chỉ cần hiểu một chút là được, vì từ xưa cho đến nay chưa có một cao thủ nào có thể giải thích có tính thuyết phục về nguồn gốc chúng xuất hiện (ngay cả VULONG đến giờ vẫn còn phải bó tay).

3 – Học thuyết Âm Dương và Ngũ Hành có phải là các Tiên Đề trong môn Từ Bình nói riêng hay trong mệnh lý học Đông Phương nói chung hay không?
Âm Dương và Ngũ Hành có nghĩa như thế nào?
Ngũ Hành có tính chất sinh khắc với nhau ra sao?
Khái niệm Âm Dương và Ngũ Hành này được ứng dụng cho các Can Chi như thế nào?
Đại diện của Ngũ Hành và Can Chi vào các đối tượng trong thế giới tự nhiên của chúng ta ra sao?

4 – Lệnh tháng và các trạng thái trong bảng “Sinh Vượng Tử Tuyệt“ có nghĩa là gì?
Từ Sinh, Vượng, Tử và Tuyệt có nghĩa như thế nào trong thế giới Tự Nhiên của chúng ta?
Các trạng thái trong bảng này có bao hàm ý nghĩa Mạnh hay Yếu hay không?
Nếu chúng bao hàm ý nghĩa Mạnh và Yếu thì có thể xác định sự Mạnh hay Yếu đó qua các con số được hay không (tức dùng Toán Học để mô tả chúng - tới giờ mới có VULONG làm được điều này một cách thuyết phục – không biết có sách gia truyền nào làm được điều này chưa?)?

5 – Tứ Trụ là gì và các trụ của nó được xác định như thế nào?
Tứ Trụ có thể được mô tả bằng hình học (mặt phẳng 2 chiều) hay không, nếu được thì sơ đồ mô tả đó như thế nào?

6 – Đại vận và Tiểu vận có nghĩa gì, cách xác định chúng như thế nào, nam hay nữ có khác nhau hay không?
Cách xác định thời gian bắt đầu của từng Đại vận và Tiểu vận như thế nào?

7 – Nhật can và 10 thần của Tứ Trụ có nghĩa gì?
Sự tương sinh và tương khắc của 10 thần ra sao?

8 – Thiên Địa Nhân có nghĩa như thế nào?
Ngũ hợp là gì, chúng có ý nghĩa gì trong cuộc sống của chúng ta, khi nào chúng có thể hóa được cục và cái gì có thể phá được cục và hợp của chúng?
Lục hợp, bán hợp, tam hợp và tam hội có nghĩa như thế nào trong xã hội của chúng ta, khi nào chúng hóa được cục và cái gì có thể phá được cục hay hợp của chúng?
Tứ hành xung của các địa chi là gì và chúng có ý nghĩa như thế nào?
Tương Hại, tương Hình và tự Hình có ý nghĩa gì, từ đâu mà có?
Thiên khắc địa xung là gì, chúng có tác dụng như thế nào?
Trong các địa chi có tàng các thiên can hay không, chúng có ý nghĩa gì?

9 – Tranh hợp thật có nghĩa là gì, nó có tác dụng như thế nào trong Tứ Trụ?

10 – Các Thần sát trong Tứ Trụ là gì, chúng có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của chúng ta?

(Phần này chắc chỉ mất từ 1 tuần tới 1 tháng là cùng - tùy vào khả năng cũng như thời gian hàng ngày mà các bạn dành cho nó nhiều hay ít).

Phần kiến thức cơ bản trung cấp

1 – Khái niệm Nhật canThân của Tứ Trụ có khác nhau không, ý nghĩa của chúng là gì?
Vùng Tâm là gì, nó được mô tả trên sơ đồ Tứ Trụ như thế nào?

2 – Khả năng khắc ngũ hành với nhau của các can chi trong Tứ Trụ xa gần khác nhau ra sao (tôi vừa đăng bảng khắc ngũ hành trong Tứ Trụ phía trên), khi nào chúng khắc được và khi nào chúng không khắc được?

3 – Can và Chi cùng trụ có thể sinh cho nhau được không, khi nào?
Can sinh cho Can và Chi sinh cho Chi được không, khi nào?

4 – Bảng “Sinh Vượng Tử Tuyệt“ và các trạng thái của nó có ý nghĩa như thế nào trong môn Tử Bình?
Có thể chuyển Định Tính của các trạng thái này (tức chỉ ước lượng đại khái) sang Định Lược (tức có thể cân, đo, đong, đếm chúng) được hay không (tới nay mới chỉ có VULONG làm được điều này – tôi đã đăng bảng đó phía trên)?

5 - Điểm vượng trong vùng tâm có nghĩa như thế nào, chúng được xác định ra sao?

6 – Điểm vượng trong vùng tâm của Kiêu Ấn (tức hành của Kiêu Ấn) có thể sinh được 50% điểm vượng của nó cho Thân (tôi đã đăng các trường hợp này ở bài trên) hay không, khi nào?

7 – Thân vượng hay nhược có ý nghĩa gì trong Tứ Trụ và khi nào nó được coi là Thân vượng hay Thân nhược?

8 – Dụng thần là gì và vị trí của nó được xác định trong Tứ Trụ như thế nào?

9 – Điểm hạn của ngũ hành trong Tứ Trụ được xác định ra sao?

10 – Có mấy loại cách cục đặc biệt (thường gọi là Ngoại cách hay cách Tòng theo)?

(Phần này có thể từ vài tuần tới vài tháng – tùy vào…)

Phần kiến thức cao cấp

1 - Luận hành vận (tức luận từng đại vận không có lưu niên)

Lý thuyết (hay Binh Pháp) này được phát biểu như sau (chưa có trong cuốn Giải Mã Tứ Trụ):

Phương pháp luận hành vận của VULONG là theo đại sư Lưu Bá Ôn, tức lấy Can đại vận làm trọng nhưng VULONG không bỏ qua Chi đại vận mà coi Chi đại vận đóng vai trò giống như chi tháng trong Tứ Trụ (được coi là Lệnh Tháng). Tức coi chi đại vận là Lệnh Đại Vận để xác định vượng suy của tất cả các can chi trong Tứ Trụ và cả can chi của đại vận tại đại vận đó. Tất nhiên nếu chi đại vận hợp với chi trong Tứ Trụ hóa cục là hỷ dụng thần thì tốt còn hóa cục là kỵ thần thì xấu nhưng Lệnh Đại Vận vẫn không thay đổi.

Đây là Kim Chỉ Nam cho tất cả những ai muốn nghiên cứu Tử Bình.

Để hiểu và nắm được nội dung Binh Pháp (hay bí kíp) này thì các bạn chỉ cần mất vài phút mà thôi. Điều đáng ngại là các bạn có dám áp dụng nó vào luận Hành Vận của các ví dụ trong thực tế hay không?

Chính vì vậy mà tôi đã phải mở chủ đề này, đến nay hầu như vẫn chưa thấy ai tham gia luận thì phải?

2 - Luận tuế vận (tức luận tại 1 năm bất kỳ của 1 đại vận nào đó)
(Đây mới thực sự là chương trình cao cấp của Tử Bình.)

(Phần này các bạn có thể phải nghiên cứu mất ít nhất vài ba tháng trở đi - vì phải sử dụng tất cả các kiến thức cơ bản về Tử Bình vừa đưa ra ở trên để phân tích tổng hợp toàn bộ các can chi, nạp âm của Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận với nhau…)

(Có gì không hiểu hay thắc mắc các bạn cứ trích dẫn bài viết này lên và hỏi tại câu mà các bạn cần hỏi đó, tôi sẽ trả lời ngay.)

Sửa bởi SongHongHa: 02/04/2022 - 13:57


#206 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 09/04/2022 - 10:46

Ví dụ mẫu số 18: Trường hợp thứ 7 - Kiêu Ấn sinh được 50% điểm vượng của nó cho Thân

Sau đây là ví dụ số 397 trong cuốn Trích Thiên Tủy:

“397 - Giáp Dần - Bính Tý - Kỷ Dậu - Kỷ Tị

Đinh Sửu/ Mậu Dần/ Kỷ Mão/ Canh Thìn/ Tân Tị/ Nhâm Ngọ

Nhật nguyên Kỷ Dậu, sinh vào giữa mùa đông, Giáp Dần Quan tinh tọa lộc, Tý thủy Tài tinh nắm lệnh, là Tài vượng sinh Quan, giờ gặp Ấn thụ, trụ này gọi là Quân Thần đều thịnh. Càng đẹp là can tháng thấu một Bính hỏa, là Hàn thổ hướng dương, chuyển sinh nhật chủ, ơn Quân trọng vậy. Sớm đăng khoa Giáp, danh cao Hàng Uyển. Là do tọa dưới Dậu kim, được chi giờ Tị củng, hỏa sinh, kim bảo vệ, thủy dưỡng, mà lực lượng nhật chủ, đủ để khắc Tài, là do cùng là Quan trọng Tài, mà quên ơn vua vậy“.


Qua bài luận trên ta thấy có câu: Sớm đăng khoa Giáp, danh cao Hàn Uyển“ thì dĩ nhiên nó ứng hợp với vận Mậu Dần và Kỷ Mão là cái chắc (vì vận đầu Đinh Sửu còn quá nhỏ, ta có thể bỏ qua).

Ta thấy Giáp trong Tứ Trụ cường vượng ở vận Dần và Mão này dĩ nhiên khắc Mậu và Kỷ chết hẳn mà 2 vận này cực đẹp thì hiển nhiên Mậu và Kỷ là Tỷ Kiếp phải là kỵ thần.

Từ đây suy ra Thân của Tứ Trụ này phải là vượng.

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược hay nhược của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Qua sơ đồ tính toán trên ta thấy Thân nhược và không rơi vào trường hợp nào Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân. Vì vậy để giải quyết ví dụ này thì KHÔNG CÒN CÁCH NÀO KHÁC ta lại phải đưa ra 1 trường hợp mới làm sao Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân.

Trường hợp thứ 7 - Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân như sau:

Thân nhược, Nhật can thất lệnh không ở trạng thái Tử và Mộ mà Kiêu Ấn nhỏ hơn Tài và Quan Sát nhưng lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương.

Ta thấy nội dung trường hợp thứ 7 này có phần ngược với nội dung trường hợp thứ 6 đã phát biểu ở trên.

1 - Như trường hợp 6 thì Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Quan Sát nhưng không lớn hơn Thực Thương còn trường hợp 7 thì lại hoàn toàn ngược lại.

2 - Trường hợp 6 thì Nhật can thất lệnh chỉ đúng duy nhất khi nó ở trạng thái Suy còn trường hợp 7 thì Nhật can thất lệnh chỉ không đúng khi nó ở trạng thái Tử và Mộ.

3 - Cái giống nhau trong 2 trường hợp này là Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.

Nếu muốn áp dụng trường hợp 7 này vào ví dụ trên thì ta chỉ còn cách làm sao nâng điểm vượng của Thân lên lớn hơn điểm vượng của Quan Sát là được.

Ta thấy Thân chỉ nhỏ hơn Quan Sát 1/1000 đv nên ta chỉ cần nâng trạng thái Tuyệt từ 3,25đv lên 3,251đv xem sao?
Kỷ trụ ngày có 3,251đv bị Giáp trụ năm khắc khác dấu cách 1 ngôi giảm 1/5 và bị Dần trụ năm khắc khác dấu cách 2 ngôi giảm 1/10 còn 3,251.4/5.9/10đv = 2,3407đv.
Kỷ trụ giờ có 3,251đv bị Giáp trụ năm khắc khác dấu cách 2 ngôi giảm 1/10 và bị Dần trụ năm khắc khác dấu cách 3 ngôi giảm 1/20 còn 3,251.9/10.19/20đv = 2,7796đv.

Vậy Thân lúc này có (2,3407 + 2,7796 + 2,58 (điểm đắc địa của Nhật can Kỷ ở chi Tị))đv = 7,7003đv.

Ta thấy Thân có 7,7003đv là lớn hơn điểm vượng của Quan Sát chỉ có 7,7đv nên ta có thể áp dụng trường hợp thứ 7 vừa mới đưa ra ở trên thì Kiêu Ấn có thể sinh được 50%đv của cho Thân là 4,03.1/2đv = 2,015đv nên Thân lúc này có (7,7003 + 2,015) đv = 9,7153đv.

Ta thấy Thân lớn hơn Quan Sát, Tài và Thực Thương mỗi hành trên 1đv nên Thân được coi là vượng (theo lý thuyết của VULONG).


Với ví dụ này đã chứng minh được trạng thái Tuyệt min là 3,251đv, để đơn giản ta vẫn lấy tròn là 3,25đv.


7 trường hợp Kiêu Ấn sinh được 50% đv của nó cho Thân

1 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Thực Thương mà Nhật can được lệnh.
2 - Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và ThựcThương còn Nhật can thất lệnh nhưng Thân lớn hơn Tài tinh và Quan Sát, chỉ đúng khi Nhật can không được ở trạng thái Tử và Mộ (ví dụ số 253/T³) và Thân phải có can chi Tỷ Kiếp (ví dụ mẫu số 4 : Lão bán đậu hủ) hoặc Nhật can phải nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho (ví dụ số 190/T³ giờ Tân Mão, giờ Đinh Dậu trong sách sai).
3 – Thân nhược, can trụ tháng hay can trụ giờ là Kiêu Ấn được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
4 – Thân nhược, can trụ năm mang hành sinh cho can trụ tháng, can trụ tháng mang hành sinh cho can trụ ngày với điều kiện 3 can này tạo thành dòng lưu (tức 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp) và can trụ tháng phải ở rạng thái Lâm quan hay Đế vượng, chỉ đúng khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ.
5 – Thân nhược, Kiêu Ấn không lớn hơn Tài tinh hay Thực Thương nếu Nhật can được lệnh thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.
6 – Thân nhược, Kiêu Ấn lớn hơn Tài và Quan Sát nhưng không lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương,
điều này chỉ đúng khi Nhật can thất lệnh ở trạng thái Suy(306/T³).


7 -Thân nhược, Nhật can thất lệnh không ở trạng thái Tử và Mộ mà Kiêu Ấn nhỏ hơn Tài và Quan Sát nhưng lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương (397/T³).

Sửa bởi SongHongHa: 09/04/2022 - 11:12


#207 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 16/04/2022 - 14:50

Ví dụ mẫu thứ 19: Xác định chính xác điểm vượng của trạng thái Tử và Mộ trong bảng “Sinh Vượng Tử Tuyệt“ của VULONG

Sau đây là ví dụ số 241 trong cuốn Trích Thiên Tủy:

“241 - Ất Mão - Đinh Hợi - Mậu Ngọ - Bính Thìn

Bính Tuất/Ất Dậu/ Giáp Thân/Quý Mùi/Nhâm Ngọ/Tân tị

Mậu thổ sinh vào đầu mùa đông, Tài tinh lâm vượng, Quan Ấn song thanh tọa lộc, nhật nguyên lâm vượng phùng sinh, có thể thấy tứ trụ là thuần túy, một đường sinh hóa hữu tình, hỉ dụng đều có tinh thần, cho nên hành vận không phá cục,
xuất thân nhà làm quan, liền bước lên khoa giáp, chữ nghĩa đều nhân từ, là mệnh tạo phú quý phúc thọ vậy
.

Qua bài luận trên cho ta biết người này xuất thân trong nhà Quan và đỗ đạt qua thi cử mà được làm Quan qua câu “xuất thân nhà làm quan, liền bước lên khoa giáp và là mệnh cả đời “phú quý phúc thọ. Cho nên từ vận đầu tiên là:

Bính Tuất ta thấy can chi là Hỏa (Bính) và Thổ (Tuất) là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp không bị thương tổn (tức không có Nhâm, Quý trong Tứ Trụ khắc) nên Thân của Tứ Trụ này phải là nhược thì Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp mới là hỷ, dụng thần (lực xung của Thìn với Tuất bằng lực hợp của Ngọ với Tuất nên tổ hợp này bị phá cả cục và hợp - tức lực hợp phải lớn hơn lực xung thì tổ hợp mới không bị phá).

Tiếp là vận Ất Dậu và Giáp Thân. Khi Thân nhược thì Giáp và Ất là Quan Sát phải là kỵ thần mà đẹp thì dĩ nhiên nó phải bị Canh và Tân là Thực Thương trong Tứ Trụ khắc hay hợp. Từ đây suy ra Tứ Trụ này Thân phải nhược và giờ sinh phải là Canh Thân hay Tân Dậu.

Giờ Tân Dậu bị loại vì Thân nhược do có Mộc cục của Mão với Hợi. Do vậy nếu trụ giờ Tân Dậu thiên khắc địa xung với trụ năm Ất Mão sẽ phá tan Mộc cục thì Thân chắc chắn vượng là sai.

Đây là ví dụ mà trước đây tôi đã xác định được trạng thái Tử và Mộ có 2,95đv. Trước đó tôi đã xác định được trạng thái Tuyệt có 3,2đv (lúc đầu dự kiến là 3đv) và trạng thái Thai có 4,1đv (lúc đầu dự kiến là 4đv) trong khi trạng thái Tử và Mộ vẫn là 3đv (như lúc đầu dự kiến).

Đáng nhẽ lúc đó tôi giữ nguyên trạng thái Tử mà tăng đồng đều trạng thái Tuyệt và Thai thêm 0,05đv thì bây gờ chắc không phải mất thì giờ để viết bài này nữa.

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược với giờ Canh Thân của VULONG theo các điểm vượng như trên (Tử có 3đv, Tuyệt có 3,2đv và Thai có 4,1đv):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ tính toán trên ta thấy Thân có 9,055đv nhỏ hơn Quan Sát có 9,12đv nên Thân là nhược (vì nó không rơi vào trường hợp nào mà Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân cả).

Do vậy giờ sinh ta đã xác định được là chính xácCanh Thân - vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế cuộc đời của đương số mà tác giả cho biết (mọi người tự luận hành vận của Tứ Tụ này xem có đúng như vậy không?).

Nhưng tôi đã không dừng lại ở đây mà đã tận dụng ví dụ này để xác định chính xác điểm vượng của các trạng thái trong bảng “Sinh Vượng Tử Tuyệt“.

Lúc đó theo kinh nghiệm và linh cảm, tôi đã nghĩ rằng điểm vượng của trạng thái Tuyệt và Thai tôi giữ nguyên vì thấy chúng quá là hợp lý nên chỉ cần chú ý tới trạng thái Tử mà thôi (đây thật là 1 sai lầm tai hại).

Chính vì vậy tôi chỉ thay đổi điểm vượng của trạng thái Tử xem giảm đến khi nào Thân vẫn còn nhược (tức điểm vượng của Thân vẫn không lớn hơn điểm vượng của Quan Sát – nếu không khi Thân lớn hơn Quan Sát thì Kiêu Ấn sẽ sinh được 50%đv của nó cho Thân - rơi vào trường hợp 2 - Thân sẽ thành vượng là sai).

Thực hành Binh Pháp dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược của VULONG

(Chú ý: Tôi bắt đầu giới thiệu các bước phải làm cũng như cách tính đã được thực hiện trong sơ đồ trên - dành cho những người mới Nhập Môn – các ví dụ sau tôi chỉ giải mẫu các phép tính chưa giới thiệu còn các phép tính đã giới thiệu tôi sẽ không nhắc lại nữa):

1 - Đầu tiên ta phải mô tả Tứ Trụ bằng sơ đồ hình chữ nhật như trên.
2 – Ta thấy có bán hợp của Mão với Hợi ngay cạnh hóa Mộc thành công (vì có Ất là thần dẫn) - ta phải khoanh Mão và Hợi bằng các vòng tròn nhỏ và nối chúng bằng 3 đoạn như trên hình vẽ mô tả.
3 – Ta thấy Thân trụ giờ bị Ngọ trụ ngày khắc gần nên ta phải khoanh tròn Thân bằng vòng tròn nhỏ để ghi nhớ Thân không còn khả năng sinh hay khắc cũng như không thể nhận được sự sinh từ các can chi khác (hiểu đơn giản là chi Thân đã bị “Khử- không còn tác dụng gì nữa).
4 – Ta thấy có dòng lưu chẩy từ Ất tới Đinh rồi tới Mậu và kết thúc ở Canh.
Có dòng lưu chẩy từ Hợi (vì nó đã hóa Mộc) tới Đinh rồi tới Mậu và cũng kết thúc ở Canh.
Có dòng lưu chẩy từ Ngọ tới Mậu và cũng kết thúc tại Canh.
5 – Hợi đã hóa Mộc lại có Mão gần cũng là Mộc nên Hợi sinh được 1/3đv của nó cho Đinh cùng trụ là 10.1/3đv = 3,33đv.
Ngọ có Hợi bên cạnh đã hóa Mộc mang hành sinh cho nó nên Ngọ sinh được 1/2đv của nó cho Mậu là 3,2.1/2đv = 1,6đv.
Đinh có Mão gần mang hành sinh cho nó nên Đinh có thể sinh được 1/6,5đv của nó cho Mậu (vì 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp).
Mậu có Đinh gần mang hành sinh cho nó nên Mậu cũng có thể sinh được 1/6,5đv của nó cho Canh (vì 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp).
6 - Ất trụ năm có 3đv bị Canh trụ giờ khắc khác dấu cách 2 ngôi giảm 1/10 và vào vùng tâm giảm thêm 2/5 còn 3.9/10.3/5đv = 1,62đv.
7 – Đinh trụ tháng có 4,1đv được nhân thêm 3,33đv của Hợi cùng trụ sinh cho thành 4,1đv + 3,33đv = 7,43đv.
8 – Mậu trụ ngày có 3,2đv nhận được 1/6,5đv của Đinh gần sinh cho là 7,43.1/6,5đv = 1,144đv và nhận được thêm 1,6đv của Ngọ cùng trụ sinh cho thành 3,2đv + 1,144đv + 1,6đv = 5,944đv nhưng bị Ất khắc khác dấu cách 1 ngôi giảm 1/5 còn 5,944.4/5đv = 4,755đv.
9 – Canh trụ giờ có 3,2đv nhận được 1/6,5đv của Mậu gần sinh cho thành 3,2đv + 4,755.1/6,5đv = 3,9315 đv nhưng bị Đinh khắc khác dấu cách 1 ngôi giảm 1/5 và Ngọ khắc cùng dấu cách 1 ngôi giảm 1/4 còn 3,9315.4/5.3/4đv = 2,359đv.
10 – Thân trụ giờ có 3,2đv bị Ngọ trụ ngày khắc cùng dấu gần giảm 5/12 và bị Đinh trụ tháng khắc khác dấu cách 2 ngôi giảm 1/10 và vào vùng tâm giảm thêm 2/5 còn 3,2.7/12.9/10.3/5đv = 1,01đv.
11 – Ngọ trụ ngày có 3,2đv và có 4,3đv đắc địa của Nhật can tại chi Ngọ.
12 – Hợi trụ tháng có 10đv khi vào vùng tâm giảm 2/5 còn 10.3/5đv = 6đv.
13 – Mão trụ năm có 3đv khi vào vùng tâm giảm 1/2 còn 3.1/2đv = 1,5đv.

Cộng tất cả điểm vượng trong vùng tâm của từng hành ta sẽ có kết quả như trên sơ đồ đã mô tả.

Khi trạng thái Tử có 3đv thì theo như cách tính tôi đã giới thiệu trên Mộc có 9,12đv là lớn hơn Thân chỉ có 9,055đv nên Thân nhược là đúng.
Khi trạng thái Tử có 2,94đv thì Mộc có 9,0576đv vẫn lớn hơn Thân chỉ có 9,055đv nên Thân vẫn nhược là đúng.
Khi trạng thái Tử có 2,93đv thì Mộc có 9,0472đv, ta thấy Mộc nhỏ hơn Thân (có 9,055đv) nên Thân sẽ thành vượng là không thể chấp nhận được (vì khi đó theo trường hợp 2 thì Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân nên Thân trở thành vượng là sai).

Từ đây ta kết luận trạng thái Tử min là 2,94đv, để đơn giản ta lấy tròn là 2,95đv.

Bây giờ ta giữ nguyên điểm vượng của trạng thái Tuyệt có 3,251đv và trạng thái Thai có 4,15đv (vì ta đã xác định chính xác được chúng ở các ví dụ trên) mà thử tính điểm vượng của trạng thái Tử có 3đv (theo như dự tính lúc đầu) và 3,01đv xem sao?

(Hay nói một cách khác là ta làm ngược lại cách trước đây, tức là bây giờ ta giữ nguyên điểm vượng của trạng thái Tử là 3đv còn tăng đồng đều trạng thái Tuyệt và Thai thêm 0,05đv.)

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua kết quả tính toán trong sơ đồ trên ta thấy khi trạng thái Tử từ 3,01đv trở lên thì Thân mới nhỏ hơn Quan Sát, khi đó theo trường hợp 2 thì Kiêu Ấn không sinh được 50%đv của nó cho Thân nên Thân mới nhược.

Từ đây ta có kết quả là trạng thái Tử min là 3,01đv.

Để đơn giản ta lấy trạng thái Tử và Mộ là 3đv (vì thời gian của 2 trạng thái này quá gần nhau - chỉ cách nhau vài ngày hay vài tuần so với các trạng thai khác tới vài năm - nên có thể coi chúng là một).

(Qua ví dụ này tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng nhiều lúc kinh nghiệm và linh cảm vẫn đưa ta tới chọn con đường sai là vậy.)

Sửa bởi SongHongHa: 16/04/2022 - 15:17


#208 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 20/04/2022 - 20:14

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Sửa bởi SongHongHa: 20/04/2022 - 20:33


#209 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 23/04/2022 - 19:56

Ví dụ mẫu thứ 20: Phát biểu lại trường hợp 5 - Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân

Sau đây là ví dụ số 444 trong cuốn Trích Thiên Tủy (trong sách ghi sai là 455):

“455 - Đinh Hợi - Tân Hợi - Tân Mùi – Mậu Thìn (Sai - vì ngày Tân chỉ có giờ Nhâm Thìn)

Canh Tuất/ Kỷ Dậu/ Mậu Thân/ Đinh Mùi/ Bính Ngọ/ Ất Tị

Tân kim sinh ở đầu mùa đông
, Đinh hỏa khắc khử Tỉ kiên, nhật chủ cô lập không có trợ giúp, Thương quan thấu mà nắm lệnh, thiết khử nguyên thần mệnh chủ, dụng thần ở thổ không ở hỏa vậy. Mùi là căn khố của mộc, Thìn là dư khí của mộc, đều tàng kỵ Ất mộc; năm tháng có 2 Hợi, là là đất mộc sinh, Hợi Mùi củng mộc, kỵ thần này nhập ngũ tạng quy về lục phủ. Như vậy luận, nói tỳ hư thận tiết, bệnh hoạn đầu hoa di tiết, lại thêm nặng ở dạ dày cổ tay đau nhức, không có ngày nào yên. Đến vận Kỷ Dậu, nhật chủ phùng lộc, vào tràng nhập học có con, vận Mậu khắc khử Nhâm thủy được ăn lương thực; vận Thân Nhâm không phùng sinh, thế bệnh càng nặng, vận Đinh nhật chủ thụ thương mà chết.


Qua đoạn: Đến vận Kỷ Dậu, nhật chủ phùng lộc, vào tràng nhập học có con, vận Mậu khắc khử Nhâm thủy được ăn lương thực…. vận Đinh nhật chủ thụ thương mà chết, ta thấy vận Kỷ Dậu và Mậu Thân có can chi là Thổ và Kim chính là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp mà đẹp thì Thân của Tứ Trụ này phải nhược, nhất là thêm vận Đinh quá xấu (chết) mà Đinh là Quan Sát lại là kỵ thần nên Tứ Trụ này Thân nhược là chính xác.

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


(Ví dụ này còn đơn giản hơn ví dụ trước vì không có tổ hợp và các dòng lưu nên không có phép tinh mới nào cần phải giới thiệu cả.)

Ta thấy qua sơ đồ tính toán trên Thân lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương mỗi hành trên 1đv nên Thân của Tứ Trụ này là vượng (theo lý huyết của VULONG). Thân vượng là sai vì 3 vận đầu can chi đều là Thổ và Kim đều là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp mà đẹp thì chúng không thể là kỵ thần được.

Từ đây suy ra giờ Nhâm Thìn là sai.

Vậy mà Nhâm Thiết Tiều lại không thể phát hiện ra điều này, thật là một chuyện lạ có thật. Chính vì Nhâm Thiết Tiều xác định Tứ Trụ này có Thân nhược nên ông ta phải Đẽo, Gọt là lờ đi Hợi trụ năm khắc trực tiếp Đinh cùng trụ nên Đinh thành vô dụng không thể khắc 2 Tân trở thành Đinh khắc được 2 Tân nên Thân mới nhược. Bằng chứng qua câu: Đinh hỏa khắc khử Tỉ kiên (là 2 Tân- Tỉ), nhật chủ cô lập không có trợ giúp. Tức 2 Tân bị khắc không có trợ giúp nên Thân nhược. Ở đây tác giả còn lờ đi Thân có tới 2 Kiêu Ấn là Mùi và Thìn có thể sinh phù cho Thân (Kim).

Không phải chỉ có 1 ví dụ này mà trong 490 ví dụ mẫu trong cuốn Trích Thiên Tủy tác giả phải sử dụng chiêu “Đẽo, Gọt” này quá nhiều, có thể ví như chúng ta ăn cơm hàng ngày.

Vậy thì giờ nào trong các giờ của ngày Tân mà Thân có thể nhược?

Ta thấy giờ Nhâm Thìn, Thân vượng là do 3 Nhâm mặc dù nắm lệnh nhưng bị tới 2 chi Thổ khắc cho lên bờ xuống ruộng (khắc gần và trực tiếp) nên Thân vượng hơn Thủy tới trên 5đv. Vì vậy muốn Thân nhược thì trụ giờ phải có can chi là Thủy và dĩ nhiên không được có can chi Thổ.

Như vậy thì ngày Tân chỉ có có giờ Quý Tị là thỏa mãn điều kiện này còn giờ Mậu Tý và Kỷ Hợi bị loại bỏ vì nó không khác gì giờ Nhâm Thìn. Nếu giờ Quý Tị mà Thân không nhược thì ví dụ này ta đành phải bó tay mà thôi – cũng có nghĩa lý thuyết của tôi không hoàn thiện.

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược giờ Quý Tị của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Qua sơ đồ tính toán trên ta thấy nếu Kiêu Ấn không sinh được 50%đv của nó cho Thân thì Thân là nhược vì nó không lớn hơn Thủy 1đv. Nhưng đáng tiếc rằng nó lại rơi vào trường hợp thứ 5: Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân là:

5 – Thân nhược, khi Nhật can được lệnh mà Kiêu Ấn không lớn hơn Tài tinh hay Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương.

Nếu sử dụng trường hợp 5 này thì Thân vượng (vì Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân) là sai nên ta chỉ còn cách cuối cùng là phải sửa lại nội dung trường hợp 5 cho phù hợp với ví dụ này mà thôi.

Do vậy trường hợp 5 phải sửa lại là:

“5 - Thân nhược, khi Nhật can được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho mà Kiêu Ấn nhỏ hơn Tài tinh và Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương (444*/T³ giờ Quý Tị (thuộc giờ khe) vì giờ Nhâm Thìn trong sách sai - dấu * không sinh được vì Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh)”.

Nếu sử dụng câu 5 này thì Kiêu Ấn không sinh được 50%đv của nó cho Thân (vì Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh) nên Thân nhược là đúng.

7 trường hợp Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân được sửa và phát biểu lại như sau:

1 - Thân nhược, khi Nhật can được lệnh thì Kiêu Ấn phải lớn hơn Tài tinh và Thực Thương.

2 - Thân nhược, khi Nhật can thất lệnh, không ở trạng thái Tử và Mộ mà Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh và Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài tinh và Quan Sát, điều này chỉ đúng khi Thân phải có can chi Tỷ Kiếp (ví dụ mẫu số 4 : Lão bán đậu hủ) hoặc Nhật can phải nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho (ví dụ số 190/T³ giờ Tân Mão, vì giờ Đinh Dậu trong sách sai).
3 – Thân nhược, khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ mà can trụ tháng hay can trụ giờ là Kiêu Ấn được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho.
4 – Thân nhược, khi Nhật can không ở trạng thái Tử và Mộ mà can trụ năm mang hành sinh cho can trụ tháng, can trụ tháng mang hành sinh cho can trụ ngày với điều kiện 3 can này tạo thành dòng lưu (tức 3 can này không bị khắc gần, trực tiếp hay bị hợp) và can trụ tháng phải ở trạng thái Lâm quan hay Đế vượng.


5 – Thân nhược, khi Nhật can được lệnh còn nhận được điểm vượng từ chi cùng trụ sinh cho mà Kiêu Ấn nhỏ hơn Tài tinh và Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương (444*/T³ giờ Quý Tị (thuộc giờ khe) vì giờ Nhâm Thìn trong sách sai - dấu * không sinh được vì Kiêu Ấn lớn hơn Tài tinh).

6 – Thân nhược khi Nhật can thất lệnh ở trạng thái Suy mà Kiêu Ấn lớn hơn Tài và Quan Sát nhưng không lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài tinh, Quan Sát và Thực Thương (306/T³).
7 -Thân nhược khi Nhật can thất lệnh không ở trạng thái Tử và Mộ mà Kiêu Ấn nhỏ hơn Tài và Quan Sát nhưng lớn hơn Thực Thương thì Thân phải lớn hơn Tài, Quan Sát và Thực Thương (397/T³).

Sửa bởi SongHongHa: 23/04/2022 - 20:15


#210 SongHongHa

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 497 Bài viết:
  • 116 thanks

Gửi vào 02/05/2022 - 06:04

(Tiếp)

Sau đây tôi giới thiệu qua Binh Pháp Tử Bình Xác Định Tai Họa Năng Hay Nhẹcho những bạn đã qua phần Nhập Môn:

Sơ đồ dùng Toán Học để xác định tai họa nặng hay nhẹ của ví dụ 444 trong cuốn Trích Thiên Tủy (giờ Quý Tị) tại năm Mậu Ngọ (31 tuổi) của VULONG:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


II - Luận Hành Vận:

Đầu tiên ta phải xác định được Tứ Trụ này có Thân nhược mà Thực Thương là kỵ 1 (hành kỵ thần có điểm vượng trong vùng tâm lớn nhất so với các hành kỵ thần) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn là Kỷ tàng trong Mùi trụ ngày (vì Kỷ vượng hơn Mậu). Hỷ thần là Tỷ Kiếp còn kỵ thần là Thực Thương, Tài tinh và Quan Sát, trong đó Tài tinh là hung thần (vì nó khắc dụng thần Thổ) - phần này thuộc phần “I - Dùng Toán Học để xác định Thân vượng hay nhược và dụng thần.

Ta thấy 3 vận đầu là Canh Tuất, Kỷ Dậu và Mậu Thân có can chi đều là hỷ dụng thần nên phải đẹp nhiều hơn xấu, trong đó vận Kỷ Dậu là đẹp nhất vì Kỷ vượng ở vận và khử được Quý là kỵ thần trong Tứ Trụ.

Vận Đinh Mùi là vận kỵ thần nên xấu nhiều hơn tốt (Đinh là kỵ thần còn vượng ở tuế và vận), nguy ở chỗ trong Tứ Trụ có Tị và Mùi nên rất sợ gặp các năm Ngọ (Mậu Ngọ 31 tuổi hay năm Canh Ngọ 43 tuổi). Bởi vì các năm đó có tam hội Tị Ngọ Mùi hóa Hỏa thành công lại còn thêm 2 Đinh vượng ở năm Ngọ sẽ hội tụ khắc 2 Tân, khi đó tính mạng có thể bị đe dọa?

Vậy thì có cách nào dự đoán được tai họa vào các năm Ngọ này hay không?

Trả lời là có nếu sử dụng Binh Pháp của VULONG.

Sơ đồ trên ứng dụng Binh Pháp Tử Bình dùng Toán Học để xác định tại họa nặng hay nhẹ của VULONG (có trong cuốn Giải Mã Tứ Trụ) tại năm Mậu Ngọ (năm Canh Ngọ tính toán tương tự nhưng tính mạng không bị đe dọa bởi vì tổng số điểm hạn thấp mà tổng điểm giảm G lại cao).

Nếu như năm Mậu Ngọ không thuộc đại vận Đinh Mùi thì tai họa xẩy ra vào năm nào, xin các bạn tìm giúp tôi.

III – Xác định tai họa nặng hay nhẹ

Tôi xác định theo Binh Pháp này qua 13 bước quan trọng và đáp án của chúng (chủ yếu cho ví dụ này) như sau:
(Chúy ý: Các phần tô đậm trong đáp án là lý thuyết quan trọng)

1 – Xác định can chi năm cần dự đoán cũng như đại vận và 2 tiểu vận của nó
Năm Mậu Ngọ (31 tuổi) thuộc đại vận Đinh Tị, có 2 tiểu vận là Nhâm Tuất và Tân Dậu (tại ngày, giờ của ngày sinh nhật của đương số tại năm đó chính là lúc chuyển đổi 2 tiểu vận này).

2 – Xác định các tổ hợp cũng như các thiên khắc địa xung cùng các tứ hành xung giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận (xem các tổ hợp và thiên khắc địa xung nào còn và tổ hợp nào hóa cục?)
Ta thấy giữa Tứ Trụ với tuế vận xuất hiện tam hội Tị Ngọ Mùi có 4 chi hóa Hỏa thành công (vì có Đinh là thần dẫn). Khi đó Quý ở trụ giờ hợp với Mậu ở lưu niên mới hóa được Hỏa (vì Ngọ thái tuế ở trạng thái động – trong hợp hay bị xung - mới có thể làm được thần dẫn).
Vì Quý là chi chủ khắc đã hóa Hỏa nên trụ giờ Quý Tị không còn thiên khắc địa xung với trụ năm Đinh Hợi (tức Hóa cục có thể phá được TKĐX).

3 – Điểm hạn kỵ vượng
Can đại vận mang hành kỵ vượng khi khắc can trong Tứ Trụ sẽ có điểm hạn kỵ vượng đúng bằng điểm hạn của hành kỵ vượng đó khi nó lớn hơn hành hỷ và dụng thần từ 10đv, điểm hạn này được tăng tỉ lệ thuận theo độ lớn của hành kỵ vượng so với điểm vượng của hành hỷ, dụng thần 1 (là hành hỷ hay dụng thần có điểm vượng lớn nhất so với các hành hỷ dụng thần khác), khi đó các can hay chi khác (chỉ tính các chi ở tuế vận và tiểu vận) là kỵ vượng mà động mới có điểm kỵ vượng … Điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc nó.
Can trong Tứ Trụ là kỵ vượng bị can đại vận khắc cũng có điểm hạn kỵ vượng, khi đó các can kỵ vượng khác trong Tứ Trụ, tuế vận và tiểu vận mà động mới có điểm kỵ vượng. Điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc nó.
Các can trong các hóa cục giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận có điểm kỵ vượng nếu hành của hóa cục đó là hành kỵ vượng.
Các địa chi trong các hóa cục giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận mang hành kỵ vượng đều có điểm kỵ vương, trừ các chi trong Tứ Trụ.
Điểm kỵ vượng của các can chi tiểu vận bị giảm ½.

4 – Xem điểm vượng trong vùng tâm có phải tính lại hay không? Điểm hạn của các hóa cục cũng như xem chúng có gây ra đại chiến hay không?
Vì có can Quý trụ giờ trong Tứ Trụ hợp với Mậu tuế vận hóa Hỏa nên điểm vượng trong vùng tâm phải tính lại.
Hỏa có 2,22đv được thêm 8,068đv của Quý trụ giờ đã hóa Hỏa và thêm 8,33đv trung bình của Mậu tại lưu niên thành (2,22 + 8,068 + 8,33)đv = 18,618đv.

Cách tính điểm vượng của can chi đại vận hay lưu niên tại lưu niên là lấy điểm vượng của nó ở đại vận đó cộng với 2 lần điểm vượng của nó ở lưu niên rồi chia cho 3, riêng can chi tiểu vận thì phải tính thêm điểm vượng của nó tại chi tiểu vận đó rồi chia cho 4 (coi như chi tiểu vận là lệnh tiểu vận tại tiểu vận đó) – các điểm vượng này được gọi là các điểm vượng trung bình của các can chi đó tại lưu niên.

Thủy có 15,318đv bị mất 8,068đv của Quý đã hóa Hỏa còn 7,25đv.
Ta thấy Thân vẫn nhược và dụng thần vẫn không thay đổi còn Hỏa chỉ thành kỵ 1 chứ không phải là kỵ vượng.

Khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận thì điểm vượng của chi Mùi và Ngọ cũng như can Đinh và Tân (vì chúng động) mới được tính, khi đó Thân vượng hay nhược và dụng thần không thay đổi mà chỉ xem có hành nào trở thành hành kỵ vượng hay không mà thôi.

Ta phải tính thêm các điểm vượng của các can chi động ở tuế vận và tiểu vận (vì hành kỵ vượng Hỏa ở trạng thái động) chính là tính điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên.
Do vậy ta tính được can chi đại vận mỗi can chi có 8,67đv, mỗi can chi lưu niên có 8,33đv còn can Tân tiểu vận có 5,9đv (chi Dậu tiểu vận không động nên không được tính).
Kết quả ta có Hỏa có tổng cộng 44,288đv và Kim có 21,975đv còn các hành khác không thay đổi. Vì Đinh (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng thần Kim và Thổ mỗi hành trên 10đv nên Hỏa là hành kỵ vượng và có điểm hạn kỵ vượng.
Ở ví dụ này Hỏa lúc đầu và sau khi tính lại vẫn không là kỵ vượng nên khi tính thêm ở tuế vận mới là kỵ vượng nên điểm kỵ vượng này không được tăng (chỉ đúng bằng điểm hạn của hành kỵ vượng).
Do vậy ta có can Mậu, Quý cùng chi Mùi đại vận và Ngọ lưu niên mỗi can chi này có 0,5đh kỵ vượng (vì chúng đã hóa Hỏa).
Ngũ hợp Hỏa cục có 0,5đh và Tam hội Hỏa cục có 4 chi nên có 1đh (cứ 2 can chi hóa cục sẽ có điểm hạn bằng chính điểm hạn của hành hóa cục đó).

5 – Điểm hạn của dụng thần ở trong Tứ Trụ, đại vận và tại lưu niên

Dụng thần Kỷ tàng trong Mùi mà Mùi hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên có 1đh (điểm hạn), Kỷ vượng ở lưu niên nên có -1đh (viết bên trái thái tuế).
(Nếu dụng thần nhược ở lưu niên có 0đh, Tử Tuyệt tại lưu niên có 1đh, nhập Mộ tại đại vận có 1đh. Dụng thần tàng chi mà chi đó hợp với tuế vận hóa hay không hóa đều có 1đh, trừ khi hóa cục này cùng hành với dụng thần.)

6 – Điểm hạn của Nhật can ở đại vận và lưu niên
Nhật can Tân nhược ở lưu niên nên có 0đh (viết bên phải thái tuế).
(Nếu vượng ở lưu niên có -1đh còn Tử Tuyệt có 1đh. Thân nhược Nhật can nhập Mộ đại vận có 1đh).
(Còn tiếp)

Sửa bởi SongHongHa: 02/05/2022 - 06:05







Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |