Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn
Hetu, on 20/08/2022 - 11:28, said:
lethanhnhi cho ngày sinh dương lịch đi
dạ, em phải đảm bảo bí mật của khách hàng nên chỉ cung cấp được tới vậy thôi ạ
54. Nghi vấn về hai "quý cục"
Đẩu số dùng sao trên trời định ra hai "Quý cục" đó là cách cục "Nguyệt lãng thiên
môn" và "Nhật chiếu lôi môn".
- "Nguyệt lãng thiên môn" là Thái Âm thủ mệnh vào cung hợi, cổ nhân nhận định loại
mệnh cục này có thể phong hầu tiến tước, kỳ thực chiếu theo cái nhìn ở xã hội hiện đại
thì chỉ thuộc loại có thanh danh, là nhân sĩ nổi tiếng trong xã hội mà thôi. Hơn nữa,
"Nguyệt lãng thiên môn" còn cần có điều kiện, chiếu theo kinh nghiệm Vương Đình
Chi chỉ có người sinh tháng tám và tháng mười hai là gồm đủ điều tốt, bởi vì hai tháng
này có Tả Phụ Hữu Bật hội hợp cung Mệnh. Ví như ko có một trong hai sao phụ trợ
này, cách cục ngược lại như chổ hư không, là nổi danh mà vô lợi, hơn nữa cảm thấy
tịch mịch cô đơn. Cái tịch mịch cô đơn, không phải nói bản thân ko có bạn bè trai gái,
trái ngược có khi bạn bè trai gái nhiều lắm, điều tệ hại chính là ở chỗ này, "trái tim cô
đơn lạnh lẽo" gặp gỡ quá nhiều người khác giới sẽ rất dễ dàng ảnh hưởng sự nghiệp,
lúc này mệnh cục "Nguyệt lãng thiên môn" chẳng phải chủ quý, chỉ có thể là mệnh
một vị "công tử" mà thôi.
- "Nhật chiếu lôi môn", Thái Dương thủ mệnh ở cung mão, chiếu theo xã hội hiện đại
mà nói, hẳn là một mệnh của một chính khách hoặc nhà đầu tư. Rất nên sinh vào giờ
mão, mùi và hợi bởi vì phải sanh vào ba canh giờ này mới có thể đắc Văn Xương, Văn
Khúc, nhưng sanh vào năm Ất có Lộc Tồn cùng Thái Dương đồng cung, thì mới là
một chính khách có đầu óc, có chánh kiến và chủ trương thực tế, tạo phúc cho xã hội.
Nếu điều kiện như trên không đủ, mặc dù có hào quang vạn trượng, chỉ bất quá là một
nhân vật đứng đầu hơn nhiều người trong xã hội thôi.
So sánh hai cách cục, "Nhật chiếu lôi môn" tốt hơn khi so với "Nguyệt lãng thiên
môn", bởi vì "Nhật chiếu lôi môn" là người chánh trực lại nhiệt tâm cho dù phải đứng
đầu sóng ngọn gió, cuối cùng đối với xã hội vẫn sẽ có lợi; không giống như người có
cách "Nguyệt lãng thiên môn", khi sự việc suy kém rồi lại có thể xông pha ở một
phương diện có tính chất khác nhau, không chuyên, đối với xã hội có cống hiến duy
nhất chỉ là cung cấp tin tức thời sự bên lề trong lúc nhàn rỗi uống trà hay sau bữa ăn.
Xã hội thời xưa rất khó rạng danh, một khi rạng danh, bản thân tất quý, vì thế hai cách
cục này được xác định là "quý cách", không biết rằng xã hội ngày nay, đường rạng
danh có nhiều phương hướng, không nhất định phải quý rồi sau đó mới có thể rạng
danh. Cho nên ngày nay xem hai mệnh cục này, cần phải thay đổi cho thông suốt, hợp
thời, nhất thiết không thể y như cổ thư mà nhận định như vậy được.
đúng là 2 quí cục này vương đình chi viết rất chuẩn
những quí cục này đều làm quan to
nguyệt lãng thiên môn đúng là cực tốt cho người sinh vào tháng 8 và tháng 12
thực ra các quí cục đều cần tả hữu
vì vua cần bề tôi, cần có tả hữu vì âm dương tử vi đều là ĐẾ VƯƠNG chi tượng
nếu cung tứ trụ có vấn đề cộng mệnh VCD thì đúng là như vậy
có thể là sớm xa cha mẹ
"Cung Mệnh tinh diệu gặp Không vong, tuổi ấu thơ có bệnh tật, tai ương trùng
trùng, nếu không cho đi làm con thừa tự nhờ nuôi dưỡng, thì cũng bỏ đến nơi xứ lạ
lại làm nên như trong câu chuyện chàng rể Vương Hy Chi đời nhà Tấn"
Về cách cục này, bản khắc (thường trên gỗ) ở Phúc Kiến thời Minh viết: "tức mệnh
cung vô chính tinh phù tinh túng tinh thị dã" (tức chính là cung Mệnh không có
chánh tinh, phù tinh, túng tinh) nhưng đã có nguyên văn một lời phê trong một bản
sao: "vô nam bắc nhị đẩu chánh tinh dã" (Chính là không có hai (loại) chính tinh
nam bắc đẩu), lời phê này không thấy nhắc tới "Phù tinh" cùng "Túng tinh".
Cái gọi là "Phù tinh"? là chỉ Hỏa Tinh Linh Tinh, về phần tên gọi "Túng tinh" là gì,
Vương Đình Chi cũng không biết, nhưng hoài nghi xuất bản sai, có thể chỉ tinh
diệu từ "Tòng tinh".
Cổ nhân luận mệnh, có thuyết pháp "Mệnh vô chính diệu, nhị tính diên sinh" (mệnh
VCD có hai tên họ thì thêm tuổi thọ - ý nói làm con nuôi họ khác). Nhưng thuyết
pháp này có hạn chế rất lớn, bởi vì phàm khi cung Mệnh vô chính diệu thông
thường mượn tinh diệu đối cung để suy đoán, xung đối cung Mệnh tức cung Thiên
di, sở dĩ như vậy nên loại mệnh cục này lợi vào "Thiên di", tức cũng là đi xa lập
nghiệp ở nơi khác quê hương mình.
Người thời xưa, thường mong có thể an thân lập mệnh ở quê hương, quyết không
dễ dàng nói lìa xa là lìa được, cho nên phàm thị những người bỏ tỉnh ly hương đa
số là tòng theo cái khí thế của song thân (cha mẹ), ở quê hương tưởng rằng chẳng
có cách gì mà sống được, chính vì vậy mà "mệnh vô chính diệu" đã bị cổ nhân cho
rằng tuổi nhỏ bất hạnh, đến nổi phải "quá phòng ký dưỡng" (cho làm con thừa tự -
con nuôi họ khác), hoặc là phiêu bạt đến nơi khác mà thành mệnh "nhập chuế" (ở
rể) (**), nhất là xã hội nông nghiệp thời xưa, có tập tục "chiêu chuế" (kén trai ở rể)
đến làm công việc nhà nông, cổ nhân cho rằng vậy là đương nhiên. Ngày nay, vào
suy đoán Đẩu số vẫn ứng khi mượn sao ở cung Thiên di làm căn cứ suy đoán.