←  Vài Dòng Tản Mạn...

Tử Vi Lý Số :: Diễn đàn học thuật của người Việt

»

TỬ VI LÝ SỐ



7 8 9

VNhieu's Photo VNhieu 23/12/2025

TUYÊN NGÔN THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP CÔNG NHÂN QUỐC TẾ.

(QUỐC TẾ THỨ NHẤT).

Ngày 28 tháng 9 năm 1864,

tại Hội nghị công khai ở hội trường X.Mác-tin, Loong-ây-cơ, Luân Đôn.


Các Mác đại diện biên soạn và đọc tại Hội nghị:

(Lược trích, bỏ qua các dẫn chứng mang tính lịch sử mà Mác đã diễn giải nhằm làm sáng tỏ các luận điểm đưa ra, có thể tìm đọc chi tiết tại Toàn tập số 16, tr.11, NXB Sự thật, 1997)

Hỡi các công nhân !

Từ năm 1848 đến năm 1864, nạn nghèo đói của quần chúng công nhân không giảm bớt - đó là một sự thật không thể chối cãi, thế nhưng về mặt phát triển của công nghiệp và thương nghiệp thì thời kỳ đó là thời kỳ có một không hai trong lịch sử.

Năm 1850, một cơ quan báo chí ôn hòa thạo tin của giai cấp tư sản Anh đã nói trước rằng: nếu nhập khẩu và xuất khẩu của Anh tăng 50% thì nạn khốn cùng ở nước này sẽ không còn nữa.

Than ôi ! Ngày 7 tháng 4 năm 1864, Bộ trưởng Tài chính đã làm cho thính giả của mình trong nghị viện vui mừng bằng lời tuyên bố rằng tổng kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu của Anh năm 1863 đã tăng lên "đến 433 955 000 p.xt ! Con số đáng kinh ngạc ấy gần như lớn gấp ba lần tổng số chu chuyển của thương nghiệp Anh ở thời kỳ năm 1843 mới đây !"

Tuy thế, ông ta vẫn nói rất hùng hồn về "sự nghèo khổ". Ông ta kêu lên rằng: "Hãy nghĩ tới những người đang ở bên bờ vực của cảnh nghèo khổ", đến "tiền công ... không tăng", đến "cuộc sống của con người...mà trong mười trường hợp thì đến hết chín trường hợp là phải đấu tranh để sinh tồn !"

Nhưng ông ta làm lơ không nói đến nhân dân Ai-rơ-len ở miền Bắc đang bị máy móc, còn ở miền Nam thì đang bị những đàn cừu loại dần ra, mặc dù ngay số cừu cũng đang giảm bớt trong cái đất nước bất hạnh đó, tuy không giảm nhanh bằng số người

Ông ta không lặp lại những điều mà những đại biểu cao cấp của quý tộc vừa tiết lộ ra trong cơn hoảng sợ đột ngột. Khi sự kinh hoàng do "những kẻ bóp cổ" gây ra đạt tới một mức nhất định, thì Thượng nghị viện quyết định tiến hành điều tra tình hình phát vãng và lao động khổ sai, rồi công bố những kết quả đã điều tra được dưới hình thức một bản báo cáo.

Sự thật đã được vạch ra trên những trang của cuốn Sách xanh dày cộp năm 1863, và bằng những sự thật và những con số được xác nhận chính thức, người ta đã chứng minh rằng ở Anh và Xcốt-len những kẻ phạm tội hình nặng nhất - những kẻ lao động khổ sai - làm việc ít hơn nhiều và ăn uống tốt hơn nhiều so với những công nhân nông nghiệp ANh và Xcốt-len...

Sau khi cuộc Cách mạng năm 1848 bị thất bại, tất cả các tổ chức Đảng và các cơ quan báo chí Đảng của giai cấp công nhân trên lục địa đều bị tiêu diệt bằng bạo lực thô bạo; những người con tiên tiến nhất của giai cấp công nhân trong cơn tuyệt vọng đã chạy trốn sang nước cộng hòa ở bên kia Đại Tây Dương và những giấc mơ ngắn ngủi về sự giải phóng đã tiêu tan trước thời kỳ lên cơn sốt công nghiệp, bại hoại về đạo đức và ph,ản động về chính trị...

Sự thất bại của giai cấp công nhân trên lục địa đã làm cho giai cấp công nhân Anh buồn nản và mất tin tưởng vào sự nghiệp của chính mình, đồng thời đã làm cho những tên trùm ruộng đất và tài chính lấy lại lòng tự tin đã ít nhiều bị lung lay. Chúng đã ngang ngược rút lại những nhượng bộ đã được tuyên bố trước kia...

Một số đại biểu khác của giai cấp vô sản Anh, trước kia tỏ ra tích cực nay bị quyến rũ bởi số lượng công việc và tiền công tạm thời tăng lên đã biến thành những "kẻ phá bãi công về mặt chính trị"...

Những tên trùm ruộng đất và trùm tư bản bao giờ cũng sẽ lợi dụng những đặc quyền chính trị của mình để bảo vệ và duy trì mãi mãi độc quyền kinh tế của chúng. Không những chúng sẽ không giúp cho sự nghiệp giải phóng lao động mà trái lại, chúng còn luôn luôn dựng lên đủ mọi thứ chướng ngại trên con đường đi của sự nghiệp đó...

Vì vậy, việc giành chính quyền trở thành một nghĩa vụ vĩ đại của giai cấp công nhân. Hình như công nhân đã hiểu được điều đó...

Công nhân đã có một trong những yếu tố thành công là số lượng. Nhưng số lượng chỉ giải quyết được vấn đề khi quần chúng được tổ chức lại và được sự hiểu biết chỉ đạo. Kinh nghiệm của quá khứ chứng tỏ rằng thái độ coi thường sự liên minh anh em, sự liên minh phải có giữa công nhân các nước khác và phải thúc đẩy họ kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, sẽ bị trừng phạt bằng cách bắt những cố gắng phân tán của họ phải chịu sự thất bại chung.

Ý thức đó đã thúc đẩy những công nhân các nước khác nhau, họp lại trong cuộc mít - tinh công khai ở hội trường Xanh-Mác-tin, Luân Đôn, ngày 28 tháng 9 năm 1864, thành lập Hội liên hiệp công nhân quốc tế...

Nếu việc giải phóng giai cấp công nhân đòi hỏi phải có sự hợp tác anh em của công nhân thì làm sao họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ vĩ đại đó khi có một chính sách đối ngoại theo đuổi những mục đích tội lỗi, lợi dụng những thành kiến dân tộc, đổ máu và phu phí của cải của nhân dân trong nhưng cuộc chiến tranh ăn cướp ?...

Giai cấp công nhân thấy rõ nghĩa vụ của mình là phải nắm được những bí mật của chính trị quốc tế, phải theo dõi hoạt động ngoại giao của các chính phủ nước mình và trong trường hợp cần thiết, phải dùng mọi phương tiện sẵn có trong tay để chống lại; còn trong trường hợp không thể ngăn chặn được hoạt động đó, thì đoàn kết lại để đồng thời vạch trần nó và tìm cách làm cho những quy tắc đơn giản đơn của đạo đức và công lý vốn đã phải là kim chỉ năm trong quan hệ qua lại giữa các tư nhân, cũng trở thành những quy tắc tối cao trong quan hệ giữa các dân tộc.

Cuộc đấu tranh cho một chính sách đối ngoại như vậy là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung để giải phóng giai cấp công nhân.

VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI !



Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !
Sửa bởi VNhieu: 23/12/2025 - 20:44
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 26/12/2025

CHÚNG TA MUỐN ĐẠT ĐƯỢC CÁI GÌ ?

( Gửi toàn Đảng )

Lê Nin.

Tháng 7 năm 1904.


(Lược trích, Lê Nin toàn tập số 9, tr.1, NXB Chính trị Quốc gia in theo bản dịch của NXB Sự thật, 2005)

Mới đây có một cuộc họp riêng của 19 đảng viên Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga ( trong đó có những đại biểu dự Đại hội II, những ủy viên của các ban chấp hành và của các tổ chức đảng và những người cách mạng ngoài đảng).

Cuộc hội nghị đó của những người cùng chí hướng đứng trên quan điểm phái đa số của Đại hội II của Đảng, đã thảo luận vấn đề khủng hoảng trong Đảng ta và những biện pháp khắc phục cuộc khủng hoảng đó.

Hội nghị đã quyết định gửi đến tất cả những người Dân chủ - Xã hội Nga lời kêu gọi sau đây:

Các đồng chí !

Cuộc khủng hoảng trầm trọng của Đảng đang kéo dài vô tận. Tình trạng rối loạn ngày càng phát triển, gây thêm nhiều cuộc xung đột mới, kìm hãm công tác tích cực về mọi mặt và với mức độ hết sức nghiêm trọng, ngày càng tách mối liên hệ giữa Đảng và Cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng, cơ quan này đã hoàn toàn biến thành cơ quan của một nhóm người, chủ yếu là của nhóm người sống ở nước ngoài...

Trong khi đó thì giai đoạn lịch sử hiện tại của nước Nga đòi hỏi toàn Đảng Ta phải nỗ lực hết sức. Tinh thần cách mạng sục sội trong giai cấp công nhân, sự bất mãn trong các tầng lớp nhân dân khác ngày càng tăng lên, chiến tranh và khủng hoảng, nạn đói và thất nghiệp ngày càng khoét sâu thêm nền tảng của chế độ chuyên chế...

Theo ý chúng tôi, bước đầu tiên là phải làm thế nào cho quan hệ giữa các nhóm khác nhau, các khuynh hướng khác nhau và các màu sắc khác nhau trong Đảng Ta được hoàn toàn rõ ràng, cởi mở và thẳng thắn. Tất nhiên có những lúc vì lợi ích của sự nghiệp mà chúng ta phải bỏ qua không nói đến những sự bất đồng ý kiến cục bộ, nhưng nếu cho rằng thời kỳ mà Đảng Ta hiện đang trải qua là một thời kỳ như vậy, thì đó là một sai lầm hết sức đáng buồn và không thể tha thứ được. Những nhượng bộ cá nhân đối với phái thiểu số không thể ngăn chặn nổi sự rối loạn trong Đảng.

Những vấn đề tranh luận đã được đặt thẳng ra hẳn hoi; người ta đang công khai thách thức toàn Đảng, và chỉ có những người nhu nhược và ng* d*t mới có thể mơ tưởng quay lại cái quá khứ không thể trở lại được, mơ tưởng rằng có thể giấu giếm một cái gì đó, có thể nói lơ lửng nửa chừng một cái gì đó, có thể che đậy một cái gì đó, có thể lẩn tránh một cái gì đó.

Không, chính sách phủi tay, chính sách tự kiềm chế một cách thụ động, chính sách không can thiệp đã tỏ ra hoàn toàn vô dụng đối với cuộc đấu tranh trong Đảng chúng ta. Tiếp tục quanh co, thủ đoạn mánh lới, im lặng, những thái độ đó không những là vô ích và đáng khinh bỉ mà còn hoàn toàn là tội lỗi...

Chỉ có thái độ hoàn toàn minh bạch và thẳng thắn mới có thể cung cấp tài liệu cho tất cả những công nhân giác ngộ và tất cả các Đảng viên để giải quyết một cách hợp lý và kiên quyết những vấn đề đang tranh cãi của Đảng...




Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !


Sửa bởi VNhieu: 26/12/2025 - 11:05
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 28/12/2025

NOBEL KINH TẾ

" VẬT CHẤT QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC,

HẠ TẦNG KINH TẾ QUYẾT ĐỊNH THƯỢNG TẦNG CHÍNH TRỊ."



Giải Nobel Kinh tế (tên chính thức: Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel) được trao lần đầu tiên năm 1969. Đến năm 2025, giải đã được trao 57 lần cho 99 nhà kinh tế học.
Dưới đây là danh sách tổng hợp những người đoạt giải từ 1969 đến 2025, dựa trên nguồn chính thức từ NobelPrize.org và các tài liệu cập nhật.


1969 Ragnar Frisch & Jan Tinbergen Na Uy / Hà Lan Phát triển và áp dụng mô hình động để phân tích quá trình kinh tế
1970 Paul Samuelson Mỹ Đóng góp cho lý thuyết kinh tế hiện đại
1971 Simon Kuznets Mỹ Nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế
1972 John R. Hicks & Kenneth J. Arrow Anh / Mỹ Đóng góp cho lý thuyết cân bằng kinh tế tổng quát và lý thuyết phúc lợi
1973 Wassily Leontief Mỹ Phát triển phương pháp đầu vào - đầu ra
1974 Gunnar Myrdal & Friedrich August von Hayek Thụy Điển / Áo Công trình về lý thuyết tiền tệ và biến động kinh tế
1975 Leonid Kantorovich & Tjalling C. Koopmans Liên Xô / Mỹ Đóng góp cho lý thuyết phân bổ tài nguyên tối ưu
1976 Milton Friedman Mỹ Đóng góp trong phân tích tiêu dùng, lịch sử tiền tệ và ổn định hóa
1977 Bertil Ohlin & James E. Meade Thụy Điển / Anh Đóng góp cho lý thuyết thương mại quốc tế
1978 Herbert A. Simon Mỹ Nghiên cứu về quá trình ra quyết định trong tổ chức kinh tế
1979 Theodore Schultz & Arthur Lewis Mỹ / Saint Lucia Nghiên cứu phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
1980 Lawrence R. Klein Mỹ Phát triển mô hình kinh tế lượng để phân tích chính sách
1981 James Tobin Mỹ Phân tích thị trường tài chính
1982 George Stigler Mỹ Nghiên cứu về cấu trúc công nghiệp và quy định
1983 Gérard Debreu Pháp / Mỹ Đóng góp mới cho lý thuyết cân bằng tổng quát
1984 Richard Stone Anh Phát triển hệ thống kế toán quốc gia
1985 Franco Modigliani Ý / Mỹ Phân tích tiết kiệm và thị trường tài chính
1986 James M. Buchanan Jr. Mỹ Phát triển lý thuyết lựa chọn công cộng
1987 Robert M. Solow Mỹ Đóng góp cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế
1988 Maurice Allais Pháp Đóng góp tiên phong cho lý thuyết thị trường và sử dụng tài nguyên hiệu quả
1989 Trygve Haavelmo Na Uy Làm rõ nền tảng xác suất của kinh tế lượng
1990 Harry Markowitz, Merton Miller & William F. Sharpe Mỹ Công trình tiên phong trong lý thuyết kinh tế tài chính
1991 Ronald Coase Anh / Mỹ Khám phá ý nghĩa của chi phí giao dịch và quyền tài sản
1992 Gary S. Becker Mỹ Mở rộng phân tích vi mô kinh tế đến hành vi con người
1993 Robert Fogel & Douglass North Mỹ Áp dụng lý thuyết kinh tế và phương pháp định lượng vào lịch sử kinh tế
1994 John C. Harsanyi, John F. Nash Jr. & Reinhard Selten Mỹ / Đức Phân tích cân bằng trong lý thuyết trò chơi không hợp tác
1995 Robert Lucas Jr. Mỹ Phát triển và áp dụng giả thuyết kỳ vọng hợp lý
1996 James A. Mirrlees & William Vickrey Anh / Canada / Mỹ Đóng góp cơ bản cho lý thuyết khuyến khích kinh tế dưới thông tin bất đối xứng
1997 Robert C. Merton & Myron S. Scholes Mỹ Phương pháp định giá chứng khoán phái sinh
1998 Amartya Sen Ấn Độ Đóng góp cho kinh tế phúc lợi
1999 Robert A. Mundell Canada Phân tích chính sách tiền tệ và tài chính trong các khu vực tiền tệ khác nhau
2000 James J. Heckman & Daniel L. McFadden Mỹ Phát triển lý thuyết và phương pháp phân tích mẫu chọn lọc và lựa chọn rời rạc
2001 George Akerlof, Michael Spence & Joseph E. Stiglitz Mỹ Phân tích thị trường với thông tin bất đối xứng
2002 Daniel Kahneman & Vernon L. Smith Mỹ / Israel Tích hợp tâm lý học vào khoa học kinh tế
2003 Robert F. Engle & Clive Granger Anh / Mỹ Phương pháp phân tích chuỗi thời gian kinh tế với biến động thay đổi
2004 Finn E. Kydland & Edward C. Prescott Na Uy / Mỹ Đóng góp cho chính sách kinh tế động và lực đẩy chu kỳ kinh doanh
2005 Robert J. Aumann & Thomas C. Schelling Israel / Mỹ Tăng cường hiểu biết về xung đột và hợp tác qua lý thuyết trò chơi
2006 Edmund S. Phelps Mỹ Phân tích giao dịch giữa các chính sách kinh tế vĩ mô
2007 Leonid Hurwicz, Eric S. Maskin & Roger B. Myerson Mỹ Đặt nền tảng cho lý thuyết thiết kế cơ chế
2008 Paul Krugman Mỹ Phân tích mô hình thương mại và vị trí kinh tế
2009 Elinor Ostrom & Oliver E. Williamson Mỹ Phân tích quản trị kinh tế, đặc biệt là tài sản chung
2010 Peter A. Diamond, Dale T. Mortensen & Christopher A. Pissarides Mỹ / Anh Phân tích thị trường với ma sát tìm kiếm
2011 Thomas J. Sargent & Christopher A. Sims Mỹ Nghiên cứu thực nghiệm về nguyên nhân và hậu quả trong kinh tế vĩ mô
2012 Alvin E. Roth & Lloyd S. Shapley Mỹ Lý thuyết phân bổ ổn định và thực hành thiết kế thị trường
2013 Eugene F. Fama, Lars Peter Hansen & Robert J. Shiller Mỹ Phân tích thực nghiệm giá tài sản
2014 Jean Tirole Pháp Phân tích quyền lực thị trường và quy định
2015 Angus Deaton Anh / Mỹ Phân tích tiêu dùng, nghèo đói và phúc lợi
2016 Oliver Hart & Bengt Holmström Anh / Phần Lan / Mỹ Đóng góp cho lý thuyết hợp đồng
2017 Richard H. Thaler Mỹ Đóng góp cho kinh tế hành vi
2018 William D. Nordhaus & Paul M. Romer Mỹ Tích hợp biến đổi khí hậu và đổi mới công nghệ vào kinh tế vĩ mô
2019 Abhijit Banerjee, Esther Duflo & Michael Kremer Mỹ / Pháp / Mỹ Cách tiếp cận thực nghiệm để giảm nghèo toàn cầu
2020 Paul R. Milgrom & Robert B. Wilson Mỹ Cải thiện lý thuyết đấu giá và phát minh định dạng đấu giá mới
2021 David Card, Joshua D. Angrist & Guido W. Imbens Canada / Mỹ / Hà Lan / Mỹ Đóng góp cho phân tích nhân quả thực nghiệm trong kinh tế lao động
2022 Ben S. Bernanke, Douglas W. Diamond & Philip H. Dybvig Mỹ Nghiên cứu về ngân hàng và khủng hoảng tài chính
2023 Claudia Goldin Mỹ Hiểu biết về kết quả thị trường lao động của phụ nữ
2024 Daron Acemoglu, Simon Johnson & James A. Robinson Mỹ / Thổ Nhĩ Kỳ / Anh / Mỹ Nghiên cứu cách thể chế hình thành và ảnh hưởng đến thịnh vượng
2025 Joel Mokyr, Philippe Aghion & Peter Howitt Mỹ / Israel / Pháp / Canada / Mỹ Giải thích tăng trưởng kinh tế do đổi mới thúc đẩy

Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !
Sửa bởi VNhieu: 28/12/2025 - 10:54
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 28/12/2025

BÍNH NGỌ 2026
"Mã đáo thành công"



Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !

" 공금 1원을 훔친 자도 나는 쏘아 죽일 것이다
Tôi sẽ đem bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công, dù chỉ một đồng ! "

Tháng 7/1961, Park Chung Hee.


Sửa bởi VNhieu: 28/12/2025 - 22:16
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 29/12/2025

BẢN VỊ

“ VÀNG”, “VÀNG ĐEN” và “VÀNG KỸ THUẬT SỐ”


Bản (本) là gốc rễ, nền tảng; là chuẩn, tiêu chuẩn.
Vị (位 ) là chuẩn tắc của sự vật ; là địa vị, ngôi thứ.

Bản vị của một vật, là khả năng làm tiêu chuẩn quy đổi của vật đó thành vật khác, trong thế giới hàng hóa. Thuộc tính vật lý và xã hội cần có của vật muốn thực hiện chức năng bản vị gồm có:

1. Đa số mọi người chấp nhận và được "Luật hóa" bằng niềm tin hay quyền lực.
2. Có thể đo lường, trao đổi và cất giữ một cách toàn vẹn.
3. Nguồn cung ổn định được kiểm soát, có tính khan hiếm.
4. Dễ nhận biết, khó làm giả.
5. Có thể chia nhỏ và kết hợp lại mà không mất đi giá trị ban đầu.
6. Độ bền cao trong môi trường tự nhiên, bảo tồn trọng lượng trong thời gian lâu dài.


TƯ BẢN LUẬN

Tháng 8 năm 1867


Phần thứ nhất


HÀNG HÓA VÀ TIỀN


" Trong những xã hội do phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa chi phối, thì của cải được biểu hiện ra là một đống hàng hóa khổng lồ…

Hàng hóa trước hết là một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thỏa mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người. Dù cho những nhu cầu đó do dạ dày hay do trí tưởng tượng đẻ ra, thì bản chất của chúng vẫn không làm cho vấn đề thay đổi gì cả...

Tính có ích của một vật làm cho vật đó trở thành một gia trị sử dụng...giá trị sử dụng cấu thành cái nội dung vật chất của của cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó là như thế nào. Trong hình thái xã hội mà chúng ta đang nghiên cứu, giá trị sử dụng đồng thời cũng là những vật mang giá trị trao đổi...

Các giá trị trao đổi của hàng hóa ...cũng phải được quy thành một cái gì chung cho các giá trị trao đổi ấy và mỗi giá trị trao đổi đều đại biểu cho một lượng nhiều hay ít của cái chung đó. Cái chung ấy không thể là những thuộc tính hình học, vật lý, hóa học hay những thuộc tính tự nhiên nào khác của hàng hóa...

Nếu gạt giá trị sử dụng của vật thể hàng hóa ra một bên thì vật thể hàng hóa chỉ còn có một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩm của lao động...tính hữu ích của sản phẩm lao động mà biến đi thì đồng thời tính hữu ích của những loại lao động biểu hiện ra trong các sản phẩm ấy, do đó, các hình thái cụ thể khác nhau của những loại lao động ấy cũng đều biến đi theo; những loại lao động ấy không còn khác nhau nữa, mà được quy thành thứ lao động giống nhau của con người, thành lao động trừu tượng của con người...

Giá trị sử dụng hay của cải, có giá trị chỉ là vì lao động trừu tượng của con người đã được vật hóa, hay vật chất hóa ở trong đó...
Một vật có thể là một giá trị sử dụng mà lại không phải là một giá trị. Đó là trường hợp khi sự có ích của vật ấy đối với con người không phải do lao động tạo ra...

Muốn trở thành hàng hóa thì sản phẩm phải được chuyển vào tay những người khác, những người dùng nó làm giấ trị sử dụng, bằng con đường trao đổi...

Nếu vật là vô dụng thì lao động chưa đựng trong vật đó cũng vô dụng, nó không được kể là lao động và vì vậy mà không tạo ra một giá trị nào cả...

Khi chúng ta nói: với tư cách là những giá trị, tất cả các hàng hóa đều chỉ là lao động của con người kết tinh lại, thì như vậy là sự phân tích của chúng ta đã quy các hàng hóa thành giá trị trừu tượng, nhưng nó không đem lại cho các hàng hóa một hình thái giá trị khác với hình thái tự nhiên của chúng. Nhưng trong quan hệ giá trị của một hàng hóa này với một hàng hóa khác thì lại không như thế. Lúc đó, tính chất giá trị của hàng hóa bộc lộ ra trong mối quan hệ của bản thân nó với một hàng hóa khác...

Nhờ có quan hệ giá trị nên hình thái tự nhiên của hàng hóa B trở thành hình thái giá trị của hàng hóa A, hay là cơ thể của hàng hóa B trở thành cái gương phản ánh giá trị của hàng hóa A. Khi hàng hóa A coi hàng hóa B như là cơ thể của giá trị, như là sự vật chất hóa lao động của con người thì nó đã biến giá trị sử dụng B thành một vật liệu để biểu hiện giá trị của bản thân nó...

Khi một hàng hóa A biểu hiện giá trị của nó bằng giá trị sử dụng của một hàng hóa B khác với nó thì nó đồng thời cũng đem lại cho hàng hóa B này một hình thái giá trị đặc biệt, hình thái vật ngang giá...Hình thái ngang giá của một hàng hóa chính là hình thái trong đó nó có thể trực tiếp trao đổi lấy một hàng hóa khác...

Trong mọi trạng thái xã hội, sản phẩm lao động đều là một vật phẩm tiêu dùng, nhưng chỉ có một thời kỳ phát triển lịch sử nhất định mới biến sản phẩm lao động thành hàng hóa...

Khi hình thái tự nhiên của bản thân một hàng hóa nhất định trở thành hình dáng chung của giá trị trong thế giới hàng hóa, thì nó có thể trực tiếp trao đổi được với tất cả các hàng hóa khác..

< Trích Các Mác toàn tập số 23, tr.8, NXB Sự thật 2002: Tư Bản luận, phê phán khoa Kinh tế - Chính trị ( Kinh Thánh của giai cấp công nhân ) >


PHÊ PHÁN CƯƠNG LĨNH GÔ-TA

Tháng 4 năm 1875


" Lao động không phải là nguồn của của cải. Giới tự nhiên, cũng như lao động là nguồn của những giá trị sử dụng ( vì của cải vật chất lại chính là gồm những giá trị này !) và bản thân lao động cũng chỉ là biểu hiện của một sức tự nhiên, sức lao động của con người…

Một cương lĩnh Xã hội chủ nghĩa thì không được để cho những câu nói Tư sản rỗng tuếch bỏ qua những điều kiện mà chỉ có chúng mới có thể làm cho những câu nói ấy có nghĩa…

Chỉ trong chừng mực mà con người ngay từ đầu, đối xử với giới tự nhiên - nguồn gốc đầu tiên của mọi tư liệu lao động và đối tượng lao động - với tư cách là kẻ sở hữu; trong chừng nào mà con người đối xử với giới tự nhiên coi đó là một vật thuộc về mình thì chừng ấy, lao động của con người mới trở thành nguồn gốc cũng các giá trị sử dụng, do đó mới trở thành nguồn gốc của của cải...

Bọn Tư sản có những lý do rất quan trọng để gán cho lao động cái sức sáng tạo siêu tự nhiên đó, vì chính là do lao động bị tự nhiên quyết định cho nên người nào không có sở hữu nào khác ngoài sức lao động của mình ra thì trong mọi trạng thái xã hội và văn hóa, đều nhất định sẽ phải làm nô lệ cho những kẻ khác nắm trong tay những điều kiện vất chất của lao động. Người đó chỉ có thể lao động và do đó chỉ có thể sinh sống, khi được kẻ này cho phép…

< Lược trích, Các Mác toàn tập 19, tr. 27, NXB Sự thật 1995 >


Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !


Sửa bởi VNhieu: 29/12/2025 - 08:42
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 01/01/2026

TROIKA

"Cỗ xe tam mã"


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


CHÚ THÍCH HÌNH ẢNH:

  • Con ngựa Đầu tư: Là con ngựa khỏe nhất, dẫn dắt hướng đi. Nó đại diện cho dòng vốn đổ vào hạ tầng và công nghệ.
  • Con ngựa Tiêu dùng: Đại diện cho nội lực của 100 triệu dân.
  • Con ngựa Xuất khẩu: Đại diện cho sức mạnh hội nhập.
  • Người cầm lái: Đại diện cho Chính Phủ điều khiển cỗ xe (nền kinh tế) quyết đoán, tay giữ chặt dây cương.
  • Dây cương: Đại diện cho Chính sách Tiền tệ (lãi suất) và Chính sách Tài khóa (thuế/chi tiêu công). Nếu người lái buông lỏng, cỗ xe sẽ mất kiểm soát (lạm phát); nếu siết quá chặt, ngựa sẽ không thể chạy nhanh (đình trệ).
  • Con đường dốc: Đại diện cho thử thách khó khăn.
  • Mui tên hướng tới 10%: Đại diện cho mục tiêu tăng trưởng.
  • Bình minh phía trước: Đại diện cho tư tưởng Keynes về sự lạc quan và kỳ vọng vào tương lai để kích thích đầu tư.
  • Nền đất vững chắc: Đại diện cho tư tưởng Marx về hạ tầng cơ sở và lực lượng sản xuất thực chất.
  • Bầu không khí trong lành (không mây mù): Đại diện cho tư tưởng Mankiw về một thị trường minh bạch, ít rào cản và hiệu quả cao.
Chú ý: Nội dung là sản phẩm trao đổi với AI, chỉ nhằm mục đích tham khảo.



Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Thiên Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !
Sửa bởi VNhieu: 01/01/2026 - 16:06
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 04/02/2026

BÀN TAY
"Vô hình và hữu hình"

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



- Bàn tay ánh sáng (Bàn tay vô hình): Đại diện cho các quy luật thị trường, sự tự do kinh doanh và sức sáng tạo của hàng triệu cá nhân, doanh nghiệp tư nhân. Nó mang năng lượng của sự đổi mới, kết nối các bánh răng kinh tế một cách tự nhiên.

- ​Bàn tay mờ ảo phía trên (Bàn tay hữu hình): Đại diện cho sự quản lý của Nhà nước. Bàn tay này không thay thế thị trường mà đóng vai trò định hướng, điều tiết và bảo vệ. Hình ảnh hai bàn tay cùng xoay những bánh răng cho thấy sự đồng thuận: Thị trường tạo động lực, Chính phủ tạo môi trường và hạ tầng.

Thực tế đã chứng minh "Bàn tay vô hình" đôi khi gặp trục trặc, gọi là Thất bại của thị trường (Market Failures):

1. ​Độc quyền: Khi một công ty thao túng thị trường, "bàn tay" bị liệt. Cạnh tranh biến mất, người tiêu dùng chịu thiệt.

2. ​Ngoại ứng tiêu cực: Ô nhiễm môi trường là ví dụ điển hình. Các công ty vì lợi nhuận có thể xả thải ra sông ngòi vì việc bảo vệ môi trường không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho họ.

​3. Thông tin bất đối xứng: Người bán biết quá nhiều, người mua biết quá ít (ví dụ trong ngành y tế hoặc tài chính), dẫn đến sự thiếu công bằng.

4. ​Khủng hoảng kinh tế: Như cuộc khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy, nếu để thị trường tự do hoàn toàn mà không có sự giám sát, nó có thể dẫn đến sự sụp đổ hệ thống.

​"Bàn tay vô hình" vẫn là một nguyên lý vĩ đại, nhưng trong thế giới hiện đại, nó thường cần một "Bàn tay hữu hình" (sự điều tiết của Chính phủ) để ngăn chặn độc quyền, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội.

*Chú ý: Nội dung là kết quả trao đổi với AI, chỉ nhằm mục đích tham khảo, không cho phép sao chép.

// Adam Smith: "An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations" (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia - 1776), Quyển IV, Chương II.)

​"...every individual necessarily labours to render the annual revenue of the society as great as he can. He generally, indeed, neither intends to promote the public interest, nor knows how much he is promoting it... he intends only his own gain, and he is in this, as in many other cases, led by an invisible hand to promote an end which was no part of his intention."

​"...mỗi cá nhân nhất thiết phải nỗ lực hết mình để làm cho thu nhập hàng năm của xã hội trở nên lớn nhất có thể. Thực tế, anh ta thường không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng, cũng chẳng biết mình đang thúc đẩy nó ở mức độ nào... anh ta chỉ có ý định phục vụ lợi ích của riêng mình, và trong trường hợp này, cũng như trong nhiều trường hợp khác, anh ta được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình để thúc đẩy một mục tiêu vốn không nằm trong dự định của mình."

// Tư Bản Luận, Các Mác toàn tập số 23, tr.25 - 42:

" Trong lĩnh vực khoa Kinh tế chính trị, việc tự do nghiên cứu Khoa học không phải chỉ gặp những kẻ địch mà nó đã gặp trong các lĩnh vực khác. Tính chất đặc thù của tư liệu mà khoa kinh tế chính trị nghiên cứu làm cho những sự say mê cuồng bạo nhất, hèn hạ nhất và đáng ghét nhất của lòng người, tức là những nữ thần báo thù cho lợi ích riêng, xông lên vũ đài chống lại nó.

Thượng giáo hội nước Anh chẳng hạn, sẽ tha thứ cho việc công kích 38 tín điều trong số 39 tín điều của nó, nhưng nó sẽ không tha thứ cho việc xâm phạm vào 1/39 thu nhập bằng tiền của nó...

Tôi đã vẽ hình dáng của nhà tư bản và địa chủ hoàn toàn không phải bằng màu hồng. Nhưng ở đây, tôi chỉ nói đến những con người trong chừng mực mà họ là hiện thân của những phạm trù kinh tế, là kẻ đại biểu cho những quan hệ và những lợi ích giai cấp nhất định.

Tôi coi sự phát triển của những hình thái Kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, cho nên so với mọi quan điểm khác, quan điểm của tôi có thể ít quy trách nhiệm hơn cho các cá nhân về những điều kiện mà xét theo ý nghĩa xã hội thì cá nhân đó trước sau vẫn là một sản phẩm của những điều kiện đó..."

" Sự vận động đầy mâu thuẫn của Xã hội Tư bản chủ nghĩa, làm cho các nhà tư sản thực tiễn cảm thấy nó một cách rõ rệt nhất qua những biến động của nền công nghiệp hiện đại phải trải qua trong chu kỳ tuần hoàn của nó, những biến động mà đỉnh cao nhất là cuộc tổng khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng lại đang đến, mặc dù là mới còn ở trong thời kỳ đầu, do tính chất toàn diện của trường hoạt động của nó, cũng như do cường độ tác động của nó, cuộc khủng hoảng này đã làm cho ngay cả bọn mới phất trong Đế chế Thần Thánh Phổ - Đức mới cũng phải thừa nhận PHÉP BIỆN CHỨNG ".


Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Tọa Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !





Sửa bởi VNhieu: 04/02/2026 - 09:50
Trích dẫn

VNhieu's Photo VNhieu 05/02/2026

CON NGƯỜI - VỐN - CÔNG NGHỆ
"Paul Romer + Harrod-Domar + Solow-Swan"

1. Harrod-Domar (1939-1946): Tích lũy vốn là yếu tố quyết định của tăng trưởng. Muốn tăng trưởng phải tiết kiệm và đầu tư. Nếu VỐN không được dùng HIỆU QUẢ thì dẫn đến lạm phát và khủng hoảng nợ !

2. Solow-Swan (1956): Đầu tư vốn sẽ chạm ngượng, tới một thời điểm dù đổ thêm tiền cũng không gia tăng GDP. Chỉ có tiến bộ công nghệ mới giúp tăng trưởng dài hạn.

3. Paul Romer (1986-1990): Tri thức là loại hàng hóa càng dùng càng sinh lời, cần chuyển dịch Cấu trúc đầu tư từ "cầu đường" sang "phòng thí nghiệm" (Nghiên cứu và Con người).

Việc Việt Nam kết hợp cả 3 học thuyết này vào năm 2026 chính là sự tổng hòa giữa: Tích lũy vốn khổng lồ (1940s) + Ứng dụng công nghệ hiện đại (1950s) + Phát triển trí tuệ con người (1990s).

1. Mô hình Harrod-Domar (1939 - 1946)
​Đây là mô hình sớm nhất trong ba lý thuyết này, ra đời sau cuộc Đại khủng hoảng.

​Roy Harrod (Anh): Công bố bài báo "An Essay in Dynamic Theory" vào năm 1939.

​Evsey Domar (Mỹ): Phát triển một mô hình tương tự một cách độc lập và công bố vào năm 1946 trong bài báo "Capital Expansion, Rate of Growth, and Employment".

​Bối cảnh: Họ muốn tìm cách duy trì sự ổn định kinh tế và tránh suy thoái sau Thế chiến II bằng cách tập trung vào tích lũy vốn (K).

​2. Mô hình Solow-Swan (1956)

​Mô hình này ra đời để khắc phục những nhược điểm "không ổn định" của Harrod-Domar.

​Robert Solow: Công bố bài báo kinh điển "A Contribution to the Theory of Economic Growth" vào tháng 2 năm 1956.

​Trevor Swan: Cũng công bố một nghiên cứu tương tự cùng năm 1956 tại Úc.
​Bối cảnh: Solow đưa thêm yếu tố Tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng, cho rằng vốn không thể giúp tăng trưởng vĩnh viễn vì quy luật lợi nhuận biên giảm dần.

​3. Thuyết Tăng trưởng Nội sinh - Paul Romer (1986 - 1990)

​Đây là bước ngoặt hiện đại nhất, giúp Paul Romer nhận giải Nobel Kinh tế năm 2018.

​Giai đoạn sơ khởi: Năm 1986, Romer công bố bài báo "Increasing Returns and Long-Run Growth", đặt nền móng cho ý tưởng tri thức là động lực tăng trưởng.

​Giai đoạn hoàn thiện: Năm 1990, ông công bố bài báo quan trọng nhất: "Endogenous Technological Change".

​Bối cảnh: Romer chứng minh rằng công nghệ không phải là yếu tố "trên trời rơi xuống" (ngoại sinh) như Solow nói, mà là kết quả của việc đầu tư vào R&D và Con người (nội sinh).

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



*Chú ý: Nội dung là sản phẩm trao đổi với AI, chỉ nhằm mục đích tham khảo, không cho phép sao chép.

Kính lễ Thủy Tổ Đại Việt Kinh Dương Vương.
Kính lễ Thượng Tọa Thiên Tôn, Bác Hồ.

NƯỚC VIỆT NAM VĨ ĐẠI, DÂN TỘC VIỆT NAM VĨ ĐẠI !




VNEXPRESS.NET

Thứ năm, 5/2/2026, 06:00 (GMT+7)

GS Ngô Bảo Châu: Thu hút nhân tài không thể chờ tự ứng cử...

Đa số các nhà khoa học trong trường đại học ở Việt Nam rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, không có hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, không có khả năng, kinh phí mời các nhà khoa học quốc tế về cộng tác. Trong 15 năm qua, Viện đã hỗ trợ kết nối các giáo sư quốc tế đến Việt Nam, tạo ra điểm gặp gỡ học thuật cho giới toán học trong và ngoài nước.

Điều quan trọng là VIASM đã tạo dựng được uy tín cao trong cộng đồng nhà khoa học châu Á và thế giới. Viện cũng xây dựng mạng lưới học giả hội tụ (VIASM Convergence Fellows Program), tức các nhà khoa học thành danh ở nước ngoài về Việt Nam làm việc, với vị trí đồng cơ hữu trong một số tháng nhất định và liên tục nhiều năm. Năm 2026 cũng sẽ có 6-7 học giả hội tụ như thế.

Tuy nhiên, đã đến lúc VIASM cần được đầu tư mạnh mẽ hơn, và xây dựng một hướng đi mới để bứt phá. Tôi cũng không thể đảm nhiệm công việc Giám đốc Khoa học của Viện suốt đời, sẽ có lúc cần chuyển giao cho những người trẻ tiếp quản. Thế nên, 2-3 năm nay, tôi và Ban Giám đốc của Viện tích cực chuẩn bị cho thế hệ kế cận, chủ động mời họ tham gia các công việc của Viện...

Với tôi, cuộc sống giống như một vòng tròn nhưng không quay lại chỗ cũ sau mỗi vòng quay. 18 năm đầu tôi sinh ra và trưởng thành ở Việt Nam, rồi sang Pháp học và làm việc 18 năm, qua Mỹ cũng đã 18 năm, tới giờ trên con đường trở lại châu Á. Trước đây, tôi không có ý định rời Mỹ dù nhận nhiều lời mời, nhưng một năm qua, tôi bắt đầu thay đổi ý định. Tôi sẽ chính thức bắt đầu công việc ở Đại học Hong Kong từ tháng 6/2026.

Lý do đầu tiên là bố mẹ tôi cũng lớn tuổi nên tôi muốn chuyển về gần Việt Nam hơn. Thêm nữa, nhiều năm qua, một việc tôi rất muốn làm, song chưa thể thực hiện vì thiếu thời gian, cơ hội, đó là trực tiếp đào tạo học sinh, sinh viên trong nước.

Ở Mỹ, mỗi năm tôi về Việt Nam nhiều lắm được hai lần, dịp hè khoảng 2-3 tháng, còn mùa đông xuân thì 2-3 tuần. Trong khi, tôi vẫn đảm trách vị trí Giám đốc Khoa học của VIASM, nên khi về nước thường phải xử lý cả các công việc liên quan đến quản lý, rất mất thời gian.

Nếu ở Hong Kong, 1-2 tuần tôi có thể bay về nước một lần. Tôi dự định trực tiếp đào tạo cho học sinh, sinh viên và các nghiên cứu sinh Việt Nam - điều tôi luôn ấp ủ. Ngoài ra, tôi cũng kỳ vọng xây dựng một mạng lưới nghiên cứu Toán ở châu Á, tập hợp các nhà khoa học trong khu vực. Về Hong Kong, tôi có thể hiện thực hóa ước muốn này...

Tôi nghĩ nhiều nhà quản lý cho rằng trong đào tạo cần phải có tự chủ, phải có hạch toán thu chi. Vì thế, các nghiên cứu sinh được nhìn nhận như một nguồn thu tài chính, phải trả học phí. Tư duy đó rất thô sơ.

Trên thế giới, doanh thu của các trường đại học đến từ đào tạo sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu và các khoản tài trợ. Còn nghiên cứu sinh là nơi cần đầu tư, vì đó là những người đang học cách tạo ra tri thức. Đây là công đoạn có thể so sánh với tế bào gốc trong phát triển khoa học, xứng đáng được đầu tư.

Cách đây hơn 5 năm, khi xây dựng Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2021-2030, chúng tôi đã đề nghị Nhà nước có học bổng cho nghiên cứu sinh, nhưng đề nghị này đã bị bác do Nghị định về học bổng không có đối tượng sau đại học.

Vì vậy, tôi rất mừng khi Nghị quyết 57 (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) đề cập đến sự cần thiết có cơ chế, chính sách hấp dẫn thu hút học sinh, sinh viên giỏi trong các lĩnh vực then chốt, nhất là ở trình độ sau đại học. Mới đây, tôi được biết đã có chủ trương miễn học phí và cấp học bổng ngay từ năm nay cho nghiên cứu sinh tại một số đại học trọng điểm (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP H.C.M, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Bách Khoa Hà Nội - PV). Đây là một hướng đi hoàn toàn đúng, nhưng giá mà điều này được thực hiện từ 5 năm trước!

Tôi hy vọng ngay trong năm 2026, chương trình đào tạo tiến sĩ Toán học xuất sắc phối hợp giữa VIASM và Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ được thông báo và chính thức tuyển sinh. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo những tiến sĩ có trình độ tương đương các trường, viện tiên tiến trên thế giới, với sự tham gia của các nhà toán học hàng đầu Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Tuyển người giỏi phải chủ động !

...



Sửa bởi VNhieu: 05/02/2026 - 09:56
Trích dẫn


7 8 9