Gửi vào 30/07/2022 - 20:50
Giáp Thân / Nhâm Thân / Ất Tị / Mậu Dần Quý Dậu -Giáp Tuất -Ất Hợi -Bính Tý -Đinh Sửu -Mậu Dần -Kỷ Mão
Đây là mệnh Tiết tướng công đã luận ở phần Luận Chính quan (ở chương trước), nguyệt lệnh Chính quan kiêm dụng Tài Ấn, mừng giữa Tài và Ấn có Ất mộc ngăn cách làm cả hai không gây trở ngại cho nhau, nên có thể kiêm dụng. Nhưng mùa thu mộc điêu linh (tàn tạ), Quan phùng sinh gặp lộc, Tài cũng phùng sinh gặp lộc, Tài Quan cực vượng, nên mới gọi là thân hơi nhược (sảo khinh), cần phải trợ giúp thân. Dậu vận Thất sát, tiết Tài sinh Ấn là cực đẹp, Giáp vận trợ thân cũng tốt. Nếu trụ năm Giáp Thân mà đổi thành Kỷ Dậu, hành Giáp vận hợp Kiếp phá Ấn (thủy), tức không tốt. Thế mới nói do phối hợp của nhàn thần mà hỷ kị khác nhau. Tuất vận Tài vượng; nhưng mừng vì không tổn thương Ấn, nên không ngại. Vận Ất Hợi theo phương Bắc là đất Ấn thụ, nhưng đến Hợi vận gặp tứ xung khó tránh khỏi sóng gió ba đào, thế mới nói do phối hợp địa chi khác nhau mà hỉ kỵ cũng khác. Mậu vận Tài tinh phá Ấn, dần vận lưỡng dần xung Quan, cả hai đều không tốt, e rằng đến đây thì tận số.
trụ này có tam hình ngộ quí vì ất kỷ thử hầu hương
quí nhân mà gặp hình là quan mệnh
nhưng mà giấp thân năm thiên khắc địa xung mậu dần, thì con khắc cha, dưới khắc trên vì nạp âm giờ khắc nạp âm năm
nhâm thân và ất tỵ thì vừa hình vừa có nạp âm khắc!
cho nên quan hệ lục thân không tốt, con cháu sinh ra đều bất hiển mà bất hiếu
than là quan tinh đội mũ ấn , cho nên là một mệnh quan
đại vận mậu dần đủ cái xấu của hình xung
Nhâm Tuất / Đinh Mùi / Mậu Thân / Ất Mão
Mậu Thân -Kỷ Dậu -Canh Tuất -Tân Hợi -Nhâm Tý -Quý Sửu
Đây là mệnh ví dụ về tạp khí Chính quan trong phần Luận Chính quan ở chương trước, tuy Tài Ấn thấu có Đinh Nhâm hợp, nhưng Tài Ấn đều mất tác dụng (xem thêm tiết Thập can phối hợp tính tình), nên luận Quan cô độc không có phụ trợ. Thêm vào đó Mão Thân tương hợp (do tàng Ất Canh ám hợp), Tuất Mùi tương hình, gốc Quan tinh bị tổn hại, đây là nhược điểm cơ bản của bát tự này. Vào vận thì nhật nguyên đang vượng, Quan tinh hơi mỏng nên cần phải trợ giúp Quan. Trước vận Canh tuất thì không có vận tốt, hai mươi năm vận Hợi Nhâm Tý Quý là vận Tài, sinh trợ Quan tinh, là lúc thỏa chí cuộc đời.
mệnh vượng mà may nhờ nhâm hợp đinh ấn...quan là dụng thì ở cạnh nên có quan
mão là ất, thân là canh, tương hợp mà khắc chế quan, nên cần có thủy trợ
toàn địa chi đều chế ngự quan tinh trên trụ giờ
quan tinh trên trụ giờ, giờ là cái đầu, quan tinh trên trụ giờ cũng ám chỉ đầu đội mũ quan
Ất Mão / Đinh Hợi / Đinh Mùi / Canh Tuất Bính Tuất - Ất Dậu - Giáp Thân - Quý Mùi - Nhâm Ngọ - Tân Tị
Quan hóa thành Ấn mà thấu Tài, đây là mệnh Kim Trạng nguyên đã nói đến ở chương Chính Quan. Hợi Mão Mùi tam hợp mộc cục, cho nên Quan (nguyệt lệnh Hợi thủy) hóa thành Ấn (mộc), Ất mộc lộ ra, thân vượng Ấn trọng. Dụng Tài để tổn Ấn, trụ giờ gặp Canh Tuất là Tài tinh hữu căn (Canh thông gốc tại Tuất do Tuất tàng Mậu Tân Đinh). Ban đầu hành vận hướng Tây Thân Dậu là Tài địa, Giáp không thông căn mất gốc, Ất tòng theo Canh để hóa, cho nên tự thành vận tốt đẹp như ý. Sau là vận Quý Mùi, vận chuyển sang phương Nam, nhật nguyên quá vượng, Nhâm Quý là Quan Sát tiết Tài sinh Ấn, cũng không được như ý. Đây là cái mà gọi là "Thân vượng bội Ấn, hỉ Thực Thương Tài hương".
hợi là quan tinh thực tế không quá vượng, vì bị mão tiết khí, mùi khắc chế, nên ưa gặp sinh chứ không ưa khắc tiết!
chứ không thể nói là thân quá vượng
quan tinh bị chi vây hao tiết khắc, can không thấu nên cần vận trợ!
Kỷ Mão / Tân Mùi / Nhâm Dần / Tân Hợi Canh Ngọ - Kỷ Tị - Mậu Thìn - Đinh Mão - Bính Dần - Ất Sửu
Đây là mệnh Tuyên Tham Quốc đã nói ở phần Chính quan. Hợi Mão Mùi tam hợp mộc cục, Quan hóa thành Thương, nhật nguyên đóng ở Dần mộc, Dần Hợi lại hợp để hóa mộc, Thương Quan trùng trùng. Nhật nguyên tiết khí quá mức, lấy Tân Ấn chế Thương trợ thân làm dụng. Hai mươi năm Kỷ Tị, Mậu Thìn là đất Quan Sát vượng sinh cho Tân Ấn, nên tự là vận tốt; sau vừa nhập vận Đinh, Tài tinh phá Ấn, không thể dùng được rồi.
quan mùi bị dần mão vây khắc, vào mão mộc là bị khắc nặng hơn rồi, chứ chẳng phải do chữ Đinh!
mệnh được toàn bộ can sinh cho nên chẳng nhược
can nó có công năng hút toàn bộ khí của chi như cái lá cây hút nhựa từ gốc vậy
còn chi nhờ có can mà phát tiết ra sức mạnh
cứ ngắm cái cây là hiểu bản chất của can chi
khi mà 3 cái can kia nó hút sạch chất của chi mà sinh cho can ngày, thì can ngày không thể nhược được!