Jump to content

Advertisements




Quà tặng: Manh Phái Xuyên Cung Áp Vận


  • Bạn không thể gửi trả lời cho chủ đề này
No replies to this topic

#1 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1129 Bài viết:
  • 1756 thanks

Gửi vào 08/06/2019 - 13:40

MANH PHÁI TRẤN SƠN CHI BẢO - XUYÊN CUNG ÁP VẬN ĐOÁN MỆNH THUẬT

Đến hẹn lại lên, tháng 6/2019 là tròn 6 năm từ lúc tôi bắt đầu nghiên cứu bộ môn Tử Bình. Tôi quan niệm nếu Tổ cho mình học hành tinh tiến, thì mình cũng nên chia sẻ lại một ít, xem như chia lộc Tổ để mọi người cùng vui, lấy thảo.

Phía dưới tôi dịch lại một tài liệu có tên Manh Phái Trấn Sơn Chi Bảo - Xuyên Cung Áp Vận Đoán Mệnh Thuật. Xin lưu ý đây là tài liệu trên mạng, độ khả tín không cao.

Tuy tôi không vận dụng toàn bộ hoặc rập khuôn thuật Xuyên Cung Áp Vận, nhưng tôi có vận dụng một bộ phận, và bộ phận này cùng với kĩ thuật ám thần, phi cung, tiểu thời không định vị, được bao lại bằng lớp vỏ Vượng Suy Pháp, tạo thành hệ thống mệnh lý hiện tôi dùng để đoán mệnh.

Tôi vẫn giữ vững quan niệm học mệnh lý, phần quan trọng là tuỳ duyên, đạo là từ giữa tự nhiên mà đến, cho nên đến thời điểm này tôi sẽ không chỉ rõ tôi sử dụng phần nào trong thuật Xuyên Cung Áp Vận này, nhằm tránh ảnh hưởng đến tư duy cũng như duyên pháp của người khác. Tuy nhiên, một thời gian sau, nếu tôi nhận thấy thời cơ chín muồi hoặc cơ duyên đưa đẩy, tôi (chắc chắn) sẽ quay trở lại giải thích kĩ hơn và hướng dẫn chi tiết bộ phận mà tôi cho là rất có giá trị thực chiến trong thuật Xuyên Cung Áp Vận này.

Một lần nữa, đây là một tài liệu trên mạng, lại rất thiên môn, cho nên có nhiều chỗ bất cập. Tôi mong mọi người thận đọc, cần giữ tư duy lô-gíc để gạn đục khơi trong khi đọc tài liệu này.

----- Nội dung Xuyên Cung Áp Vận -----

MANH PHÁI TRẤN SƠN CHI BẢO – XUYÊN CUNG ÁP VẬN ĐOÁN MỆNH THUẬT

Một: Định Cách Tứ Trụ

Niên là mùa xuân, nguyệt là mùa hạ, nhật là mùa thu, thời là mùa đông.

Hai: Tổng thể về Xuyên cung

1. Thái Tuế, 2. Thanh Long, 3. Tang Môn, 4. Lục Hợp, 5. Quan Phù, 6. Tiểu Hao, 7. Đại Hao, 8. Chu Tước, 9. Bạch Hổ, 10. Quý Nhân, 11. Điếu Khách, 12. Bệnh Phù.

Thái Tuế khởi tại địa chi lưu niên. Thiên can thì phán đoán theo phương pháp thông chi.

Ba: Mười hai thần tường giải

1. Thái Tuế

Thái Tuế áp vận phi phúc tức hoạ
Thái Tuế áp vận khởi hoạ đoan
Thương tài nhạ khí tâm bất cam
Kinh thiên động địa hoạ lai lâm
Thị thị phi phi bả nhân triền
Tha nhân nhàn sự thiết vận quản
Vị vũ trù mâu thả an nhiên.
Thái Tuế vận niên đa ưu sầu,
Khẩu thiệt lâm môn bất tự do
Tật bệnh triền thân tiểu nhân xâm
Hôn nhân tiền tài mạc cường cầu.
Vận phùng Thái Tuế nan chu,
Khuyến quân trì trọng mạc viễn du.

Giải: Thái Tuế là thần sát trung tính, gặp cát tinh thì cát, gặp hung tinh thì hung. Không cần xét gặp cát tinh hay hung tinh, chỉ cần thấy Thái Tuế tại địa chi thì luận là hung.

2. Thanh Long

Thanh Long thị hỷ thần,
Đại hỷ hữu kỉ trọng,
Hà hoa sanh quý tử
Môn tiền ứng hồng thanh
Thanh Long nhập mệnh đại cát tường
Sáng nghiệp mưu sự hữu nhân bang
Thiêm nhân tiến khẩu sanh quý tử
Gia trong hỷ sự nhất thung thung.
Quan vận hanh thông tài vận hảo
Tức sử hữu hoả bất vi ương
Giải: Thanh Long là cát tinh, vượng thì cát, thấy cát tinh cũng là cát. Nếu như bị hung tinh cái (che) thì hung. Bị trugn tính tinh cái đầu luận cát.

3. Tang Môn

Tang môn thị khốc tinh, lạc lệ hữu kỉ hành.
Tang Môn vận niên tâm bất an
Cầu tài vọng hỷ đa uống nhiên
Bất thị thương nhânt ựu tổn tài
Ưu tư trọng trọng chỉnh nhất niên
Bất hữu nội hiếu hữu ngoại hiếu
Phạm trứ Tâng Môn lệ liên liên

Giải: Tang Môn là tiểu hung tinh, nhược là cát, không vong là cát, nếu như bị cát tinh cái đầu thì ứng với tiểu hung.

4. Lục Hợp

Lục Hợp kiến Lục Hợp
Tất định hỷ sự phùng.
Hữu thê sinh quý tử,
Vô thê thú kiều nga.
Lục Hợp nhập mệnh đại cát xương
Vạn sự thuận tuỳ nhân vu vượng
Đa đắc thân hữu lai phù trợ
Túng hữu nghịch phong bất khởi lãng
Cầu tài mưu lợi giai như ý
Thiêm hỷ tiến tài thời vận cường.

Giải: Lục Hợp là cát tinh.

5. Quan Phù

Quan Phù là hồng loan, gặp thì năm đó có hỷ, không nên dính đến thị phi, nếu không sẽ có hoạ.

Quan Phù nhập mệnh làm người lo lắng, thị phi khẩu thiệt liên miên không dứt, dù đất bằng cũng phải nổi sóng, ưu tư phiền hà không thấy phần cuối. Tiền tài di tán, vật hao tổn. Phạm Quan Phù thì khó lòng tự do.

Giải: Quan Phù là trung tính tinh.

6. Tiểu Hao

Thời vận nhiều điên đảo, làm việc gì cũng không chắc chắn. Tiền tài nhiều hao tán, gia tài bị quỷ trộm.

Năm gặp Tiểu Hao nhiều phiền não, thị phi khẩu thiệt liên miên, dễ bị kiện tụng, tranh chấp, tiền tài dễ tổn hao, phải bôn ba không ngừng, làm việc không được như ý, nhiều trở ngại.

Giải: Tiểu Hao là tiểu hung tinh.

7. Đại Hao (Tuế Phá)

Gặp Đại Hao nhất định không thể cát tường, cha hoặc mẹ bị thương tổn. Năm phạm Đại Hao tiền tài nhất định hao tổn, bạn bè quay lưng phản bộ. Gặp Đạo Hao là vận xấu, sẽ có người bị thương tổn, bị người ném đá xuống giếng.

Năm gặp Tuế Phá thì hoạ không nhỏ, dễ bị kiện tụng, trộm cắp, nếu không bị phá tài hoặc gặp việc ung, thì cũng bị bệnh tật. Nếu gặp thêm Bạch Hổ, càng dễ có việc tang chế.

Giải: Đại Hao là đại hung tinh.

8. Chu Tước

Chu Tước mà áp vận thì hung, nhiều thị phi khẩu thiệt, trong ngoài đều xảy ra mâu thuẫn, tiểu nhân hoành hành, làm gì cũng như phạm La Hầu, dù cho có lý cũng không có người theo cái lý của mình, có oan không biết kêu ở đâu, đành phải chịu vu oan.

Chu Tước nhập mệnh thì sinh khẩu thiệt, nhiều phong ba, tâm thần không yên, cầu danh cầu tài đều không lợi, nhiều cản trở mà ít thành công, tốt nhất là được Tử Vi chiếu, sẽ được phùng hung hoá cát mà thái bình.

Giải: Chu Tước là đại hung tinh.

9. Bạch Hổ

Bạch Hổ áp vận, không gặp tai thì cũng gặp hoạ, như Thiết La Hán té giếng, có thực lực mà không thể thi triển. Bạch Hổ hạ sơn đến, sẽ gặp khẩu thiệt, lại gặp hung tai.

Bạch Hổ nhập mệnh là hung hiểm nhất, sẽ gặp huyết quang thương tật, hoặc tang sự nội ngoại, thiên tai hoành hành. Bạch Hổ đương niên thì tâm không an, cả năm bốn mùa đều không thể thanh nhàn.

Giải: Bạch Hổ là đại hung tinh, không thể bị bất kì tinh nào cái đầu, cái đầu tất hung.

10. Quý Thần

Quý Thần áp vận sự cát tường
Tài Nguyên quảng tiến hỷ hựu hoà.
Xuân bất kiến hỷ thu dã kiến
Tài hỷ song toàn bất dụng thuyết.
Nam ngộ Quý Thần thiên tứ tường,
Nữ kiến Quý Thần hỷ sự đa.
Quý Thần nhập mệnh phúc thọ trường,
Tài vận hanh thông thân an khang,
Thiện dữ nhân giao thụ nhân kính,
Cao quan hậu lộc danh viễn dương,
Phàm sự đô hữu quý nhân bang,
Vận phùng Quý Thần tâm hoan sướng.

Giải: Quý Thần là cát tinh.

11. Điếu Khách

Điếu Khách áp vận là việc hung, chắc chắn có việc thị phi, tai ương. Nam phạm Điếu Khách thì không thuận, nữ phạm Điếu Khách thì gặp tai ương.

Điếu Khách tại lưu niên cũng hung, người thân gần xa không an ổn, cầu tài mưu lợi khó như ý, việc gì cũng thấy tối tăm, tiêu điều. Tuế mà gặp Điếu Khách tâm bất an, việc lo lắng cũ chưa qua, việc lo lắng mới đã tới.

Giải: Điếu Khách là tiểu hung tinh.

12. Bệnh Phù

Bệnh Phù áp vận không nên cứng rắn, ương ngạnh, làm việc gì cũng phải suy đi nghĩ lại ba bốn lần may ra mới không có hoạ. Người dễ mang bệnh mà lo lắng, tai nạn khó, tam tai bát nạn, khó được như ý. Bệnh Phù nhập mệnh bệnh trùng trùng, người mang bệnh tật gia đình không yên, giải quyết việc gì cũng không như ý, sớm sớm tối tối đều ưu sầu.

Giải: Bệnh PHù là tiểu hung tinh

Bốn: Qui loại của mười hai thần

Phá tài tinh: Đại Hao, Tiểu Hao, Tang Môn.

Quý nhân tinh: Thanh Long, Lục Hợp, Quý Thần.

Tiểu nhân tinh: Tang Môn, Chu Tước, Điếu Khách, hoặc tam cát tinh bị hung tinh che đầu (cái đầu), hoặc tam cát tinh gặp không vong, hoặc tam cát tinh cực nhược.

Quan tai tinh: Chu Tước, Thái Tuế bị cái đầu, Bạch Hổ, Quan Phù phối hung tinh.

Huyết quang tinh: Bạch Hổ bị cái đầu, Bệnh Phù vượng phối hung tinh.

Sự nghiệp tinh: Thanh Long, Quý Thần, Quan Phù phối cát tinh.

Tài vận tinh: Lục Hợp, Quan Phù phối cát tinh.

Dịch Mão (?) tinh: Thanh Long, Bạch Hổ phối cát tinh, Điếu Khách phối cát tinh.

Hôn nhân tinh: Lục Hợp, Thanh ong, Quý Thần, Quan Phù phối cát tinh.

Văn bằng tinh: Thanh Long, Lục Hợp.

Thọ nguyên tinh: Lục Hợp, Quý Thần.

Tử nữ tinh: Lục Hợp, Tiểu Hao phối cát tinh.

Tật bệnh tinh: Bệnh Phù, Bạch Hổ nhược, Tiểu Hao, Tang Môn.

Tử nhân tinh: Tang Môn, Điếu Khách cùng hiện tại tứ trụ, thân, thai,mệnh, đại vận, là có tang nhỏ. Đại vận, thai, thân, mệnh thấy Đại Hao phối hung tinh, tứ trụ thấy Tang Môn, Điếu Khách là tang lớn.

Chú: (1) Vượng suy của tám chữ trong mệnh do chi của đại vận quyết định, còn thai, thân, mệnh thì không tính vượng suy. (2) Nói phối cát tinh hay hung tinh là chỉ cùng một trụ mà tính, hoặc là do đại vận kết hợp vượng thần trong tứ trụ mà luận. (3) Đại vận đến mười hai thần là căn bản của một năm, nếu như là hung tướng thì cả năm không tốt, dù cho có cát tinh cũng không tính là tốt, chỉ có thể luận là theo mùa thì tại trụ đó có thể tốt một chút mà thôi. (4) Trong tứ trụ thì vượng tinh là chủ đạo, nhược tinh là phụ, quá nhược thì phản dụng. (5) Can chi lưu niên không phối với mười hai thần, chỉ có tác dụng làm thái cực điểm để khởi Thái Tuế. (6) Mười hai thần trong tứ trụ phân tích theo mùa, thiên can đại biểu trước nửa mùa, địa chi đại biểu sau nửa mùa. (7) Mười hai thần của thai, thân, mệnh phân tích ứng dụng, là như thế nào thì ứng với tháng nào (hoặc là đối xung tháng). (8) Đem mười hai thần phối lục thân có thể suy đoán ứng vào bản thân hay ứng vào người thân.

Vào tháng tư năm 2006, trong lớp học tại Bồng Lai Phần Sơn Đông, học viên Đổng Hải Ba dùng bát tự của bản thân để kiểm nghiệm vận trình hai năm Giáp Thân và Ất Dậu.

Càn tạo:

Lục Hợp Nhâm Tý, Quan Phù thai nguyên: Đại Hao Giáp Thìn Bạch Hổ
Quan PHù Nhâm Sửu Tiểu Hao mệnh cục: Lục Hợp Nhâm Tý Quan Phù
Đại Hao Giáp Thìn Bạch Hổ thân cung: Quý Thần Bính Ngọ Điều Khách
Tang Môn Mậu Thìn Bạch Hổ

Đại vận: Quý Thần Bính Thìn Bạch Hổ
Năm giáp Thân vận trình:

Mười Hai thần trong đại vận là căn bản của một năm. Quý Thần che Bạch Hổ, Hổ vốn là hung tinh mạnh nhất, lão hổ không nên bị kỵ, kỵ thì phản sẽ càng hung. Năm này gia đình có người phạm huyết quang.

Thời chi Thìn thổ lâm Thiên Tài là Bạch Hổ tất ứng nghiệm cha gặp huyết quang. Thời trụ còn là mùa đông nên mùa đông sẽ là ứng kỳ. Chi là một nửa cuối của mùa đông, nên sẽ ứng nghiệm vào nửa cuối tháng mười một và tháng mười hai. (Phản hồi: thật đúng! Cha tôi vào tháng mười hai bị tai nạn xe cộ.) Nhật chi lâm Bạch Hổ. Nhật chi là cung phối ngẫu, là nửa cuối tháng tám và tháng chín sẽ gặp huyết quang. (Phản hồi: người yêu bị lưu sản).

Năm này Lục Hợp, Quan Phù hành vận, tất có hỷ sự. (Phản hồi: Tôi kết hôn).

Tang môn Nhâm Tý lục Hợp
Lục hợp Quý Sửu quan Phù
Tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Thanh long Mậu Thìn chu tước
Thai nguyên: Tiểu hao Giáp Thìn chu tước.
Mệnh cung: Tang môn Nhâm Tý lục hợp
Thân cung: Bạch hổ Bính Ngọ quý thần

Đại Vận: Bạch hổ Bính Thìn chu tước
Vận trình năm Ất Dậu:

Mười hai thần nhập đại vận là căn bản của một năm. Bạch Hổ gặp Chu Tước tất sẽ gặp quan phi kiện tụng. Mùa đông là hành vận Thanh Long nên có thể giải. (Phản hồi: Đúng! Là cha của tôi có kiện cáo từ hồi năm ngoái, mùa đông năm nay mới có thể giải quyết).

Càn Tạo:

Quý thần Nhâm Ngọ quan phù
Quý Thần Nhâm Dần Thái Tuế
Thái Tuế Giáp Ngọ Quan Phù
Quý Thần Nhâm Thân Đại Hao
Thai nguyên: Điếu khách Quý Tỵ lục Hợp
Mệnh cung: Quan phù Đinh Mùi tiểu hao
Thân cung: Chu tước Tân Hợi quý thần


Đại vận: Bạch hổ Mậu Thân đại hao

Người này vào năm 1997 nhờ xem vận trình, sau đó đến tháng Giêng năm 1999 quay lại cho phản hồi, đồng thời tiếp tục nhờ xem hậu vận.

Vận Trình năm Mậu Dần:

Mười hai thần nhập đại vận là căn bản của một năm. Bạch Hổ cùng Đại Hao phá tài không nói, lại thêm lao lực mà không ích gì, cũng có thể là gánh tội cho người khác. Đại vận có Đại Hao là tiêu chí phá tài, vậy thử xem nguyên do phá tài là gì. Đại Hao Thân hợp trói Lục Hợp Tỵ hoả là hợp tác phá tài, Lục Hợp Không Vong tức ứng với tiểu nhân, Tỵ hoả trụ là thân người không cao, mà giọng nói có âm vực cao, tính tình gấp gáp, người khá cường tráng, mặt chữ điền hồng hào; là dương hoả lại thêm Nhật Can là dương gặp dương nên chắc chắn là một người nam. Mãn bàn gặp Quý Thần chắc chắn gặp quý nhân tương trợ, lại Thái Tuế trì thân phối hợp Quan Phù là cát tượng. Thái Tuế tức lãnh đạo, Quan Phù là công tác, sự nghiệp, tài vận. Niêm trụ lại có Quý Thần phối với Quan Phù, lại có Quý Thần vượng tướng. Chắc chắn là tượng nhờ Quý Nhân tương trợ mà phát tài. Nhâm thuỷ là vóc người trung bình (căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương mà tính thì vóc người trung bình là từ 1m73 đến 1m75), sắc mặt trắng, mắt to, nhãn thần phiêu hốt bất định. Phản hồi: năm này cùng cha vợ hợp tác làm ăn. Người cha vợ này có tướng mạo phù hợp với phán đoán, lừa đương số một cú nghiêm trọng, tốn hao không ít tiền, nhưng có một người bạn có tướng mạo như phán đoán, giúp đương số giải quyết thủ tục giải thể công ty.

Để dễ dàng cho độc giả phán đoán tướng mạo, phía dưới công khai đặc trưng tướng mạo của mười thiên can và mười hai địa chi.

Giáp: cao lớn cường tráng, thân hình cương trực, uy võ ổn trọng, lão thành lão luyện.

Ất: tuy cao nhưng gầy, người không cứng mà mềm, eo nhỏ, làm người nhu nhược.

Bính: chiều cao trung bình, cường tráng, sắc mặt hồng hào, lưỡng huyền cao (xương gò má cao), ngoài cứng trong mềm.

Đinh: chiều cao trung bình, thân người mảnh mai, mặt bầu, mong manh.

Mậu: chiều cao trung bình khá, thân thể tráng kiện, mặt có sắc vàng, ổn trọng lão thành.

Kỷ: chiều cao trung bình thấp, mặt trủng, nhanh nhẹn tháo vát.
Canh: người cao, tráng kiện, mặt có sắc trắng, chân đi hình chữ bát, thẳng thắn thành thật.

Tân: người cao nhưng ốm, mặt trái xoan, ngoài mềm trong cứng.
Nhâm: chiều cao trung bình, mặt có sắc trắng, mắt to, nhãn thần phiêu hốt bất định.

Quý: chiều cao trung bình, mặt trái xoan nhưng có sắc đen, vai rộng, chân đi hình chữ bát.

Đặc trưng tướng mão của mười hai địa chi:

Tý: chiều cao trung bình khá, hơi mập, mặt có sắc đen, cũng có thể có nhiều màu sắc, gò má cao, eo to.

Sửu: thấp bé, mặt hẹp, mặt có sẹo màu vàng.

Dần: người cao to hùng vĩ, thân kiện thể tráng, tướng đi chữ bát, vai rộng.

Mão: thân người trung bình, người mảnh mai, chân thon, giữa hai chân có khoảng trống rộng.

Thìn: người cao to hùng vĩ, mặt có sắc vàng, mặt có nhiều nếp nhăn, chân đi chữ bát.

Tỵ: thấp bé, mặt có sắc hồng, mặt có hình trên nhỏ dưới to, cằm vuông.

Ngọ: cao mà ốm, mặt trái xoan, vai rộng, dáng đi chữ bát, mặt có nhiều nếp nhăn.

Mùi: ốm mà cao, mặt trái xoan, gò má cao.

Thân: người cao to hùng vĩ, mặt hình oval, trán nhô.

Dậu: thấp mà mập, mặt chữ điền.

Tuất: người cao to hùng tráng, mặt có nhiều nếp nhăn hoặc sẹo, bước chân hình chữ bát.

Hợi: cao mà gầy, eo thon cổ cao, bước chân chữ bát, mặt có sắc đen nhiều nếp nhăn hoặc sẹo.

Phía trên ghi lại đặc trưng tướng mạo của mười thiên can và mười hai địa chi, chứ không chỉ bản thân mệnh chủ, tức là chỉ tướng mạo của quý nhân và tiểu nhân, cũng là chỉ địa chi của lưu niên căn cứ theo mệnh cục mà khởi Thái Tuế gặp “quý nhân tinh” và “tiểu nhân tinh” có đặc trưng tướng mạo như thế nào. Lại căn cứ mối quan hệ âm dương của nhật can cùng “quý nhân tinh” và “tiểu nhân tinh” mà xác định giới tính của quý nhân hoặc tiểu nhân, nếu cùng âm hoặc cùng dương thì cùng giới tính với mệnh chủ, âm dương khác biệt tức khác giới tính với mệnh chủ. Khẩu quyết đoán lưu niên “xuyên cung áp vận” thực là bí mật bất truyền trong thực chiến ứng dụng luận đoán, là đường tắt trong các đường tắt trong mệnh lý học, hi vọng độc giả nghiên cứu và lí giải kĩ lưỡng. Phía dưới tôi sẽ luận giải công khai mười cục lưu niên để tiện cho độc giả dễ dàng nghiên cứu lí giải.

Càn tạo: Quý Mùi - Ất Sửu - Ất Mùi – Mậu Dần
Thai nguyên: Bính Thìn
Mệnh cung: Giáp Dần
Thân cung: Bính Thìn

Đại vận: 9 Giáp Tý, 19 Quý Hợi, 29 Nhâm Tuất, 39 Tân Dậu, 49 Canh Thân, 59 Kỷ Mùi.

Năm 1999 Kỷ Mão, hành vận Canh Thân.

Đại vận Canh Thân Tiểu Hao gặp Tiểu Hao, tất nhiên là phá tài nhưng … (?)

Thai mệnh thân là ngã cung. Thai nguyên Bính Thìn, Tang môn cái Thanh Long chủ tiểu nhân đương lệnh, nhũng nhiễu gây nhiều phiền não, là văn thư động mà dẫn phát phiền não. Mệnh cung Giáp Dần Bệnh Phù cái Bệnh Phù tức là bệnh tật liên miên, mộc là bệnh ở tứ chi, gan, mật và thần kinh. Thân cung Bính Thìn và thai nguyên luận giống nhau. Mùa xuân hành Quý Mùi, Quý Thần cái Quan Phù, tài vận khá tốt, có quý nhân giúp đỡ, nhưng có thất thoát một ít tiền bạc. Mùa hạ hành Ất Sửu, Thái Tuế cái Điếu Khách, là Thái Tuế phối hung tinh chắc chắn sẽ có thị phi. Thái Tuế là cấp trên, lãnh đạo; tức là lãnh đạo mọi nơi, nhiều kiểu gây rắc rối phiền phức cho mình. Mùa thu Ất Mùi, Thái Tuế cái Quan PHù, là trung tinh tương phối, không phải đại hung cũng không phải đại cát. Quan Phù là công tác, là tài vận, bị cấp trên chèn áp hao tài.

Năm 2000 Canh Thìn, hành vận Canh Thân.

Đại vận hành Canh Thân, Quan Phù phối Quan Phù, về phương diện công tác không cát lợi.

Thai nguyên, thân cung Bính Thìn, Thanh Long tiến Thái Tuế không cát, lãnh đạo tất sẽ ngấm ngầm đàn áp. Mệnh cung Giáp Dần, là Điếu Khách gặp Điếu Khách, tất sẽ gặp việc lo lắng, phiền nhiễu luôn luôn. Mùa xuân hành Quý Mùi là Bạch Hổ cái Lục Hợp, tất sẽ gặp tiểu nhân, khẩu thiệt, thị phi, hoặc phải chịu oan ức cho người khác. Mùa hạ hành Ất Sửu là Bệnh Phù cái Quý Thần, tất sẽ bị bệnh tật về liên quan tì vị. Mùa thu hành Ất Mùi lại là Bệnh Phù cái Lục Hợp chắc chắn bị bệnh. Mùa đông hành Mậu Tuất Đại Hao cái Điếu Khách, có thể gặp tang chế.

Năm 2001 Tân Tỵ, hành vận Canh Thân.

Đại vận Canh Thân, Lục Hợp phối Lục Hợp, hành vận có khởi sắc, tất có quý nhân đề bạt, tài vận tốt.

Thai nguyên, thân cung Bính Thìn là Thái Tuế phối Bệnh phù thì mắc bệnh. Mệnh cung Giáp Dần là Quý thần phối Quý Thần, nên niên này gặp quý nhân liên tiếp. Mùa xuân hành Quý Mùi là Chu Tước cái Tang Môn, tất có nạn quyết quang. Mùa hạ hành Ất Sửu là Điếu Khách cái Bạch Hổ, tất có khẩu thiệt thị phi quấn thân. Mua thu hành Ất Mùi, là Điếu Khách cái Tang Môn, tất có tang chế. Mùa đông hành Mậu Dần, là tiểu Hao cái Quý Thần, người này muốn cầu quý nhân nhưng tìm không thấy, bị phá tài hao của, tốn công vô ích.

Khôn tạo: Bính Ngọ - Canh Dần – Canh Tý – Bính Tý
Thai nguyên: Tân Tỵ
Mệnh cung: Tân Mão
Thân cung: Tân Mão

Đại vận: Bính Tuất. Niên: Bính Tuất.

Mệnh này Thìn Tỵ không vong. Thai nguyên Tỵ hoả, thì thiên can Tân kim liền với không vong. Người tuổi Bính là theo chủ mà vong, đồng thời hai cung thân mệnh là Tân kim theo thai nguyên Tân kim mà không vong. Thai thân mệnh đều phạm không vong thì thuộc loại người “thanh đăng bạn tại cổ Phật”, mà phu tinh phạm không vong cũng giống như có mà cũng như không, duy nhất một phu tinh Ngọ hoả lại hợp với Dần mộc, hơi nữa phối ngẫu phục ngâm cũng là tiêu chí hung tai. Ba Tân liền nhau Không Vong chủ luận hôn nhân không tốt. Người mệnh Bính gặp năm Bính vận Bính là ba bính liền kề cũng chủ ung.

Thân nhược Sát vượng (đắc lệnh), lại hành Sát vận thành ra hôn nhất tất sẽ xấu. Lưu niên Bính Tuất, Thất Sát vận là tuế vận cùng gặp, là hung. Chủ yếu đoán năm Bính Mậu tất có nạn hôn nhân.

Phía trên ghi lại lời tác giả đoán mệnh ngay tại hiện trường, đoán nạn hôn nhân. Phía dưới đây sẽ phân tinh tỉ mỉ, hi vọng độc giả từ đó có thể thấy sự tinh diệu của thuật “xuyên cung áp mệnh”

Khôn tạo:
Chu tước Bính Ngọ bạch hổ thai nguyên; Bệnh phù Tân Tỵ Chu tước đại vận; Điếu khách Canh Dần quan phù mệnh cung; Bệnh phù tân Mão tiểu hao; Chu tước Bính Tuất thái tuế; Điếu khách Canh Tý tang môn thân cung; Bệnh Phù Tân Mão tiểu hao lưu niên; Chu tước Bính Tuất thái tuế; Chu tước Bính Tý tang môn.

Hỏi: Ngài có thể xem ra trong chúng tôi ai là người đề nghị li hôn?
Chu tước lâm thái tuế, tất là chồng của cô trước tiên đề nghị li hôn.
Phản hồi: Chính xác.

Hỏi: Ngài xem là nguyên do gì mà li hôn?
Phu tinh Ngọ hoả đắc tam hợp nên chắc chắn là cùng người khác ngoại tình, lại là cùng một người thuộc loài hổ. Nguyệt là bên nữ theo đuổi bên nam (Dần sinh hợp Ngọ hoả). Làm việc tại tây bắc (Tuất), nhà tại đông bắc (Dần). (Ngài làm sao có thể biết từng chi tiết nhỏ như vậy! Một điểm cũng không sai!)

Hỏi: Ngài xem họ khi nào thì bắt đầu ngoại tình?
Vào mùa xuân năm nay, ngay tháng Giêng. (Thật đúng quá!) Mùa xuân Bính Ngọ, hành vận chu tước bạch hổ, hai vợ chồng cô bắt đầu mâu thuẫn, vẫn cãi cọ không dứt. Chồng cô vì một chuyện nhỏ lại quát tháo cô, lại còn đánh cô. Cô vì vậy mà tức giận sinh bệnh (bệnh phù tại thai thân), tâm phiền ý loạn, trong lòng buồn bực (điếu khách trì nhật chủ), lúc nào cũng phải nhẫn nhịn (Chị cô này đáp lời: Quá chính xác rồi! Xem em tôi bây giờ thành ra bộ dạng này!)

Hỏi: Ngài xem khi nào thì thích hợp để tôi đưa vụ việc ra toà?
Mùa hạ hành quan phù tinh (Quan phù là sao trung tính, gặp cát thì cát, gặp hung thì hung), lại gặp điếu khách, không phải thích hợp hay không thích hợp mà là chắc chắn sẽ đưa đơn ra toà, đúng vào khoảng giữa mùa hạ và mùa thu, khoảng tháng tư (dương lịch). Vào thời gian này vợ chồng cô sẽ ra toà, đây là trong mệnh đã định. Cụ thể thời gian nên vào nửa cuối tháng năm đến tháng sáu thì chính thức ra toà phân xử. (Thực tế: kết quả này một điểm cũng không sai. Tình hình hình thực tế phù hợp với kết quả đoán).

Trong tay có kĩ thuật xuyên cung áp vận thì cũng như đã hiểu rõ lưu niên như nắm trong lòng bàn tay.

Ví dụ: Nam mệnh
Tang môn Nhâm Tý lục hợp
Thanh long Mậu Thân bệnh phù
Bạch hổ Bính Tuất thanh long
Lục hợp Quý Tỵ bạch hổ
Thai nguyên: Quan phù Kỷ Hợi tang môn
Mệnh cung: Tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Thân cung: Tang môn Nhâm Dần tiểu hao

Lấy năm Ất Dậu làm ví dụ:

Địa chi lưu niên là thái tuế, sau đó tiếp theo Tuất sẽ là thanh long. Hợi là tang môn, Tý là lục hợp, Sửu là quan phù, Dần là tiểu hao, Mão là đại hao, Thìn là chu tước, Tỵ là bạch hổ, Ngọ là quý thần, Mùi là điếu khách, Thân là bệnh phù. Lại đem mười hai địa chi đối ứng với mệnh cục, thai, mệnh, thân, đại vận đều an mười hai thận gọi là nhập toạ, sau đó mới tiến hành phân tích.

Trường phái đoán mệnh Xuyên cung áp vận Manh Phái Tô Quốc Thánh.

Năm: Ví dụ phương pháp vận dụng.

1. Tháng tư, năm 2006, trong lúc đứng lớp tại Sơn Đông Bồng Lai, Đổng Hải Ba lấy bát tự bản thân xin nhờ xem vận trình hai năm Giáp Thân và Ất Dậu.

Càn tạo: Nhâm Tý – Quý Sửu – Giáp thìn – Mậu Thìn

(1) Năm Giáp Thân

Lục hợp Nhâm Tý quan phù
Quan phù Quý Sửu tiểu hao
Đại hao Giáp Thìn bạch hổ
Tang môn Mậu Thìn bạch hổ
Đại vận: điếu khách Bính Thìn bạch hổ
Thai nguyên: đại hao Giáp Thìn bạch hổ
Mệnh cung: lục hợp Nhâm Tý quan phù
Thân cung: quý thần Bính Ngọ điếu khách

Phân tích:

Đại vận là căn bản của một năm. Điếu khách cái bạch hổ chủ trong gia đình có người phạm huyết quan tai ương.

Thời chi Thìn thổ lâm Thiên Tài là bạch hổ, tức là cha gặp huyết quan. Thời chi là mùa đông, tức là mùa đông ứng kì. Chi thì ứng với nửa cuối mùa đông, tức ứng vào nửa cuối tháng mười một hoặc tháng mười hai. (Phản hồi: thật đúng quá. Cha tôi vào tháng mười hai bị tai nạn xe cộ.) Nhật chi lâm bạch hổ, nhật chi là cung phối ngẫu, cũng là nửa cuối tháng tám hoặc tháng chín sẽ thấy huyết quang. (Phản hồi: vợ tôi bị lưu sản.)

Năm này hành vận lục hợp, quan phù, chắc chắn là có hỷ sự. (Phản hồi: tôi đã kết hôn.)

(2) Năm Ất Dậu

Tang môn Nhâm Tý lục hợp
Lục hợp Quý Sửu quan phù
Tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Thanh long Mậu Thìn chu tước
Đại vận: bạch hổ Bính Thìn chu tước
Thai nguyên: tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Mệnh cung: tang môn Nhâm Tý lục hợp
Thân cung: bạch hổ Bính Ngọ quý thần

Đại vận là căn bản của một năm. Bạch hổ gặp chu tước, tất sẽ có quan phi phiền nhiều. Mùa đông là phương thanh long có thể giải hạn. (Phản hồi: đúng! Cha tôi nửa nửa năm đầu kiện tụng, đến mùa đông thì giải quyết.)

2. Người này nhờ xem vận trình năm 98.

Quý thần Nhâm Ngọ quan phù
Quý thần Nhâm Dần thái tuế
Tái tuế Giáp Ngọ quan phù
Quý thần Nhâm Thân Đại hao
Đại vận: chu tước Mậu Thân đại hao
Thai nguyên: điếu khách Quý Tỵ lục hợp
Mệnh cung: quan phù Đinh Mùi tiểu hao
Thân cung: bạch hổ Tân Hợi quý thần

Đại vận chu tước gặp đại hao, phá tài tổn lực mà không được gì, lại còn có thể vì người mà mắc oan. Mười hai thần của đại vận là đại hao chính là tiêu chí phá tài, đại hao Thân hợp thai nguyên Tỵ hoả lục hợp là vì hợp tác mà phá tài. Lục hợp không vong tức là bị tiểu nhân hãm hại. Tuy nhiên toàn bàn quý nhân, nên sẽ có quý nhân giúp đỡ, lại thêm nhật trụ có thái tuế lâm quan phù là tượng tốt. Thái tuế là lãnh đạo, quan phù là công tác, sự nghiệp, tài vận. Niên trụ lại đắc quý thần lâm quan phù, mà quý thần lại vượng tướng, nhất định là được quý nhân giúp đỡ mà phát tài.
Phản hồi: năm này cùng cha vợ hợp tác, lại bị cha vợ lừa, bị hao tài không ít. Nhưng được bạn bè giúp đỡ thủ tục thoái vốn công ty.

3. Năm 2006 xem một mệnh nữ

(1) Đoán ly hôn ngay tại hiện trường.

Khôn tạo: Bính Ngọ - Canh Dần – Canh Tý – Bính Tý

Thai nguyên: Tân Tỵ
Mệnh cung: Tân Mão
Thân cung: Tân Mão
Đại vận: Bính Tuất
Lưu niên: Bính Tuất

Người này mệnh Thìn Tỵ không vong. Thai nguyên Tỵ hoả không vong tức là thiên can Tân kim cũng liên đới mà không vng. Bính hoả cũng tuỳ theo mà không vong. Đồng thời hai cung thân mệnh có Tân kim đều tuỳ thai nguyên Tân kim mà không vong. Thai thân mệnh không vong thì đều là “thanh đăng bạn cổ Phật”. Mà phu tinh không vong thì có chồng cũng như không có. Duy nhất phu tinh Ngọ hoả cùng Dần mộc tương hợp, mà phối ngẫu cung lại bị phục ngâm là tiêu chí có nạn hôn nhân. Ba Tân tương liên chủ là hôn nhân không tốt. Đại vận và tứ trụ có ba Bính tương liên, cũng chủ không cát lợi.

a. Thân nhược Sát vượng lại hành Sát vận thì hôn nhân tất nhiên không tốt. Lưu niên Bính Tuất, vận Thất Sát, tuế vận cùng lâm là hung, cho nên đoán là năm này li hôn. Ba Bính thì về già cô đơn, hoặc mẹ qua đời khi đang lâm bồn. Ba Tân khá trường thọ, tiền tài trì trệ, hôn nhân lận đận.

Xuyên cung phê đoán

Khôn tạo: Quý Mùi - Ất Sửu - Ất Mùi – Mậu Dần
Thai nguyên: Bính Thìn.
Mệnh cung: Giáp Dần
Thân cung: Bính Thìn
Đại vận: 9 Giáp Tý, 19 Quý Hợi, 29 Nhâm Tuất, 39 Tân Dậu, 49 Canh Thìn, 59 Kỷ Mùi

(1) Năm 1999 Kỷ Mão, hành vận Canh Thân

Đại vận Canh Thân tiểu hao gặp tiểu hao, sẽ có phá tài nhưng không nhiều, tài vận không tốt.
Thai mệnh thân là ngã cung. Thai nguyên Bính Thìn, tang môn cái thanh long, chủ là tiểu nhân đương lệnh quấy phá, nhiều phiền não, vì văn thư giấy tờ động mà gây ra phiền não. Mệnh cung Giáp Dần, bệnh phù cái bệnh phù, tất bản thân có bệnh quấn thân, mộc là gan mật, tứ chi và thần kinh. Thân cung Bính Thìn luận giống thai nguyên.

Mùa xuân hành Quý Mùi, quý thần cái tiểu hao, tài vận khá tốt, được quý nhân giúp đỡ nhưng có phá tài nhỏ.
Mùa hạ hành Ất Sửu, thái tuế cái điếu khách, vì thái tuế phối hung tinh nên nhất định có mâu thuẫn, tranh cãi. Thái tuế là sếp trên, là lãnh đạo, tức là lãnh đạo gây khó khăn cho ta.
Mùa thu hành Ất Mùi, thái tuế cái quan phù, là trung tính tương phối, không quá xấu cũng không quá tốt. Quan phù là công tác và tài vận, bị sếp trên chèn ép mà hao tài.
Mùa đồng hành Mậu Dần, bạch hổ cái bệnh phù, tức là bệnh tật.

(2) Năm 2000 Canh Thìn, hành vận Canh Thân.

Đại vận Canh Thân, quan phù phối quan phù, tức là về mặt công việc không có lợi.

Thai nguyên, thân cung Bính Thìn, thanh long cái thái tuế mà không cát. Lãnh đạo ngấm ngầm chèn ép. Mệnh cung Giáp Thân là điếu khách gặp điếu khách, thất là có sự ưu sầu, tâm không yên.

Mùa xuân hành Quý Mùi, là chu tước cái lục hợp, thì có tiểu nhân hại hoặc khẩu thiệt thị phi, hoặc là chịu oan giùm người.
Mùa hạ Ất Sửu, bệnh phù cái quý thần, ưu sầu, có bệnh tì vị.
Mùa thu hành Ất Mùi, lục hợp cái bệnh phù, lo lắng vì bệnh tật.
Mùa đông hành Mậu Dần, đại hao cái điếu khách, có việc tang chế phát sinh.

(3) Năm 2001 Tân Tỵ, hành vận Canh Thân.

Đại vận Canh THân, lục hợp phối lục hợp, hành vận khởi sắc, tất sẽ có nhiều quý nhân phù trợ và tài vận tốt.

Thai nguyên, thân cung Bính Thìn, thái tuế phối bệnh phù, có lo lắng về sức khoẻ. Mệnh cung Giáp Dần, quý thần phối quý thần, năm này nhiều quý nhân.

Mùa xuân hành Quý Mùi, bạch hổ cái tang môn, tất có huyết quang.
Mùa hạ hành Ất Sửu, điếu khách cái chu tước, tất co khẩu thiệt thị phi.
Mùa thu hành Ất Mùi, điếu khách cái tang môn, tất có việc tang chế.
Mùa đông hành Mậu Dần, tiểu hao cái quý thần, ví cầu quý nhân giúp đỡ mà khổ cực, lại phá tài.

Việc nghiên cứu và ứng dục mệnh lý, bản thân tôi có nhận xét như sau: nên trăm hoa đua nở, trăm nhà tranh tiếng. Không cần quan tâm nhà nào phái nài, chỉ xem lí luận có chỗ hợp lý hay không. Chúng ta không nên công kích lẫn nhau, cần thực hiện hậu đức tải vật, đức hậu vô cương. Như theo lời của ông Đặng Tiểu Bình thì: không cần biết là mèo đen hay mèo trắng, chỉ cần bắt được chuột thì là mèo giỏi. Thực tiễn luôn là phương pháp kiểm nghiệm mệnh lý xuất sắc. Chúng ta cần thông qua thực tiễn, dựa trên dịch lý, biểu đạt linh tính, đề cao sự khác biệt, đột phá những giới hạn cũ, đẩy ngã những giới hạn của bản thân. Trên con đường ứng dụng bát tự mệnh lý, tôi luôn giữ thái độ: “dịch học duy chân” (chỉ có dịch học là chân lý), tiếp nhận cái hay của những trường phái khác mà sử dụng, mà không quan tâm đến đó là từ người nào hoặc phái nào.
Luôn luôn nổ lực để thực hiện được phương châm: pháp vô định pháp, ngộ đáo là pháp. (Pháp thì không cố định, chỉ cần mình ngộ ra được thì đã là pháp)

Xuyên cung áp vận – mật pháp luận đoán lưu niên manh phái (phần Thượng)

Thanh long / quý thần: học nghiệp, thành tựu về văn hoá, quý nhân tương trợ, sự nghiệp có phát triển.

Thanh long / quan phù: vận trình tốt, vận trình có sự biến đổi, di dời, ngồi trên lưng ngựa thì có thể làm ra danh tiếng, sự nghiệp có phát triển, tài vận rất vượng.
Thanh long / tang môn: vận khí chuyển tốt, có thành tựu trong việc học hoặc nghiên cứu, vận trình có sự biến đổi di dời, lại cũng có nhiều lo lắng và tang sự.
Thanh long / chu tước: về phương diện học tập nghiên cứu có lợi hoặc có chuyển biến, di động, nhưng cũng khó tránh được vấn đề về kinh tế như kinh tế thiếu hụt.
Thanh long / đại hao: về phương diện học tập nghiên cứu có lợi, có biến chuyển, thuyên chuyển nhưng cũng có phá tài.
Thanh long / chu tước: sự nghiệp có phát triển nhưng có khẩu thiệt thị phi.
Thanh Long / bệnh phù: bệnh tật nhẹ, công việc có sầu lo, có hao tổn tiền bạc.
Thanh long / thanh long: sự nghiệp có tin vui, phát tài, nhiều quý nhân phù trợ
Thanh long / thái tuế: tuy có quý nhân nhưng không phù trợ, muốn động mà không thể động, ưu sầu vì văn thư, nhiều khó khăn trở ngại.
Tang môn / tang môn: có việc hiếu, tang chế.
Tang môn / thái tuế: có việc hiếu, tang chế nhưng không phải tang lớn (đại hiếu), nhiều thị phi, tiểu nhân nắm quyền; về mặt sự nghiệp phải lo lắng, suy nghĩ nhiều. Nhất định phải cẩn thận.
Tang môn / điếu khách: chắc chắn có tang chế phát sinh.
Tang môn / thái tuế: có phong ba về mặt tình cảm, tiểu nhân nắm quyền, phá tài.
Tang môn / tang môn: không thuận lợi và có việc tang chế.
Tang môn / thanh long: tiểu nhân nắm quyền, nhiều phiền não, có liên quan văn thư giấy tờ, vì biến động mà phát sinh phiền não.
Lục hợp / lục hợp: tài vận và sự nghiệp đều hưng vượng, lại thêm trong nhà có việc vui.
Lục hợp / quan phù: công tác thuận lợi, vận hưng vượng.
Lục hợp / đại hao: tài vận tuy có, phá tài càng nhiều.
Lục hợp / điếu khách: phát sinh thị phi.
Lục hợp / quý thần: vận tốt, nhân duyên tốt, có quý nhân.
Lục hợp / thanh long: tài vận tốt nhất, tất có việc vui liên quan đến người khác giới.
Quan phù / quan phù: sự nghiệp có thành tự, công tác thuận toại, tài vận phong hậu.
Quan phù / điếu khách: sự nghiệp hanh thông, nhưng có việc tang phát sinh.
Quan phù / đại hao: sự nghiệp phát đạt, nhưng có phá tài lớn.
Quan phù / tiểu hao: có lợi cho sự nghiệp nhưng có phá tài nhỏ.
Quan phù / chu tước: tất nhiên có việc kiện tụng, phạm pháp.
Quan phù / bạch hổ: bạch hổ bị áp tất sẽ nổi phong ba, nhiều việc thi phi, lại còn bị hoạ.
Quan phù / tang môn: tiểu nhân đắc thế nên có thị phi, lại còn phải chịu oan ức.
Tiểu hao / tiểu hao: phá tài.
Tiểu hao / chu tước: tiểu hao đương quản thì tài vận rất xấu, phá tài lớn, có mâu thuẫn về mặt kinh tế.
Tiểu hao / chu tước: vì kiện tụng, phạm pháp mà phá tài.
Tiểu hao / đại hao: phá tài vô cùng.
Tiểu hao / quan phù: có phá tài nhỏ, nhưng sự nghiệp có khởi sắc.
Đại hao / thái tuế: năm có thái tuế bị lăng nhục, lại là do đại hao áp, thái tuế thì không thể bị áp, nên năm này không thuận.
Đại hao / điếu khách: có việc tang chế.
Đại hao / bạch hổ: phá tài, lao ngục, hoặc bị thương.
Đại hao / chu tước: phá tài, có mâu thuẫn, khậu thiệt thị phi lại còn phải chịu oan ức cho người khác.
Đại hao / thái tuế: phá tài, có tang sự phát sinh.
Đại hao / điếu khách: hao tài lớn, có việc tang sự, có việc động đất đai nhà cửa.
Điếu khách / thái tuế: nhiều khó khăn, trở ngại, có việc tang chế, có mâu thuẫn.
Điếu khách / đại hao: có việc tang chế phát sinh, hoặc giả phá tài, ưu sầu, lo lắng.
Điếu khách / điếu khách: ưu sầu. Tứ trụ gặp tang môn, đại hao, bạch hổ và các hung tinh khác thì có ý nghĩa là phát sinh việc tang chế.
Chu tước / đại hao: mâu thuẫn, thị phi, phá tài.
Chu tước / quan phù: khẩu thiệt, mâu thuẫn nan giải, sự nghiệp vô cùng khó khăn.
Chu tước / điếu khách: khẩu thiệt, mâu thuẫn.
Chu tước / tang môn: khẩu thiệt mâu thuẫn.
Chu tước / quý thần: khẩu thiệt mâu thuẫn, tiểu nhân đắc thế, quý nhân không gặp, lại còn dễ chịu oan ức thay cho người.
Chu tước / bệnh phù: khẩu thiệt mẫu thuẫn, sức khoẻ trì trệ.
Bạch hổ / điếu khách: tiểu nhân đắc thế, có thể gặp tai ương huyết quang.
Quý thần / chu tước: mọi phiền não đều được giải quyết, vận hạn chuyển tốt.
Quý thần / quan phù: sự nghiệp có tin vui, có người nhà quan giúp đỡ.
Quý thần / thái tuế: có quý nhân nhưng về mặt công danh thì có phiền não.
Quý thần / thanh long: có quý nhân giúp đỡ, tài vận sự nghiệp đều tốt.
Quý thần / bệnh phù: có bệnh nhẹ, gặp khó khăn trắc trở.
Quý thần / thanh long: quý nhân đắc thế, sự nghiệp có thành tự, tài vận rất tốt, tình cảm ngọt ngào.
Quý thần / bạch hổ: tuy gặp quý nhân, nhưng lại là hung, bị thương mà còn ưu sầu.
Quý thần / bệnh phù: quý nhân giúp đỡ, sự nghiệp chuyển biến tốt, nhưng thân thể không tốt.
Điếu khách / thang môn: có việc tang chế, tiểu nhân, mâu thuẫn, phiền não.
Điếu khách / quý thần: không gặp quý nhân, tiểu nhân đắc thế, tiến thoái lưỡng nan.
Điếu khách / thái tuế: thái tuế lại phối với hung tinh rất xấu, thái tuế là sếp trên, là lãnh đạo, tức là không được lòng lãnh đạo, bị gây khó khăn, hạch sách.
Điếu khách / tang môn: có việc tang chế phát sinh, gặp tiểu nhân, m6u thuẫn, nhiều việc phiền não, lo lắng.
Bệnh phù / chu tước: đại biểu thân thể sức khoẻ xấu, có khẩu thiệt, mâu thuẫn.
Bệnh phù / quý nhân: tài vận rất tốt, có quý nhân giúp đỡ, nhưng thân thể không tốt, dễ dàng mắc bệnh.
Bệnh phù / bệnh phù: bệnh tật.
Bệnh phù / tiểu hao: bệnh tật.
Bệnh phù / điếu khách: mâu thuẫn, rối rắm, ám sinh phiền não, bệnh tật.
Bệnh phù / quý nhân: chạy đông chạy tây mà không có thu hoạch, quý nhân không giúp đỡ, thân thể không yên ổn, có bệnh tật phát sinh.
Bệnh phù / lục hợp: bệnh tật, tình cảm gặp phong ba.

Mật pháp manh phái Xuyên cung áp vận đoán lưu niên (hạ)

Chú thích:

1. Hung thần áp hung thần là hung, hung thần áp cát thần lại càng hung. Thái tuế và cát thần không nên bị áp chế, lăng nhục; nếu bị thì sẽ có tai hoạ.
2. Bạch hổ không thể bị bất cứ thần nào áp chế, nếu bị áp tức là hung. Cát thần áp hung thần tuy có phiền phức nhưng cuối cùng cũng được giải quyết.
3. Khi hung thần tại thai thân mệnh hình xung quý tiết thì không làm thay đổi cát hung của quý tiết; nhưng ứng kì sẽ bị trì trệ.

Một: nhật chủ thông qua địa chi để khởi thái tuế sẽ xác định tổng cương một đời người. Dùng phương pháp nhật chủ thông địa chi để khởi thái tuế, định ra can chi tứ trụ và tam viên (thai nguyên, thân cung và mệnh cung), can chi của mười hai thần, căn cứ vào mười hai thần để xác định cát hung của lục thân, lại căn cứ vị trí của mười hai thần mà xác định tình huống của bản thân.

Ví dụ (càn tạo):

Tiểu hao Canh Tuất chu tước
Chu tước Mậu Tý quý thần
Ất Sửu điếu khách
Đại hao Tân Tỵ tang môn
Thai nguyên: Kỷ Mão
Mệnh cung: Đinh Hợi
Thân cung: Quý Mùi

Nhật chủ Ất thông Mão mộc là thái tuế, nên Canh kim Chính Quan là tiểu hao, Tuất thổ Chính Tài là chu tước, Mậu thổ Chính Tài là chu tước, Tý thuỷ Thiên Ấn là quý thần, Ất tỷ kiên là thái tuế, Sửu Thiên Tài là điếu khách, Tân Thất Sát là đại hao, Tỵ hoả Thương Quan là tang môn, Kỷ thổ là điếu khách, Mão là thái tuế, Đinh hoả Thực Thần là lục hợp, Hợi Tý Chính Ấn là là bạch hổ, Quý thuỷ Thiên Ấn là quý thần.

Phân tích: từ cung, tinh, và thần đoán ra đại khái cuộc đời của người này. Quan Sát là tử nữ tinh lâm đại hao, tiểu hao, chủ định con cái là “thảo trái quỷ” (quỷ đòi nợ), xài tiền như nước, không nghe dạy bảo. mệnh cục không có sao văn bằng, tại mệnh cục không có sao hôn nhân, chủ định hôn nhân không thuận, vợ chồng đồng sàng dị mộng. Người này thực sự không có hôn nhân. Mệnh cục, tam viên thấy sao “cứng”, chủ định cả đời hình khách, trở ngại. Mệnh cục có Tài tinh gặp Chu tước, chủ định có kiện tụng vì tiền tài, kinh tế.

Hai, khởi thái tuế thì địa chi đại vận luận đoán tổng cương đại vận. Từ địa chi của đại vận định mười hai thần cho can chi tứ trụ và tam viên, thì có thể đoán ra những sự việc liên quan đến đại vận.

Càn tạo:

Giáp Dần – Đinh Mão – Bính Dần – Mậu Tý
Thai nguyên: Mậu Ngọ
Mệnh cung: Bính Dần
Tân cung; Mậu Thìn
Đại vận: Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi (3 tuổi khởi vận).

Đại vận Canh Ngọ, địa chi Ngọ hoả là thái tuế, vậy Giáp Dần là bạch hổ, Đinh hoả là thái tuế, Mão mộc là quý thần, Bính là bệnh phù, Mậu thổ là quan phù, Tý là đại hao, Thìn là điếu khách.

Như phía trên đã nói, chúng ta có thể phán đoán vận trình như sau: cha mẹ gặp hung hiểm bất ngờ; thân thể bản thân không tốt, có phát sinh tang nhỏ, phá tài.

Ba, lấy địa chi lưu niên khởi thái tuế để luận đoán cát hung lưu niên.

Vào năm 2006, tháng 4, trong lớp dạy học ở Phần Sơn Đông Bồng Lai, học viên Đổng Hải Ba đưa mệnh cục của bản thân để luận đoán vận trình hai năm Giáp Dần, Ất Mão.

Càn tạo:
Lục hợp Nhâm Tý quan phù
Quan phù Quý Sửu tiêu hao
Đại hao Giáp Thìn bạch hổ
Tang môn Mậu Thìn bạch hổ
Thai nguyên: Đại hao Giáp Thìn bạch hổ
Mệnh cung: Lục hợp Nhâm Tý quan phù
Thân cung: Quý thần Bính Ngọ điếu khách
Đại vận: Quý thần Bính Thìn bạch hổ

Vận trình năm Giáp Thân:

Mười hai thần của đại vận là căn bản của một năm. Quý thần áp bạch hổ, hổ cơ bản là hung nhất trong các điều hung hiểm, lão hổ làm sao có thể bị cưỡi, bị cưỡi thì phản, càng chủ hung. Năm này trong nhà tất có người phạm huyết quang tai ương.

Thời chi Thìn thổ lâm Thiên Tài là bạch hổ tất ứng với việc cha gặp huyết quang tai ương. Thời trụ là mùa đông thì nhất định đây là ứng kì. Chi là nửa sau của một mùa, cho nên ứng vào khoảng nửa cuối tháng mười một và tháng mười hai. (Phản hồi: Quá đúng! Cha tôi vào tháng Chạp bị xe đụng bị thương.) Nhật chi lâm bạch hổ, nhật chi là phối ngẫu cung, là nửa cuối tháng tám và tháng chín sẽ thấy huyết quang tai ương (Phản hồi: người yêu tôi bị hư thai.)

Năm này hành vận lục hợp, quan phù, nhất định có hỷ sự. (Phản hồi: Tôi kết hôn!)

Tang môn Nhâm Tý lục hợp
Lục hợp Quý sửu quan phù
Tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Thanh long Mậu Thìn chu tước
Thai nguyên: Tiểu hao Giáp Thìn chu tước
Mệnh cung: Tang môn Nhâm Tý lục hợp
Thân cung: Bạch hổ Bính Ngọ quý thần
Đại vận: Bạch hổ Bính Thìn chu tước

Vận trình năm Ất Dậu:
Mười hai thần của đại vận là căn bản của một năm. Bạch hổ và chu tước tất có quan phi quấn thân. Mùa đông hành vận thanh long mới có thể giải quyết. (Phản hồi: Đúng. Là cha tôi vướng phải kiện tụng, đến mùa đông mới có thể giải quyết xong!)

Càn tạo:
Quý thần Nhâm Ngọ quan phù
Quý thần Nhâm Dần thái tuế
Thái tuế Giáp Ngọ quan phù
Quý thần Nhâm Thân đại hao
Thai nguyên: Điếu khách Quý Tỵ lục hợp
Mệnh cung: Quan phù Đinh Mùi tiểu hao
Thân cung: Chu tước Tân Hợi quý thần
Đại vận: bạch hổ Mậu Thân đại

Người này nhờ đoán vận trình vào năm 1997. Sau đó đến tháng Giêng năm 1999 quay lại trung tâm phản hồi, đồng thời lại tiếp tục nhờ đoán vận trình. Vận trình năm Mậu Dần như sau:

Mười hai thần của đại vận là căn bản của một năm. Bạch hổ kèm đại hao không những phá tài mà còn lao lực mà không có thành quả, lại còn phải chịu tội cho người. Mười hai thần của đại vận là đại hao, là tiêu chí phá tài, lúc này cần tìm nguyên nhân vì sao. Đại hao Thân hợp trói lục hợp Tỵ hoả là vì hợp tác mà phá tài. Lục hợp, không vong tất ứng với tiểu nhân. Tỵ hoả là người có vóc dáng không cao, giọng nói cao, tính tình gấp gáp, khá cường tráng, mặt vuông sắc đỏ. Tỵ là dương hoả, cùng với nhật can đồng tính âm dương nên nhất định là người nam. Đầy bàn quý thần là nhất định có quý nhân tương trợ, càng đắc thái tuế trì thân phối hợp vớiquan phù thành cát tượng. Thái tuế tức người lãnh đạo, quan phù là công tác, sự nghiệp, tài vận. Niên trụ lại đắc quý thần phối quan phù, mà quý thần vượng tướng, nhất định có quý nhân tương trợ mà phát tài. Nhâm thuỷ là người vóc dáng trung bình (Đây là căn cứ theo tình huống ở địa phương. Thực tế là khoảng 1m73 đến 1m75.) Mặt vuông sắc trắng, mắt to, nhãn thần phiêu hốt bất định. Phản hồi: Năm này cùng với ông sui gia hợp tác. Ông thân gia này (phù hợp với tướng mạo đã đoán) lừa cho một vố đau, bị hao tài không ít, nhưng có một người bạn (tướng mạo như đã phán đoán) giúp cho việc thủ tục thoái vốn.

Việc dùng Xuyên Cung Áp Vận chính quyết để luận đoán lựu niên thật là bí quyết luận thực chiến bất truyền, là đường tắt trong đường tắt của mệnh lý học, mong độc giả ra sức nghiên cứu. Để giúp mọi người hiểu rõ hơn, phía dưới người viết luận đoán công khai một ví dụ lưu niên thập cục.

Càn tạo: Quý Mùi - Ất Sửu - Ất Mùi – Mậu Dần
Thai nguyên: Bính Thìn
Mệnh cung: Giáp Dần
Thân cung: Bính Thìn
Đại vận khởi 9 tuổi: Giáp Tý, Quý Hợi, Nhâm Tuất, Tân Dậu, Canh Thân, Kỷ Mùi.

Năm 1999 Kỷ Mão, hành vận Canh Thân. Đại vận Canh Thân tiểu hao phối tiểu hao, nên có phá tài nhưng đại vận Đinh không cứu giúp. Thai mệnh thân là “chân thân”. Thai nguyên Bính Thìn, Tang môn áp thanh long chủ tiểu nhân đắc ý, dây dưa phiền não, bởi vì văn thư, đi lại mà dẫn đến phiền não. Mệnh cung Giáp Dần bệnh phù áp bệnh phù, là bệnh tật quấn thân, mộc là tứ chi, gan mật cùng với thần kinh, nên bệnh tật ở phương diện này. Thân cung Bính Thìn và Thai nguyên luận giống nhau. Mùa xuân hành Quý Mùi, quý thần áp quan phù, nên tài vận khá tốt, được quý nhân giúp đỡ, nhưng có phá tài một chút. Mùa xuân hành Ất Sửu, thái tuế áp điếu khách, là thái tuế phối hung tinh, tất có tranh chấp. Thái tuế là cấp trên, hẳn là lãnh đạo đến kiểm tra xét nét. Mùa thu Ất Mùi, thái tuế cái quan phù, là tổ hợp trung tính, không phải đại hung cũng không phải đại cát. Quan phù là công tác, là tài vận, bị cấp trên chèn ép tất tổn tài. Mùa đông Mậu Dần, chu tước áp bệnh phù đương nhiên là lúc bị tật bệnh.

Bác điểm chưa đúng trong quan điểm “Thù đồ đồng quy hỗ tham đoán đoạn” (trăm sông đổ về biển, tham khảo phương pháp luận đoán lẫn nhau) của Trần Đức Âm.

Kể từ khi hai tác phẩm của Tô Quốc Thánh tiên sinh “Manh nhân đoán mệnh nhất khẩu kim” và “Manh nhân mệnh học đặc huấn giảng nghĩa” ra mắt, tôi liền tiến hành nghiên cứu và vận dụng. Trong đó có rất nhiều điều đáng giá học tập, ví dụ như cách vận dụng thân thai mệnh kết hợp mệnh cục, và phương pháp dự trắc thọ yểu đời người. Điều mà tiên sinh một mực đề cao xuyên suốt các quyển sách là thuật “Xuyên cung áp vận”, nhưng kì thực thuật này không quá thần kì hay chuẩn nghiệm như tiên sinh nghĩ, kì thực đoán mệnh không giống như tiên sinh giảng là không cần dùng dụng thần. “Xuyên cung áp vận” có thật sự thần diệu như vậy sao? Bên dưới chúng ta thảo luận một chút.

Xuyên cung áp vận chủ yếu được quyết định địa chi lưu niên và địa chi đại vận, và nhật can thông địa chi khởi thái tuế. Đầu tiên dùng nhật can thông địa chi khởi thái tuế để xác định vận hạn cát hung đời người. Tiếp theo là địa chi đại vận khởi thái tuế để xác định cát hung mười năm trong đại vận đó. Sau đó lại dùng địa chi lưu niên đối với can chi đại vận khởi thái tuế để xác định cát hung lưu niên. Mười hai thần sát Xuyên cung áp vận theo thứ tự là: thái tuế, thanh long, tang môn, lục hợp, quan phù, tiểu hao, đại hao, chu tước, bạch hổ, quý nhân, điếu khách, bệnh phù. Trong đó, thanh long, lục hợp, quý nhân, quan phù là cát tinh; đại hao, bạch hổ, tang môn là đại hung tinh; tiểu hao, điếu khách, chu tước là tiểu hung tinh.

1. Nhật can thông địa chi khởi thái tuế: ví dụ như Càn tạo Kỷ Mùi – Nhâm Thân – Kỷ Tỵ - Bính Dần, nhật can là Kỷ thổ, Kỷ thông Sửu, cho nên Sửu là thái tuế. Từ niên trụ bắt đầu định mười hai thần sát, như niên trụ Kỷ Mùi là thái tuế và đại hao, nguyệt trụ Nhâm Thân là điếu khách và chu tước.

2. Dùng địa chi đại vận khởi thái tuế: như Càn tạo ví dụ phía trên, vào vận Canh Ngọ, lấy chi Ngọ khởi thái tuế, từ niên trụ an mười hai thần sát, có chu tước thanh long, nguyệt trụ là tiểu hao, tang môn… Niên trụ tính là là hai năm trước đại vận, nguyệt trụ và thời trụ mỗi trụ ba năm, thời trụ là hai năm cuối cùng đại vận.

3. Lấy địa chi lưu niên khởi thái tuế: như càn tạo ví dụ phía trên, hành vận Canh Ngọ, lưu niên Tân Tỵ, muốn biết cát hung lấy Tỵ khởi thái tuế, đến Canh là lục hợp, đến Ngọ là thanh long, tổng hợp lại có lục hợp phối thanh long là cát vận.

Phía trên là khái quát mật quyết bí truyền Manh Phái “Xuyên cung áp vận”. Chỉ cần một chút “tuyệt kĩ” ấy liền có thể bỏ không dùng dụng thần mà vẫn có thể đoán chuẩn xác nhân sinh một người sao? Thật đáng buồn cười. Hiện lấy nguyên văn một đoạn “thù đồ đồng quy hỗ tham đoán đoạn” trang 174 trong quyển “Manh nhân mệnh học đặc huấn giảng nghĩa” của Tô tiên sinh xem:

Càn tạo: Kỷ Mùi – Nhâm Thân – Kỷ Tỵ - Bính Dần
Đại vận: Canh Ngọ
Lưu niên: Tân Tỵ
Thai nguyên: Quý Hợi
Mệnh cung: Tân Mùi
Thân cung: Ất Hợi

Tạo này nếu theo mệnh lý truyền thống thì tính toán như sau:

Kỷ sinh tháng Thân thất lệnh. Địa chi Tỵ Ấn hợp Thân hoá thành Tài. Từ đồng đảng biến thành dị đảng là thất địa. Thiên can có Tỷ Ấn là đắc thế. Hai thất một đắc luận thân nhược. Thân Thương Quan bị hợp trói, ngũ hành thiếu kim. Thân nhược hỷ Ấn Kiếp, lại hỷ Quan Sát sinh Ấn làm dụng. Quan Kiếp là hỷ.

Xem niên can là hỷ thần Kỷ Tỷ, thời can có dụng thấn Bính Ấn, có thể nói là hỷ dụng song thấu, chỉ tiếc ở vị trí đầu cuối như thế thì không tính là gần để trợ thân, dù sao thì thân yếu cũng cần trợ, xem như đẹp thì có đẹp nhưng không đủ.

Lại xem Kỷ thổ toạ Mùi đắc căn, Bính Ấn toạ Dần là đắc sinh trợ, hỷ dụng thần đều thấu can lại có căn, cách cục không tệ. Đại vận hỷ thấy địa chi Ngọ Ấn thì cũng tính là tốt.

Năm Tân Tỵ có Tân xuất hiện, Bính Tân hợp hoá, dụng thần Bính Ấn bị khử, rất hung. Càng không nên là lưu niên Tân Tỵ, Tân hợp khử thời can Bính, sau đó địa chi Tỵ lại khử hợp nguyệt chi Thân, hình thành một Thân hợp hai Bính, kim cục đều lấy noãn mà tụ tập. Nhâm Tài thấu can đắc thế cường vượng, hợp Tài là kỵ thần như đại địch đột nhiên tiếp cận, thế không thể đỡ. Đại vận địa chi Ngọ Ấn nhập cục, cấu thành Tỵ Ngọ Mùi củng Ấn cục, cũng tính là dụng thần. Ngọ hợp Dần bán Ấn cục, Ngọ hợp Mùi thành Ấn cục, địa chi xuất hiện cường Ấn, muốn cứu trợ nhật chủ, đáng tiếc là không có xuất can, nên lực bất tòng tâm. Dần Mùi bị hợp, khó có thể thông quan. Rốt cuộc dùng thần hoả tuy cường nhưng bị kỵ thần thuỷ cũng cường tiêu diệt sạch sẽ, xuất hiện phá cục hung tai. Đáng tiếc năm 23 tuổi bị người sát hại. Hiện tại đem tạo này luận đoán bằng “nhất khẩu kim.

Càn tạo: Kỷ Mùi – Nhâm Thân – Kỷ Tỵ - Bính Dần
Thai nguyên: Quý Hợi
Mệnh cung: Tân Mùi
Thân cung: Ất Hợi
Đại vận: Canh Ngọ
Lưu niên: Tân Tỵ

1. Thai nguyên không vong, thân thể không tốt, xài tiền khá phí.
2. Thai nguyên là âm chi xung nhật chi và thân chi, ứng với làm con nuôi
3. Thai nguyên và nhật chi xung thì bôn ba lao lực
4. Thai nguyên và nguyệt chi hại, lại có nhật chi xung thân chi, cho dù là cát mệnh cũng vô dụng
5. Thai nguyên và lưu niên xung
6. Thai nguyên nạp âm là Đại hải thuỷ, là phiêu bạt bôn ba.

Suy đoán theo Xuyên cung áp vận:

1. Chỉ cần thái tuế tại địa chi đều ứng hung. Hiện xem mệnh cục nhật chi, thân cung đều lạc thái tuế, tức là hung tượng rành rành.
2. Bạch hổ là hung thần ác sát. Hiện mệnh cục có niên can bạch hổ cái đầu, nhật chi bạch hổ cái đầu, là hết đường cứu. Bạch hổ là kim thần, không thể nghi ngờ là bị thương đao kiếm thương hại mà chết.
3. Mệnh cung có quan phù cái đầu. Quan phù phần lớn chủ gây chuyện thị phi mà gặp hoạ. Năm Tỵ chỉ sợ khó thoát kiếp số.

Đoán đến như vậy, hung tượng từ lâu đã rõ, không cần nói thêm những cái nhỏ nhặt khác. Đây là một người họ hàng của tôi, vào năm 2001 tại quán rượu vì lời qua tiếng lại mà bị sát hại.

Xem xong đoạn phân tích phía trên của Trần mỗ, các bạn có cảm tưởng gì? Có phải cảm thấy rất đáng thương, rất hoang đường? Phía dưới tôi giúp mọi người dùng phương pháp truyền thống phân tích một chút:

Càn tạo: Kỷ Mùi – Nhâm Thân – Kỷ Tỵ - Bính Dần
Đại vận: Canh Ngọ
Lưu niên: Tân Tỵ

Kỷ sinh tháng Thân không đắc lệnh, nhưng đắc thời chi Dần Bính liên sinh, lại có nhật chủ toạ dưới là Tỵ hoả Dương Nhẫn. Niên trụ lại có Kỷ Mùi trợ giúp. Cả mệnh cục hình thành cục diện ba thổ, hai hoả, một thuỷ, một kim. Kỷ thổ lại càng đắc Dần mộc liên sinh, mệnh sinh vượng đắc căn, nên luận thân vượng. Nhưng Trần mỗ lại luận thân nhược chính là cái sai ngàn dặm, thật là đáng cười.

Đã biết thân vượng thì lấy hoả thổ Ấn Tỷ làm kỵ thần, lấy Tài làm dụng thần, kim là hỷ thần. Còn Trần mỗ luận hoàn toàn trái ngược.

Nhìn đại vận Canh Ngọ, năm Tân Tỵ. Đại vận hành phương nam hoả vận là kỵ thần, lưu niên lại hành phương nam hoả Dương Nhẫn là kỵ thần kỵ vận, lại thêm đại vận và lưu niên hợp với niên chi và hình thành Tỵ Ngọ Mùi tam hội hoả cục, Nhẫn vượng vô chế, hoả thân thái vượng thì tắt, sách viết “Nhẫn vượng nhập nhân hương, chết bởi dược thạch”, hẳn là phải chết không nghi ngờ. Dương Nhẫn là hung thần, lại thêm mệnh cục và nhật can hình thành Dần Tỵ Thân tam hình, hiện tượng hung tử quá rõ ràng, còn cần gì thêm Bạch Hổ mới có thể nhìn rõ ràng hay sao?

Đây không phải là quá rõ ràng sao? Trần mỗ lại nói tới nói lui, mà lại đầu đuôi bất nhất, làm người đọc vừa bực mình vừa buồn cười, thật sự là bi ai!

Hiện tại ta cũng dùng Xuyên cung áp vận phân tích một chút:

Càn tạo: Kỷ Mùi – Nhâm Thân – Kỷ Tỵ - Bính Dần
Đại vận: Canh Ngọ
Lưu niên: Tân Tỵ

Nhìn lưu niên vận khí thì lấy địa chi lưu niên đối với can chi đại vận khởi thái tuế (Trần mỗ cố ý bỏ bớt đi, dụng tâm rất rõ ràng). Nay lấy Tỵ khởi thái tuế. Đến Canh là lục hợp, đến Ngọ là thanh long. Có thể biết năm này là lục hợp phối thanh long lâm vận, lục hợp phối thanh long là cát thần, nên là đại cát, đại lợi, đại phát, đại tài thì mới đúng. Vận trình tốt như thế mà lại chết thảm, mọi người nói, Xuyên cung áp vận có phải là rất lợi hại, rất buồn cười không?

Viết đến đây, người viết không thể không báo cho bằng hữu yêu quý mệnh học được biết, thần sát chỉ có thể có tác dụng tham khảo phụ trợ. Xem mệnh cho người, nếu như rời xa cái lý âm dương, rời xa sinh khắc chế hoá ngũ hành, lại không nhìn dụng thần, không tra hàn noãn khô vinh, không rõ bệnh căn, thì dù cho có dùng một ngàn cái thần sát cũng không đoán chuẩn. Tôi là một người tại đầu đường vỉa hè bày hàng đoán mệnh kiếm sống, vô danh tiểu bối, không có bao nhiêu trình độ, cho nên hi vọng những bằng hữu yếu thích mệnh học, hoặc các vị đồng đạo sau khi đọc xong cũng tham dự thảo luận, có ý kiến hoặc kiến giải khác biệt cứ việc nói cho tôi biết. Bần đạo xin cảm ơn trước.

(Hết)

Sửa bởi ThienKhanh: 08/06/2019 - 13:45







Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |