Jump to content

Advertisements




Bát Tự Tin Tức Thủ Tượng - Diêu Á Phong - Dịch thô

tượng pháp Diêu Á Phong

12 replies to this topic

#1 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 14/11/2018 - 17:09

Hiện tôi đang dịch thô tài liệu Bát Tự Tin Tức Thủ Tượng, nên tôi đăng lên cùng mọi người tham khảo cho vui. Tác giả Diêu Á Phong đang được đánh giá là một trong những hậu học nghiên cứu bát tự có thực lực, có khả năng luận thực chiến nổi bật trên trang mạng Trung Quốc ở thời điểm hiện tại.

Tài liệu này bàn về Tượng Pháp, vốn rất phức tạp. Bát tự có tám chữ, mỗi chữ lại có rất nhiều tượng, tượng chồng tượng, tượng trùng tượng, vì vậy cần căn cơ vững, nghiên cứu đến phần Tượng Pháp, mà cụ thể là có khả năng lọc Tượng thì dễ dàng nhập thủ tài liệu này, nếu không dễ bị nhiễu loạn.

Ngoài ra, tài liệu còn thích hợp cho việc nghiên cứu "quẻ bát tự". Tức xem bát tự như một tiểu thái cực, một điểm thời không chứa tin tức vạn vật để luận cát hung sự kiện ngắn hạn. Đây là cách ứng dụng bát tự theo lối quẻ Dịch, mà cụ thể là Mai Hoa Dịch; tức lấy bát tự tại thời điểm "tâm động" mà giải cát hung. Đây cũng là quan điểm trụ cột của hệ thống kĩ pháp Thái Cực Cửu Cung Định Vị. Chỉ có điều tài liệu này luận Tượng trên thực bàn là nguyên cục bát tự, chứ không luận trên hư bàn Cửu Cung.

Như cũ, việc gạn đục khơi trong, chọn lựa cái đúng, cái sai khi đọc là công việc của người đọc.

Mong quý vị thận đọc.

-----

Chương 1: Khái nim tượng pháp trong T Tr

1. Nhận thức tượng pháp trong tứ trụ

Tượng pháp chính là những thuộc tính do bản thân bát tự biểu hiện trực tiếp hoặc là gián tiếp. Việc xem bát tự phần lớn là rút ra tin tức từ bên trong bản thân bát tự; quá trình rút ra tin tức từ bên trong bát tự chính là đọc tượng, cũng chính là dựa theo tượng sự vật mà đọc ra kết quả tương ứng. Ở đây nói đọc tượng pháp là chỉ tượng trong mệnh lý bát tự, tức là đọc tượng can chi, tượng thập thần, tượng tổ hợp, tượng sinh trợ, tượng chế hoá, tượng trong ngoài, tượg cung vị, tượng âm dương, tượng bát quái, v.v… Thông qua tượng,c hung ta có thể phán đoán, suy luận ra vô cùng cụ thể một chút sự việc. Mặc dù từ lý pháp có thể nhìn ra người nào đó vào năm nào đó không tốt, nhưng không tốt ở chỗ nào, là bệnh, hay phá tài, hay thương tật tai nạn xe cộ? Hay là lao ngục, kiện tụng, pháp luật? Đây đều là những vấn đề mà tượng pháp cần phải giải quyết. Tượng pháp là pháp bảo giúp luận đoán bát tự đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hoá.

Càn Tạo: Mậu Thìn - Ất Sửu – Quý Dậu – Mậu Ngọ.

1. Người có nhật nguyên Quý thuỷ, thường thận trọng, cân nhắc vấn đề cẩn thận, rất có hứng thú đối với những việc thần bí.
2. Toạ dưới có Dậu kim là Ấn tinh, nói rõ có tư tưởng ỷ lại.
3. Niên nguyệt Mậu thổ thấu lộ, là người nhát gan thẩm thận.
4. Nguyệt can Ất mộc là Thực Thần, là người có tinh thần hi sinh, cũng tương đối sĩ diện, khó tránh khỏi có chút lòng hư vinh.
5. Ất mộc là Thực Thần, đại biểu yêu thích loại hình công việc liên quan đến nghệ thuật, rất nổ lực trong làm việc lĩnh vực này.
6. Hôn nhân cung là Ấn tinh, nên hi vọng tìm được vợ có tuổi tác lớn hơn mình.
7. Ất mộc khắc Mậu thổ, khi còn bé bộ mặt có bị thương tổn.
8. Mục cục đông hàn, thích ấm sợ lạnh, dễ bị cảm lạnh.

Nếu cẩn thận nghiên cứu còn có thể rút ra càng nhiều tin tức. Lại có một ví dụ khác như sau:

Khôn tạo: Quý Sửu - Ất Mão – Mậu Thìn – Nhâm Tuất

1. Nhật trụ mậu thổ, là người thành thật, hậu trọng.
2. Mậu – Quý hợp chắc chắn có chồng lớn hơn nhiều tuổi.
3. Ất mộc là Quan tinh phùng sinh, chồng sẽ có quyền lực.
4. Chính Quan trực tiếp khắc mậu thổ, là quan hệ vợ chồng cũng không phải tốt lắm.
5. Ất mộc khắc Mậu thổ, trung niên trên mặt sẽ bị tổn thương
6. Ất mộc vượng nói rõ sinh hoạt gia đình gặp áp lực lớn.

Mệnh lý tượng số quan trọng nhất là trong phương pháp giải đọc lá số biết lợi dụng tượng, số, lý làm tư tưởng chủ đạo, đồng thời lợi dụng tổng hợp các loại dịch tượng, lý luận cùng với các kỹ pháp luận mệnh để hoàn thiện them phương pháp phân tích bát tự.

2. Khái niệm Manh Phái

Can chi trong bát tự chính là phương thức để chiêm mệnh bằng tượng số, nó phản ánh toàn diện trạng thái của vạn sự vạn vật từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Tượng tồn tại khách quan. Tượng là phương thức biểu đạt Thiên Ý. Về chiều rộng, tượng có thể chia làm bản tượng, vật tượng, sự tượng. Về chiều sâu, tượng có thể chia làm hiện tượng, ý tượng, pháp tượng. Bản tượng: tượng hào âm dương, tượng lưỡng nghi, tượng tứ tượng, tượng bát quái, tượng 64 quẻ. Vật tượng: gần thì lấy tượng lục thân, xa thì lấy tượng vạn vật, tượng quái diễn. Sự tượng: dùng thường thức để hình dung lý của những sự việc diễn ra. Hiện tượng: những biểu tượng do con người cảm giác hoặc nhận thức được. Ý tượng: hợp ý, ý là tưởng tượng. Pháp tượng: mang tính biểu tượng, tức là thủ tượng.

Tượng trong phương pháp luận đoán tứ trụ bằng thủ tượng là chỉ tượng loại tổ hợp. Nó chủ yếu chỉ tượng loại âm dương, tượng loại cân bằng, tượng loại lưu thông, tượng loại vượng suy, tượng loại khô ẩm nóng lạnh, tượng loại dụng kỵ thần, tượng loại hư thực, tượng thiên văn thiên can, tượng địa lý địa chi, tượng loại tổ hợp can chi, tượng loại hình xung hợp hại, tượng loại tinh khí thần Thập Thần, tượng loại thanh trọc thuần tạp. Sau đó căn cứ vào đặc điểm tổ hợp loại tượng mà xác định chủ yếu ứng với sự tình gì, lại lấy nó làm tiêu chí chủ yếu để lần theo mà xác định ứng kỳ.

1.3 Đặc điểm phương pháp luận đoán thủ tượng

a. Lấy tượng loại tổ hợp để phân tích mệnh cục.

b. Phân biệt trong tứ trụ đâu là cung vị, bốn hạn, bốn đoạn, chủ thể và khách thể để xác định phạm vi và tính chất của sự tình tương ứng.

c. Dùng cát hung mệnh cục cùng với thủ tượng ứng sự việc gì mà đoán những thông tin chính yếu trong mệnh cục, lại lần theo tin tức mà tìm ứng kì.

d. Định tượng Thập Thần, kết luận dứt khoát.

e. Tượng là sự tình tương ứng, mà tượng cũng là ứng kỳ.

Phương pháp thủ tượng Manh Phái chủ yếu ở chỗ can chi, cung vị, Thập Thần và quan hệ hình xung hại, đương nhiên cũng có liên quan đến quan hệ cố định của vị trí thứ tự can chi. Cần phải đồng thời vận dụng những loại tượng này một cách tỉ mỉ. Nhưng cũng có thể có lúc gượng ép hoặc tình trạng không rõ ràng, thì có thể lấy tượng thoát ý, đồng thời vận dụng lý luận truyền thống về âm dương, cân bằng. Căn cứ vào tổ hợp tượng loại mà đoán tin tức chủ yếu trong bát tự, là quý, là phú, là bần, là tiện, là thọ là yểu, là mệnh tốt, hay là mệnh xấu, là có thành tựu hay vẫn là không có thành tựu, là hôn nhân trắc trở, là thị phi kiện tụng tù ngục, là khắc vợ khắc chồng, là khắc tử khắc mậu, là thích đánh bạc, là háo sắc, là phúc hậu chính phái, là gian hoạt, là kỹ nữ hay vẫn là kẻ trộm. Thông qua tượng loại, không chỉ có thể xác định các cục cao thấp, mà còn có thể xác định tình trạng của đương số, cùng với những đại sự cát hung chủ yếu trong mệnh. Tất cả những điều này đều sẽ rõ rang thông qua phân tích tượng loại bát tự.

1.4. Phương pháp thủ tượng chủ yếu

a. Phương pháp cân bằng: cân bằng chủ yếu chỉ âm dương, vượng suy, hàn noãn táo thấp cũng thập can hỷ kỵ có cân bằng hoặc không cân bằng mà hình thành tượng, qua tượng đó mà biểu hiện cát hung.

b. Phương pháp lưu thông: tức là thông qua tổ hợp bát tự và ngũ hành sinh khắc mà hình thành một loại lộ tuyến, hình thành một loại chủ tượng hoặc chủ lực. Lấy kết quả sinh khắc mà luận tượng, luận cân bằng. Đắc cục triều nguyên hoặc ngũ hành tương chiến, hoặc nhật chủ vượng mà vượng lưu thông đến vượng, hoặc nhật chủ suy mà vượng lưu thông đến nhật chủ, hoặc nhật chủ vượng mà lưu thông làm ức chế. Lưu thông luận cân bằng, lấy kết quả lưu thông luận nhật chủ cùng với dụng kỵ trong cách cục để đoán cát hug. Dụng thần thông quan cũng là một phương pháp ứng dụng tuế vận trong việc luận đoán bằng phương pháp lưu thông. Lưu thông nếu thành tượng thì cát hung lớn. Tượng lưu thông lại phân làm mệnh cục lưu thông thành tượng, tuế vận lưu thông thành tượng, hoặc tuế vận phá hư lưu thông chẳng hạn.

c. Tinh khí thần của thập thần: nhật can tại nguyệt lệnh được sinh trợ hoặc toạ căn được sinh trợ, hoặc được can khác làm dụng sinh trợ thì có khí. Ngũ hành khắc tiết hao tổn nhật chủ là nơi thể hiện thần thái nhật can. Tổng thể lại chính là tinh khí thần của nhật can. Tinh khí thần đủ, chỉ ngũ hành thành vượng khí hoặc tự có căn hữu lực. Tam giả cũng thành âm dương đối lập, tinh đủ cùng thần đủ hình thành hai loại khí âm dương có lực. Phân tích những Lục Thân khác cũng giống như phân tích Nhật Chủ, đều luận tinh khí thần. Tinh vượng, khí vượng, thần vượng, tự nhiên là mệnh tốt, có thành tựu. Tinh khí vượng, thần khô, tự nhiên là mệnh không có thành tựu. Xét theo trình độ này đó, thì khi kết hợp tinh khí thần vượng suy cùng với tổ hợp lưu thông cân bằng, nếu có tình trạng thái quá hoặc bất cập không đủ đều là thần khô hoặc khí suy, đều là không cân bằng, đều lấy tinh kiệt thần khô mà luận mệnh không có thành tựu. Cân bằng chính là căn cứ luận phú quý thọ yểu. Luận thập can tinh khí thần chính là căn cứ để luận cái được, cái mất của thập can. Nhật can có đủ tinh khí thần tự nhiên là có chỗ thành. Nhật can cần luận tinh khí thần, đồng thời dụng thần cũng cần luận tinh khí thần. Cũng tức là luận tinh khí thần của chúng hữu lực hay vô lực.

d. Thanh trọc thuần tạp: bát tự có sinh khắc chế hoá thoả đáng là thanh, là hữu tình, trái lại không thoả đáng là trọc, là vô tình. Từ lý luận âm dương có thể thấy, trong bát tự nếu cùng tồn tại từ hai đối tượng có cùng âm dương ngũ hành trở lên thì là tạp. Không hỗn tạp thì thuần. Dụng thần được sinh hộ thích hợp mà đắc dụng là thuần. Dụng kỵ tác động qua lại lẫn nhau, nếu cái hỷ dung mà có tác dụng không rõ rang, không chương hiển cũng là hỗn tạp.

e. Tượng tổ hợp thập thần: căn cứ vào mối quan hệ với nhật chủ mà định thập thần. Sau đó dựa vào độ vượng suy, đặc tính của thập thần và tác động qua lại với các thần khác trong bát tự mà luận đoán. Yêu cầu cần chuẩn xác nắm giữ hàm nghĩa Thập Thần. Mỗi bát tự tổ hợp tự mình đã thành một tượng, còn đại vận lưu niên là ứng kỳ hậu thiên.

f. Tượng minh ám: hiện rõ là minh, không thấy là ám. Nên minh mà minh, không nên minh mà không hiện thì cát, không nên hiện mà hiện là không cát, nên hiện mà không hiện cũng không cát. Nên hiện mà đã hiện rồi, nhưng lại bị kỵ thần tổn thương thì vì hiện mà hung. Chữ nào trong bát tự là hung thì không nên xuất hiện, nay hiện mà bị chế thì thành cát. Bát tự củng dao hợp xung đều có ám tượng, như trong cục có 3 Bính thì sẽ ám hợp 1 Tân hoặc ám xung 1 Nhâm, Tân hay Nhâm này sẽ bởi vì ám xung, ám hợp mà động, động thì thể hiện tác dụng lên bát tự.

g. Tượng loại can chi: can chi phối trí là nói các loại quan hệ giữa can chi, bao gồm: nguyên lý can chi sinh khắc, nguyên lý can chi hỗ tá, nguyên lý can chi hư thực. Đó đều là những căn cứ trọng yếu để phân tích bát tự.

Còn có nhiều phương pháp thủ tượng khác, ví dụ như tượng loại thập thần, tượng loại hình xung hợp hại không, tượng hỷ kỵ, tượng vượng suy, tượng can chi, tượng bệnh dược, tượng độc vô, tượng hàn táo, tượng thiên khô, tượng phục ngâm, tượng phản ngâm, tượng hợp hội, tượng chế hoá, tượng sinh trợ, tượng xung chiến, v.v…

#2 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 17/11/2018 - 13:02

Chương 2: Tượng loại ngũ hành

2.1. Hình thể

Người mệnh mộc: râu dài, râu tóc đẹp, lông mày thanh tú, màu da trắng, đứng ngồi thẳng thớm, thanh âm vui vẻ, vô tư, âm điệu tương đối cao. Mộc khí hưu tù tử tuyệt, dáng người nhỏ gầy, tóc thưa thớt, khô héo, mặt mày bất chính, cổ dài hầu lồi, da khô, giọng nhỏ mềm, nằm ngồi cử chỉ không ổn định.

Người mệnh hoả: mặt trên hẹp dưới rộng, thịt nhiều, ấn đường hẹp, lông mày rậm, mũi lộ khiếu, đầu nhỏ chân dài, lưng dày, phần bụng khá lớn. Hoả quá nhiều thì huyết khí vượng, tóc thô dày, sắc mặt đỏ, tốc độ nói chuyện nhanh, hiếu động. Hoả nhược thì thân hình gầy nhỏ lệch, da đen, sắc mặt hơi vàng, nói năng lộn xộn.

Người mệnh thổ: đầu tròn, mặt rộng, mũi lớn, miệng vuông, sắc mặt hơi vàng, long mày nhạt mà không dẹp, lưng dày eo thô, thanh âm nặng trọc, thường ít nói, tĩnh nhiều động ít. Thổ hưu tù tử tuyệt thì mặt thường ưu sầu, thể trạng đơn bạc, gầy.

Người mệnh kim: mặt hình vuông, tròn, màu da trắng nõn, lông mày anh tuấn, mũi thẳng miệng ngay, thanh âm trong trẻo, thể chất cường tráng. Kim quá vượng thì thân thể hơi mập, âm thanh trọc. Kim hưu tù tử tuyệt thì gầy nhỏ, mặt xấu.

Người mệnh thuỷ: lông mày thanh tú, mặt tròn, vai không rộng, thân thể dễ đung đưa không ngừng, giọng nói thanh hoà, da trắng. Thuỷ quá vượng thì to béo. Thuỷ hưu tù tử tuyệt thì thấp bé, đen xấu.

2.2. Tính tình

Người mệnh mộc: nhân từ, trung hậu, lý trí, có chủ kiến, khiêm tốn, cử chỉ ổn thoả đoan trang, tiêu sái. Dần mộc là dương, hướng lên, có lòng tiến thủ, chính trực, phong nhã, có tình nghĩa, có trách nhiệm, nhanh nhẹn, có khả năng ứng biến. Mão mộc là âm, mềm mại, hoà ái, biết thông cảm, bề ngoài khiêm tốn, nội tâm thích chiếm hữu. Mộc quá vượng thì táo bạo, lệch lạc, cố chấp, hay ghen ghét, thà gãy không cong, khó hoà đồng, hay phức tạp hoá vấn đề. Hưu tù tử tuyệt thì không quả quyết, ý chí yếu kém, gió chiều nào theo chiều nấy, không có chủ kiến, lòng dạ hẹp hòi, tính toán chi li, làm việc không trật tự.

Người mệnh hoả: thích ăn diện, thích quần áo đẹp, tác phong nghiên cẩn, kính trên nhường dưới, khiêm tốn thuần phác, hào phóng thông minh, có tài văn chương, tinh thần hang hái, có sức sang tạo, không sợ gian khổ. Tỵ hoả là dương hoả, tính tình hướng ngoại, hơi có vẻ vội vàng xao động, lòng tự tôn cao, thích biểu hiện bản thân, thích cùng người tranh luận, không đủ tính nhẫn nại. Ngọ hoả là âm, tư duy tỉ mỉ, tính tình hoà thuận, thông minh mà giàu lòng cảm thông, đa nghi. Hoả quá vượng thì ngang ngược, dễ kích động mà mất lý trí, làm việc bất chấp hậu quả mà hối hận. Hoả hưu tù tử tuyệt thì trời sinh thích a dua nịnh nọt, gian trá, giải biện, làm việc đầu voi đuôi chuột, không bền chí, không biết ứng biến linh hoạt, hay làm phiền người khác, không quả đoán.

Người mệnh thổ: ổn trọng, trung thành, hiếu thuận, thủ tín, lòng da rộng, độ lượng, kính thần phật, tự tin, thích yên tĩnh, kiên nhẫn, hiền hoà. Dương thổ trầm ổn, âm thổ có nội hàm, tài nghệ. Thổ quá vượng thì ng* d*t, cố chấp, phản ứng chậm, thích một mình, kỳ quái, không biết khiêm tốn. Hưu tù tử tuyết thì nhát gan sợ phiền phức, ích kỷ bủn xỉn, không thông tình đạt lý, không được người ưa thích, xảo trá.

Người mệnh kim: quyền biến, hiếu học tiến thủ, thích tiệc tùng, uy vũ, kiên định, quả quyết, có tình nghĩa, trượng nghĩa khinh tài, phân rõ thiện ác, trọng thanh danh, thông tình đạt lý, quang minh chính đại, có tài hoa, giỏi giao tế. Thân kim là dương, thô kệch nhưng hào phóng, hiếu thắng. Dậu kim là âm, trọng tình cảm, ôn nhuận thanh tú, tự tôn nhưng thích hư vinh, ý chí không kiên định. Kim quá vượng thì hữu dũng vô mưu, trọng nghĩa khí, dễ xúc động làm bậy, thích đánh giết, thích dâm dục. Kim hưu tù tử tuyệt thì ngoài miệng nói nhân nghĩa mà khó hành động thực tế, do dự không quyết, dễ để vuột mất cơ hội tốt, kiệm lời, làm việc thường nản chí khi khặp khó khăn.

Người mệnh thuỷ: thông minh, suy nghĩ cẩn thận, lòng dạ rộng rãi, thiện lương, tầm nhìn rộng, có học vấn tri thức, có đầu óc kinh tế. Hợi thuỷ là dương, lạc quan, hướng ngoại, dũng cảm đa trí, túng dục tuỳ hứng, có khuynh hướng hưởng thụ lười biếng. Tý thuỷ là âm, hướng nội, mềm mại, hay nghi kỵ, làm việc gì cũng có kế hoạch, suy nghĩ đôi khi không thiết thực, trong lòng hay có bất mãn, trọng tình cảm, cố chấp. Thuỷ quá vượng thì quỷ kế đa đoan, dâm dục, hiếu động, không câu nệ tiểu tiết, không tuân thủ lễ giáo, tình cảm không chuyên nhất, bên trong thường u sầu, nhạy cảm, khi thì ăn nói luyên thuyên, khi thì cạy miệng không nói, đa tình, biết cảm thương người. Thuỷ hưu tù tử tuyệt thì hay thay đổi thất thường, nhát gan sợ phiền phức, không biết lo xa, thường không tự chủ.

2.3: Bộ phân thân thể

Mộc: gan, mắt, lông mày, tóc, lông, chân tay, thần kinh, não, da thịt, gân mạch.

Hoả: tim, ruột non, nhiệt độ cơ thể, cơ bắp, con mắt, lưỡi, amiđan.

Thổ: bụng, tính khí, ruột, mặt mũi, làn da, môi, sườn, lưng.

Kim: phổi, ruột già, xương cốt, miệng, đầu, ngực, khí quản, da lông, não, màng phổi, cột sống.

Thuỷ: thận, bang quang, hệ thống tiết niệu, phụ khoa, tai, cốt tuỷ, chân, âm bộ, huyết dịch.

2.4. Bệnh tật

Mộc quá nhược hoặc bị khắc thương, váng đầu hoa mắt, tóc thưa thớt, dễ bệnh thần kinh, gân cốt đau đớn, tay chân tê lặng, tay chân thương tổn, bệnh gan mật, tật mắt, hay phát sốt cảm mạo mà toàn thân đau nhức.

Hoả quá nhược hoặc bị khắc thương: bệnh tim, tim đập nhanh, nghẽn mạch, thiếu máu, bệnh dạ dày, bệnh thần kinh, đau nhức cơ bắp.

Thổ quá nhược hoặc bị khắc thương: gầy gò, thân thể yếu nhược, tứ chi không sức lực, bệnh dạ dày, thân thể đau nhức, bệnh ngoài da, bệnh vùng hậu môn.

Kim quá nhược hoặc bị khắc thương: da lông nóng khô không nhuận, khí hư, bệnh hô hấp, dễ cảm mạo, bệnh cột sống, bệnh khớp.

Thuỷ quá nhược hoặc bị khắc thương: thận, bàng quang, bệnh bí tiểu, bệnh về sinh sản, mộng tinh, mồ hôi trộm, liệt dương, sa tinh hoàn, bệnh tai, bệnh mẩn ngứa, phụ nữ bệnh huyết trắng, kinh nguyệt không đều, bệnh phụ khoa.

Thuỷ mộc tương sinh mà quá vượng: bệnh gan thận, bệnh dạ dày, gan trướng nước, gan trướng, bệnh thần kinh, tứ chi vô lực.

Mộc hoả tương sinh mà quá vượng: đau nửa đầu, mắt đỏ, ù tai, mê muội, bệnh tim, táo bón, tứ chi tê dại.

Hoả thổ tương sinh mà quá vượng: dạ dày trướng đầy, nôn nóng bất an, buồn nôn, hay nôn mửa, táo bón, tiêu hoá không tốt, ung bứu.

Thổ kim tương sinh mà quá vượng: bệnh tật hệ hô hấp, ho lao, ung thư hầu, bệnh gan mật, táo bón, sa dạ dày.

Kim thuỷ tương sinh mà quá vượng: thận hư, thận lạnh, thở khò khè, đi tiểu nhiều lần, bí tiểu.

2.5. Sự vật

Giáp Ất mộc: dài ngắn, lông tóc, màu xanh, ngón tay, gió, kinh mạch, suy nghĩ, đầu, chữ viết, cây thân gỗ, cành lá.

Dần Mão mộc: vật gây tê gây mê, cây cối hoa cỏ, dây thừng, lưới, thảo dược trung y, xương sống, chất độc, vật mang độc, cao thấp, đồ gỗ, sóng điện, vật nhỏ dài, khung xương, can đảm, tứ chi, thần kinh, tình trạng khí chất tinh thần, cốt tuỷ, tường vây, mạch máu, gân mạch, hàng dệt, sương mù, bệnh liệt nửa người, trúng gió, ngành nghề có biên chế, từ thiện, nghề mộc, rừng rậm, truyền bá, cảm mạo, bứu vùng thắt lưng, sản phẩm dệt, bệnh truyền nhiễm, thầy cúng hoặc người nhạy cảm với linh giới, nhà ngoại cảm, hô hấp, khí lưu, đạn.

Bính Đinh hoả: mặt cười, nụ cười, biểu tình, hương vị (thơm hay thối), vết sẹo, thị lực, lạnh nóng, màu đỏ rực, tia sáng thấy được, hình tròn hoặc hình bầu dục, phương nam, mềm mại, hiền lành, từ thiện.

Tỵ Ngọ hoả: lửa, màu đỏ rực, bộ ngực, mặt tròn, tim, mắt, không gian, gặp nước là thị phi khẩu thiệt, thân thể mập gầy tròn dẹt, huyết áp, bực dọc, văn minh, đồ gia dụng dùng để nhìn xem (TV, máy tính), vật tròn, nhà hàng, hoá chất mỹ phẩm (kiểm nghiệm), than đá, hành lý, cũ mới, phóng xạ, giáo dục, văn hoá, văn nhân, dầu đốt dầu hoả, điện, sưng phù, chụp ảnh, quân doanh, vui vẻ, tức giận, phóng viên, biên tập, bị bỏng bị phỏng.

Mậu Kỷ thổ: làn da, khu vực trung ương hay trung tâm, áp bách, trầm tích, vải bố, gốm sứ, nghề trồng trọt chăn nuôi, thổ sản, một táng, đóng giày, bách hoá.

Mùi Tuất thổ hoả: miếu thờ, phòng nung, lò than, thổ chuỳ (?), vùng đồi núi, bạo tạc, thuốc nổ, vật chứa hoặc vật lưu trữ nhiệt độ cao, dốc cao, phòng ốc, phía sau lưng, hơi ấm, trại chăn nuôi, kho lương thực, vật lồi ra, thập tự, đèn xanh đèn đỏ.

Thìn Sửu thổ thuỷ: hố đường, đất trủng, rác rưởi, ao, sương mù, kho, hải dương, hồ nước, hòn đảo, bụng thuyền, tắc máu não, giếng, ngọt, bệnh tiết niệu, bệnh tim, xe cộ, nhà máy nước, kiến trúc cầu đường.

Canh Tân kim: hình chữ nhật, không gian, đồ kim khí, trang trí, tính cứng rắn.

Thân Dậu kim: sản phẩm kim loại, không gian, xe cộ, đường xá giao thông, đại tràng, phổi, trang trí, rèn đúc, dao kéo, nha khoa, vật dụng trồng trọt, các vật liệu máy móc trong các ngành có liên quan kim loại, khuôn đúc, rắn chắc, đường hành lang, đường nhựa, kim loại, tháp đỡ, lưu trữ, nghề thuê hoặc sửa chữa xe cộ.

Nhâm Quý thuỷ: lạnh, lưu động, màu đen, biểu lộ nghiêm túc.

Hợi Tý thuỷ: sông hồ, các ngành nghề thuỷ sản hoặc liên quan sông nước, thận, chất lỏng, ẩm ướt, ngư nghiệp, đồ uống lạnh, thuỷ lợi, du lịch, nghề dịch vụ hoặc phục vụ, nơi tắm gội, héo rút.

2.6. Tượng vật của tổ hợp ngũ hành

Mộc thượng kiến thuỷ: vật phía trên có sinh ra hoa. Mộc thượng kiến hoả: tàn cháy khô héo. Mộc thượng kiến mộc: đồ gỗ hoa văn. Mộc thượng kiến kim: vật gây ra thương tổn. Mộc thượng kiến thổ: quan tài.

Hoả thượng kiến thuỷ: tổn hại những vật đã cũ. Hoả thượng kiến hoả: động nhiều tĩnh ít. Hoả thượng kiến mộc: hoa cỏ rau củ. Hoả thượng kiến kim: vật cần hun đúc. Hoả thượng kiến thổ: dụng cụ đất nung, sành sứ.

Thổ thượng kiến thuỷ: vật mềm. Thổ thượng kiến hoả: vật sáng, quang minh. Thổ thượng kiến mộc: vật kiên cố. Thổ thượng kiến kim: vật ngói, khoáng thạch. Thổ thượng kiến thổ: gạch đá.

Kim thượng kiến thuỷ; vật kim loại hoặc gạch đá. Kim thượng kiến hoả: lò nung, vật từ lò nung. Kim thượng kiến mộc: vật điêu khác. Kim thượng kiến kim: vật kim khí, ngũ kim. Kim thượng kiến thổ: đồ đá.

Thuỷ thượng kiến thuỷ: vật nhiều chân, vận động. Thuỷ thượng kiến hoả: vật có khí hậu, tình trạng xấu, hoặc trong hoàn cảnh xấu.Thuỷ thượng kiến mộc: vật có vòng, bánh xe, bánh răng chuyển động. Thuỷ thượng kiến kim: vật có sinh mệt. Thuỷ thượng kiến thổ: vật cũ, vật dưới đất, côn trùng.

2.7. Cách phân biệt nhanh ngũ hành:

Giáp Ất phương Đông hành mộc, màu xanh. Dần Mão vị chua, gan mật, mùa xuân, gân, gió, nhân tài, sừng, Tuế tinh, rạng sáng, giếng, Thanh Long. Bính Đinh nam phương hoả, chiếu sáng, thiêu đỏ. Tỵ Ngọ tim, đắng, ruột non, lưỡi, mùa hạ, nóng, vui, mạch máu, thu tặng quà, quà quý, ngày có Chu Tước hoặc Huỳnh Hoặc. Mậu Kỷ trung ương thổ, màu vàng, tỳ vị, vị ngọt, môi, hương làng, ẩm ướt, suy nghĩ, cơ thịt, mùa màng, cung, tin tức. Ngày có Câu Trần.

Canh Tân tây phương, kim loại, màu trắng. Thân Dậu đại tràng, vị cay, mũi, phổi, mùa thu, da khô, ưu thương, sát, nghĩa, hợp ban đêm có Bạch Hổ.

Nhâm Quý phương Bắc, nước, màu đen, hương thôn. Hợi Tý vị mặn, thận, tai, bàng quang, mùa đông, tuỷ, lạnh, hoảng sợ, trí, dâm, mưa, nửa đêm.

2.8. Ngũ hành và con số

1, 2 là mộc, 1 là dương mộc, 2 là âm mộc. 3, 4 là hoả, 3 là dương hoả, 4 là âm hoả. 5, 6 là thổ, 5 là dương thổ, 6 là âm thổ. 7, 8 là kim, 7 là dương kim, 8 là âm kim. 9, 10 là thuỷ, 9 là dương thuỷ, 10 là âm thuỷ.

#3 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 30/12/2018 - 16:49

CHƯƠNG 3: Tượng loại 12 địa chi

3.1 Tượng loại tổng hợp 12 địa chi

Tý: ngũ hành thuộc dương thuỷ, chiếm giữ phương Bắc, chủ hồ nước, sông ngòi, nơi có liên quan đến nước. Chỉ người chủ phụ nữ, đạo tặc. Động thực vật là chim én, dơi, ốc sên, khoai lang, nước củ cải, lục bình. Tại sự vật nếu gặp cát thần là thông minh cát tường, nếu gặp hung thần thì dâm dật. Diện mạo con người: thuỷ vượng thì cao đen, mặt dài; thuỷ nhược thì mập lùn, mặt chữ quốc. Hoàn cảnh: là hỷ thần biểu thị sông ngòi, giếng nước, ao nước, vạc nước sạch, tĩnh lặng; là kỵ thần chỉ loại nước bẩn thối như rãnh nước bẩn, cống thoát nước, hồ nước thối. Nhân vật: là hỷ thần là người nam trẻ tuổi, quân cảnh, công chức hoặc những quý nhân cát lợi; là kỵ thần là đạo tặc, thổ phỉ, thiếu nam phạm pháp, hoặc những người mang điềm xấu. Thân thể: hệ thống bài tiết, hệ thống sinh sản, dịch thể, bàng quang, niệu đạo, âm bộ, tinh dịch, kinh nguyệt, lỗ tai. Bệnh tật: huyết áp cao, sỏi thận, bệnh lây qua đường tình dục, xuất tinh sớm. Cát hung: là hỷ thì biểu thị thông minh, may mắn; là kỵ thì dâm loạn, gặp hoạ sát thân, vật ô uế không may mắn.

Sửu: ngũ hành thuần âm thổ, chiếm giữ phía đông bắc. Nơi chốn: vườn dâu, cầu nối cung điện, lễ đường, phần mộ. Người: quý nhân, tôn trưởng, Thần Phật. Động vật: trâu, lừa, la. Tĩnh vật: chìa khoá, đồ trang sức, trân bảo, hộc đấu, giày. Sự tình: gặp cát thần chủ vui mừng, thăng quan tiến chức; gặp hung thần chỉ hung, hình phạt lao ngục, kiện tụng, thị phi khẩu thiệt, rời xa nơi chôn rau cắt rốn hoặc bệnh tật. Diện mạo con người: vượng thì mặt lớn, làm da tốt; nhược thì thấp xấu, làn da thô ráp. Hoàn cảnh: hỷ thần chủ vườn rau, vườn dâu, cấu nối, cung điện, lễ đường; kỵ chỉ nơi ẩm thấp ô trọc như nghĩa địa. Nhân vật: hỷ thì chỉ quý nhân, sư trưởng, Thần Phật, cha; kỵ chỉ bà già, người phụ nữ xấu, xác chết. Thân thể: lá lách, bụng, tử cung, âm hành, bờ môi. Bệnh tật: cảm mạo, thương hàn, bệnh tiểu đường. Cát hung: hỷ thì thăng quan, đạt giải, và các sự việc may mắn; kỵ thì khẩu thiệt thị phi, bệnh tật, bị đe doạ, và các điềm xấu khác.

Dần: ngũ hành thuộc dương mộc, chiếm giữ hướng Đông Bắc. Nơi chốn: rừng núi, cầu nối. Người: chồng, con rể, quý nhân, thanh quan, người nơi công môn luật pháp. Vật: văn thư, biên lai, hoá đơn, lư hương, máy dệt, tài vật, quan tài. Động vật: cọp, beo, mèo. Sự tình: gặp cát thần chủ văn thư, tiền tài, tin tức; gặp hung thần vì phá tài, bệnh tật, quan phi. Diện mạo: vượng thì thân cao, mặt chữ điền hơi dài, sắc mặt thanh bạch, lông mày thô rậm; nhược là vóc người trung bình, gương mặt nhỏ bé, lông mày thưa thớt. Hoàn cảnh; hỷ thần là tượng cây cối, công viên, vườn trái cây, bồn cây cảnh; là kỵ chủ cầu gỗ gãy, rừng cây âm trầm. Nhân vật: hỷ thì trượng phu, con rể, quý nhân, chủ nhà, khách khứa; kỵ là tham quan, ô lại, khách không mới mà đến, ác quỷ, tiện nhân. Thân thể: bất luận hỷ kỵ đều tượng gan, ngực, xương cùng, lông tóc. Bệnh tật: tứ chi tàn tật, bệnh gan. Cát hung: hỷ thì tài đến, có tin tức tốt; hung thì bệnh tật, thị phi, rủi ro.

Mão: ngũ hành thuần âm mộc, chiếm giữ phương đông. Nơi chốn: đường cái, con đường. Người: anh em, cô gái trẻ, phụ nữ, đạo tặc, nghệ nhân ngành thủ công nghiệp. Vật phẩm: chủ thuyền, xe cổ, cửa, cửa sổ. Động vật: con thỏ, dế. Sự việc: cát thần chủ xe cộ, thuyền bè bình an vô sự; hung thần thì kiện cáo, khẩu thiệt, hoặc xe thuyền gặp tai nạn. Diện mạo: vượng thì thân cao trung bình, mặt khá tròn, mắt hai mí; nhược thì vóc dáng không cao, mặt xanh đen, lông mày thưa thớt, mặt dài. Hoàn cảnh: là hỷ thì chủ đạo đường, cửa, cửa sổ, thuyền nhỏ; là kỵ chủ thuyền hỏng, cây bị huỷ, hoa cỏ bị vứt bỏ. Nhân vật: hỷ là huynh đệ, cô; là kỵ chủ bà cô (cô của ba), mẹ vợ, trộm vặt. Thân thể: gan, gân cốt, khuỷu tay, thần kinh, lông, mười ngón tay, dưới nách. Cát hung: hỷ thì xuất hành may mắn, thuyền xe bình an; hung thì thuyền xe gặp nạn, phạm điện quan can sát (sát khí do trụ điện sinh ra) hoặc thụ mộc sát (sát khi do cây cối sinh ra). Bệnh tật: gan trướng nước, thắt lưng đột xuất, chân gãy.

Thìn: ngũ hành thuần dương thổ, chiếm giữ phía đông nam. Nơi chốn: đê đập nước, mộ phần, ruộng lúa, chùa chiền tự quan. Nhân vật: tăng nhân, đạo nhân, phụ nữ. Đồ vật: đồ sứ, vạc vò,t ro bồn, hương giấy, da lông. Sự tình: cát thần chủ bác sĩ, thuốc men; hung thần chủ đồ tể, tranh tụng. Diện mạo: vượng thì vóc dáng tương đối cao, mắt to, mặt chữ điền, trán rộng, mặt khá đầy; nhược thì gương mặt nhỏ, vóc dáng trung bình. Hoàn cảnh; là hỷ chủ ruộng lúa, điền viên, núi đồi; là kỵ chủ phần mộ, chậu hoa bị bể, đường đầy bùn đất. Nhân vật: là hỷ là trưởng nam, bác sĩ, y tá; là kỵ là ni cô, đạo sĩ, tăng nhân. Thân thể: xương, làn da, cổ, yết hầu. Bệnh tật: bệnh tiểu đường, bệnh ngoài da, viêm xương, khàn giọng. Cát hung: hỷ thì y thuật giỏi, khôn khéo, khoe mạnh, sung sướng; hung thì quái thanh quái khí, rên rỉ thống khổ.

Tỵ: ngũ hành thuộc âm hoả, chiếm giữ phương Đông Nam. Người: phụ nữ trung niên, thiếu phụ, thiếu nữ, ăn mày. Động vật: côn trùng, giun, ve, đom đóm. Đồ vật: tranh sách, chữ viết, hoa quả, gạch ngói, đồ sứ. Sự tình: thấy cát thần chủ văn thư, chứng từ; thấy hung thần chủ bệnh dịch, ác mộng. Diện mạo: vượng thì chiều cao trung bình, mặt tròn, sắc mặt tái bên trong mang đỏ, lông mày đặc biệt đen dày; nhược thì vóc dáng không cao, mặt hình bầu dục, mặt thường không biểu tình, khô khan. Hoàn cảnh; hỷ thì là quán đồ nướng, đồ điện, rạp chiếu phim, phòng khiêu vũ; là kỵ tượng nơi hoả táng, nhà gạch ngói bị vứt bỏ, nhà máy hoả luyện khói cuồn cuộn. Thân thể: tam tiêu, ruột non, răng, khoang miệng, mắt. Bệnh tật: đau răng, viêm khoang miệng, mắt cận thị, viêm kết tràng. Cát hung: hỷ thì tượng tình yêu, ấm áp, nhiệt liệt; kỵ thì rét lạnh, thất ý, luống cuống.

Ngọ: ngũ hành thuần dương hoả, chiếm giữ phương Nam. Nơi chốn: đại sảnh, phòng họp, rạp chiếu phim, chỗ ăn chơi. Người: tăng nhân, người cưỡi ngựa, nữ thư ký, cung nữ, sứ giả. Đồ vật: Tivi, âm thanh, đồ điện, tranh sách, quần áo, cờ xí. Sự việc: gặp cát thần tượng tin tức, văn chương; gặp hung thần là kinh nghi, khẩu thiệt thị phi. Diện mạo: vượng thì dáng tương đối cao, mặt hình trái táo, mắt hai mí, mắt to có thần; nhược thì vóc dáng trung bình, mặt không huyết sắc, ánh mắt hãm. Hoàn cảnh; là hỷ là khu du lịch, phòng họp, phòng trò chơi; là kỵ tượng tượng sòng bài dưới hầm, đồi núi bị lửa đốt qua, bếp bị bỏ hoang, điện áp trước cổng nhà. Nhân vật: là hỷ là phụ nữ cao quý, người bán rượu, nữ thư ký; là kỵ thì chỉ nhân viên lò hoả táng, người nghiện rượu, người bị thất khiếu chảy máu. Thân thể: đầu lưỡi, cái trán, bộ mặt, rốn, thần khí. Bệnh tật: đau mắt, trong lòng buồn bực, chứng nhiệt, cơ tim tắc nghẽn. Cát hung: cát thì biểu thị nỗi lòng, sự cảm kích; hung thì biểu thị khẩu thiệt, kinh nghi, hoạ sát thân.

Mùi: ngũ hành thuần âm thổ, chiếm giữ phương Tây Nam. Nơi chốn: đại viện, tường, đê đập, mộ phần, đồng ruộng. Người: phụ nữ lớn tuổi, đàn ông lớn tuổi, người chăn dê, quả phụ, thầy cúng. Động vật: dê, ưng, chim sáo đá. Vật: quần áo, thuốc men, đồ ăn, đồ uống rượu. Sự việc: gặp cát thần là rượu, đồ nhắm, yến hội, các việc vui; gặp hung thần là bệnh tật, đồ tang, quan tai. Diện mạo: vượng thì mặt dài, vóc dáng cao gầy, không xinh đẹp; nhược thì mặt vuông, vóc dáng trong bình, tướng mạo bình thường. Hoàn cảnh: là hỷ thì tượng phòng bếp, kho dầu, hầu phòng; là kỵ thì tượng kho dầu bị vứt bỏ, bếp dã ngoại, khu trừ độc trong bệnh viện. Nhân vật: là hỷ là người chăn dê, người phụ nữ cao quý; là kỵ là ni cô, thầy cúng, đạo sĩ, tù phạm. Thân thể: dạy dày, làn da, gàu, tỳ. Bệnh tật: táo bón, da sưng đỏ, viêm dạ dày cấp tính. Cát hung: là cát thì yên tĩnh, hưởng thụ; là kỵ thì tinh thần sa sút, biểu lộ mơ hồ, chịu khổ sở.

Thân: ngũ hành thuần dương kim, chiếm giữ phương Tây Nam. Nơi chốn: gian thờ Thần Phật. Người: người đi đường, quân nhân, kẻ hung ác. Đồ vật: xe đạp, xe ba bánh, xe máy, xe lửa, xe hơi, đao kiếm, vàng bạc, đồ sắt. Động vật: khỉ, sư tử. Sự việc: gặp cát thần thì có tin vui, việc vui; gặp hung thần chủ gian thờ phượng bị tổn thất, bệnh tật, rủi ro. Diện mạo: vượng thì thân cao, da trắng nõn, mũi cao, không có vành tai; nhược thì vóc dáng trung bình, da trắng bên trong có mang đốm đen, sơn căn thấp, lỗ tai phản vòng. Hoàn cảnh: là hỷ tượng núi băng, thượng nguồn, tiệm vàng bạc, xưởng sắt thép, bộ phận bán hàng xe hơi; là kỵ tượng từ đường, xưởng sắt thép bị vứt bỏ, xe hơi bị hỏng. Nhân vật: hỷ là bác sĩ, quân nhân, cảnh sát, của hàng vàng bạc nữ trang; là kỵ chỉ người hung bạo, đồ tể. Thân thể: ngực, phổi, gân xương, đại tràng. Cát hung: là hỷ thì Thần Phật phù hộ; là kỵ thì gây thần đụng quỷ, xuất hành không lợi. Bệnh tật: bệnh lao phổi, viêm phổi cấp tính, gãy xương, tứ chi không linh hoạt.

Dậu: ngũ hành thuần âm kim, chiếm giữ phương Tây. Người: phụ nữ, thiếu nữ, âm quý nhân, người bán rượu. Vật: vàng bạc, đồ trang sức, trân bảo, đao kiếm, da lông, trảo xương, trái cây, khẩu trang, cột đá. Động vật: gà, bồ câu. Sự việc: gặp cát thần là hoà hợp, suôn sẻ; gặp hung thần là bệnh tật, ly biệt. Diện mạo: vượng thì mặt bầu dục, mắt hạnh sáng, làn da trắng mịn, đầu vừa phải; nhược thì mặt trái xoan, vóc dáng thấp bé, làn da thô ráp. Hoàn cảnh: là hỷ tượng nhà máy cơ khí, sân bay, xe hơi, nhà máy sửa chữa, cửa hàng kim khí, phòng hoá trang; là kỵ tượng phòng chứa thi thể, phòng giải phẫu, hiện trường vụ nổ, trường bắn. Nhân vật: hỷ là tỳ thiếp, quý nhân là nữ, nữ bồi rượu; là kỵ tượng đệ tử lưu linh hoặc người say rượu, thợ học cắt tóc, thợ học nấu bếp.

Tuất: ngũ hành thuần dương thổ, chiếm giữ phương Tây Bắc. Nơi chốn: sơn lĩnh, sườn núi dốc, đền chùa, phần mộ, nhà vệ sinh, lao ngục. Người: trưởng giả, thiện nhân, tăng đạo. Động vật: chó, lừa. Thực vật: đậu nành, cao lương, kiều mạch. Đồ vật: đồ dùng từ gạch ngói, đồ sứ, thuốc men, thi cốt, chìa khoá, giày. Sự việc: gặp cát thần chủ thuận lợi; gặp hung thần chủ giả dối lừa bịp, không thật, tranh đấu giành giật, tai ương lao ngục. Diện mão: vượng thì mặt to, người cao, mũi thẳng; nhược thì vóc dáng không cao, mặt bầu dục, mũi hình móc câu. Hoàn cảnh: hỷ tượng hoa quả sơn, nhà bếp, lò ngói, trạm biến áp; là kỵ tượng phần mộ, kho đạn, nhà tù, nhà vệ sinh. Nhân vật: gặp cát là nông dân, công nhân vệ sinh, người tốt, Phật tử, thầy phong thuỷ; là kỵ tượng người cô lạnh, người trộm mộ, quan quản ngục, phụ nữ xấu. Thân thể: mệnh môn, đầu gối, cổ tay, mũi, da. Bệnh tật: dạ dày chảy máu, viêm mũi, viêm khớp, ngứa da. Cát hung: cát thì làm việc thuận lợi, tâm tình thư sướng; hung thì tai hoạ lao ngục, tâm tình bức bí.

Hợi: ngũ hành thuần âm thuỷ, chiếm giữ phương Tây Bắc. Nơi chốn: sông, biển hồ, nhà kho, chùa chiền, ban công, nhà vệ sinh. Người: trẻ nhỏ, ăn mày, thợ làm giày, người chăn heo, người say rượu, tội phạm, đạo tặc. Động vật: cá, tôm, cua. Đồ vật: lông tóc, vải bố, lụa, bút mực. Sự việc: cát thần chủ hôn nhân, tìm kiếm; gặp hung thần chủ tranh đấu, khó sinh. Diện mạo: vượng thì mặt dại, vóc dáng trung bình, mặt đen, tai khá dài; nhược thì vóc dáng thấp bé, mặt trắng, lỗ tai nhỏ. Hoàn cảnh: là hỷ tượng dòng suối nhỏ, nước suối, hồ nước nhỏ, thiên trì; là kỵ tượng cống thoát nước, nước thối, rãnh nước thối, hố nước bẩn, nhà vệ sinh. Nhân vật: là hỷ tượng thiếu nữ, người chèo thuyền, viên chức công ty nước máy; là kỵ tượng ăn mày, phạm nhân, ngư dân. Thân thể: bàng quang, âm đạo, hậu môn, đầu lâu. Bệnh tật: bệnh máu, kinh nguyệt không đều, xuất tinh sớm, mộng tinh, mồ hôi trộm, ho ra máu, tiểu tiện bỏng rát. Cát hung: hỷ thì hôn nhân mỹ mãn; hung thì gia đình tan vỡ, hung sự không ngừng.

3.2. Địa lý:

Tý: biển hồ, hồ nước. Sửu: vườn trồng trọt, ruộng, mộ phần. Dần: rừng núi, cầu nối. Mão: cây rừng, xe thuyền. Thìn: sơn lĩnh, mộ phần. Tỵ: lò, lò nung. Ngọ: thành phố, đường đi, cờ phướn, băng rôn. Mùi: Thôn trại, giống, suối. Thân: trạm dừng, thạch kinh. Dậu: đồi gò, thành, đường phố, hẻm. Tuất: bò ruộng, doanh trại, đồi. Hợi: sông, cảng, khe rãnh nước.

3.3. Tạng phủ:

Tý: bàng quang. Dần: mật. Mão: gan. Tỵ: tam tiêu, ruột non. Ngọ: tim. Dậu: phổi. Hợi: âm thận. Thìn Tuất: tỳ. Sửu Mùi: dạ dày.

3.4. Đồ vật

Tý: son phấn, trâm vòng. Sửu: mũ, đai lưng. Dần: bàn ghế. Mão: đồ gỗ dùng trong nhà. Thìn: đồ vật dùng để đo lường, thước mét, cái sàng. Tỵ: lò, quạt, cung nỏ. Ngọ: tranh sách, cờ phướn. Mùi: bộ đồ ăn, vải vóc. Thân: đồ để xay, nghiền. Dậu: vàng bạc châu báu. Tuất: khôi giáp, con dấu. Hợi: tranh, đồ che mưa.

3.5. Nhà cửa

Tý: hậu cung, hậu điện, nội phòng, nội thất. Sửu: thánh điện, thần từ, công sở, nơi công quyền. Dần: nhà khách, sơn phòng, nhà tranh. Mão: trụ sở tạm thời, lôi miếu, lôi miếu, ghe thuyền, xưởng mộc. Thìn: long miếu, tinh cung, thiên lao, soái phủ. Tỵ: phương điếm (?), cửa hàng bán lò, phòng nung, phòng rèn, nhà bếp. Ngọ: đại sảnh, chuồng ngựa, mệnh quán, thư phòng. Mùi: khách sạn, quán nước, tiệm cầm đồ, kho hàng. Thân: xương xay xát, nhà kho, phòng xay xát, phòng chuyển phát, khách sạn. Dậu: tiệm nữ trang, tiệm sắt thép. Tuất: Phật đường, thiền phòng, doanh trại, nhà tù. Hợi: đạo quán, tiên cung, rạp hát, lầu các.

3.6. Đồ vật trong phòng

Dần: rương tủ. Mão: giường. Thìn: bồn, vò, quần áo, bao bị. Tỵ: bếp nấu, lò. Ngọ: quần áo, giá kệ, cũi, bao bì. Mùi: phòng chính, còn bên ngoài là viện. Thân: thần từ, phật đường. Dậu: ghế, đao kiếm. Tuất: vò hủ vại, thức ăn, lương thực. Hợi: bậc thềm, trướng bố. Tý: đèn, bình, cũi, hộp. Sửu: hộc tủ, đấu, phía dưới những vật này.

3.7. Cảnh ngoài mộ

Dần: cây cối, hoa. Mão: cầu, thuyền. Thìn: suối ngầm. Tỵ: mộ ở vùng núi cao. Ngọ: đỉnh núi trải dài. Mùi: con đê. Thân: sông, con đường đá trên núi có cây gai. Tuất: có mùi xương cốt hôi thối, hầm lò. Hợi: đất phương Nam có nước chảy qua. Tý: nghĩa địa, đầu như ngói lật. Sửu: bình địa, mộ như mái che.

3.8. Cảnh trong mộ

Dần Mão: rễ cây quấn giống như râu rồng. Thân Dậu: đồ sắt ngang dọc. Tỵ Ngọ: hầm nóng như chưng. Hợi Tý: rắn chuột đục lỗ vào sống. Thìn Tuất Sửu Mùi: đất sụp lấp mộ. Đây chính là Tôn Tẫn diệu pháp còn truyền lại.

3.9. Nơi chốn

Tý: sông, suối, hồ, khe, giếng, ao, hố nước, chỗ trũng ẩm ướt, chỗ ô uế, bùn lầy, nhà vệ sinh, phòng tắm, bồn rửa chén, vạc nước, đường thoát nước, nơi thoát nước.

Sửu: nơi ẩm thấp, nơi u ám, nơi bùn lầy, phần mộ, vườn tược, cầu, cung điện, lễ đương, đống đất, sườn núi thoai thoải.

Dần: cây trên núi, cầu, hoa mọc thành bụi, vườn hoa, công viên, mặt cỏ.

Mão: cầu, thuyền nhỏ, đường xá, đường cái, nơi hoa cỏ um tùm.

Thìn: đồi núi nhỏ, đỉnh cao, đê điều, nghĩa địa, ruộng lúa, chùa quán.

Tỵ: nơi náo nhiệt hướng nắng, nơi có nhiều biến chuyển, nơi có khe suối, khu du lịch công cộng, lò gạch, lò luyện than đá, nhà máy nhiệt luyện, nhà máy hoá chất, quán nướng, tiệm đồ điện.

Ngọ: ngọn núi, đỉnh núi, đại sảnh, phòng họp, rạp chiếu phim, khu du lịch, khu trò chơi, sòng bạc dưới đất, sàn nhảy.

Mùi: viện, tường, đê, ruộng đồng, lò gạch, nhà máy hoá chất, kho dầu, nhà bếp.

Thân: thượng nguồn sông suối, con đường bằng đá, ruộng lúa, khung kệ sắt, nhà máy sắt thép, nhà máy xe, thần đường, phật đường.

Dậu: garage sửa xe, nhà máy cơ khí, nơi có địa hình bằng phẳng, đường băng, nơi nhẵn nhụi.

Tuất: ngọn núi, sườn núi, hầm lò cũ, bếp nấu ăn, nơi có xương cốt hôi thối, phần mộ, chùa quán, máy biến thế, trạm biến điện, kho dầu, kho đạn.

Hợi: sông hồ, biển hồ, ban công, chùa miếu, nhà vệ sinh, cống thoát nước, khe nước, hố nước.

3.10. Đồ vật

Tý: đồ ăn, củ cải, khoai lang, lục bình, cái lồng, cái cũi, cái bình, cái hộp.

Sửu: ngăn tủ, hộc đấu, đồ vật bằng đồng hay sắt, bắp ngô, khoá, chìa khoá, đồ trang sức, châu báu, giày.

Dần: quần áo, dược liệu, vải vóc, hoa, cây cối, văn thư, biên lai, hoá đơn, máy dệt, tài vật, quan tài, bếp lửa, lư hương.

Mão: giường, cửa, cửa sổ, thuyền, xe cộ, lược, đồ ăn.

Thìn: phòng nhỏ, thuốc men, nhang đèn, vật cứng, cái bình, da lông, cái bồn, cái vạc.

Tỵ: tiền tài, bếp lò, gạch ngói, đồ sứ, văn tự, sách, tranh, chứng từ, văn kiện, hoa quả.

Ngọ: đồ ăn, tin tức, điện thoại, email, văn chương, TV, thiết bị âm thanh, đồ điện, quần áo, tranh sách, cờ phướn.

Mùi: đồ ăn ngọt, viện, đình, giỏ, đồ uống rượu, yến hội, dược phẩm, quần áo tang.

Thân: đao kiếm, dao giải phâm, đồ vàng bạc sắt, xe hơi, máy bay, xe đạp, tượng thần, phật đường, tiền mặt.

Dậu: gương kiếng, pha lê, kiếm, đồ trân bảo, đồ trang sức, cột đá, xương cốt, khẩu trang, máy giặt, thùng dầu, van, trái cây, da lông.

Tuất: cái bình, cái vò, đồ vật cứng, đồ vật khô ráo, máy biến thế, lò vi-ba, máy sấy, hòm thuốc, thuốc men, lò nướng, gạch ngói, khoá, chìa khoá, xương cốt, đồ sứ, giày.

Hợi: màn, vải vóc, vải bố, lụa, bút mực, đèn bàn, lông tóc.

(Chương 3 còn tiếp)

Sửa bởi ThienKhanh: 30/12/2018 - 16:52


#4 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 10/01/2019 - 13:55

3.11. Nhân vật

Tý: thiếu nam, người trong hành thành pháp hoặc tư pháp, công chức, quân cảnh, đạo tặc, người mặc áo màu tím đen.

Sửu: phụ nữ lớn tuổi, phụ nữ xấu, người cưỡi lừa hay la, quý nhân, tôn trưởng, Thần Phật, xác chết.

Dần: đàn ông lớn tuổi, nhân viên hành chính sự nghiệp, người mặc áo tím đen (?), đàn ông, quý nhân, lãnh đạo liêm khiết.

Mão: thợ thủ công nghiệp, anh em, phụ nữ, phụ nữ trẻ, đạo tặc.

Thìn: đàn ông, bác sĩ, người kinh doanh dược phẩm, người tu hành, ni cô, người cưỡi lừa, phụ nữ xấu.

Tỵ: thiếu nữ, phụ nữ trẻ có chồng, người ăn mày.

Ngọ: phụ nữ lớn tuổi, phụ nữ trẻ có chồng, thư ký nữ, người cưỡi ngựa, người gặp tai nạn chảy máu trên đường, người tu hành.

Mùi: phụ nữ lớn tuổi, người ăn rượu ăn thịt, người chăn dê, ông đồng bà cốt, quả phụ, ni cô.

Thân: đàn ông, quân cảnh, người bị thương, người đi đường, kẻ ác.

Dậu: phụ nữ, thiếu nữ, nữ quý nhân, người bán rượu, người mặt trắng, người mặt chữ điền.

Tuất: đàn ông, nông dân, công nhân vệ sinh, người lớn tuổi, người tốt, thiện nam tín nữ.

Hợi: thiếu nữ, trẻ nhỏ, người chăn heo, ăn mày, thợ làm giày, người uống say, phạm nhân, đạo tặc.

3.12. Các loại tượng khác:

Tý: quân nhân, đạo tặc, nghề nghiệp có tính lưu động, háo dâm, dâm loạn, người không có chủ kiến, văn kiện cơ mật. Tý thuỷ là kỵ đến khắc chủ đau cẳng chân, đau bàn chân, phá tài; nếu là nhà gần nước thì chủ người gặp nạn sông nước, hoặc bị ngoại thương gãy xương.

Sửu: hiền sĩ, quan nhân, trung hậu trung thực, tính tình quật cường, phụ nữ xấu, thù oán, nguyền rủa, ấn tín văn thư, tài chính (bao gồm thu nhập có liên quan đến nghề nghiệp). Sửu cũng chủ bộ phận sinh dục nữ.

Dần: văn thư, tài phú, quan quý, thanh cao, trang phục, văn bằng, tài hoa, người lớn tuổi. Thân thể: ngực, eo, xương cùng.

Mão: xe thuyền, mua bán giao dịch, tin tức, hôn nhân, môi giới, viên chức, phi công, tài xế, thuyền trưởng, thuyền phu, tứ chi. Mão là dụng đến sinh chủ lợi về văn thư, dễ cùng nữ giới phát sinh khẩu thiệt thị phi.

Thìn: bác sĩ, phương sĩ (y vu bốc tướng), thuốc men, quật cường hiếu chiến, mặt dữ (tại tử địa), mắt nhỏ, cuống họng lớn. Thìn Sửu: nhiệt độc, bệnh tiểu đường, phát sốt, vũng bùn, hố. Thìn là kỵ đến khắc chủ có tiểu nhân, kiện cáo, giải phẫu, bệnh tật, quan tai, tai nạn xe cộ.

Tỵ: văn thư, tin tức, sự viên gây hoảng sợ lo lắng, đa nghi, không nói đạo lý, giận dỗi, khinh bạc, lỗ mạng, dâm loạn, đến sinh thì chủ nữ nhân, tư tình.

Ngọ: văn thư, vinh dự, tứ chi, tin tức hôn nhân, sách vở, hoảng sợ, tai hoạ, sự việc có huyết quang tai ương, người tham lợi lộc, người tham phú quý, kiện cáo. Tý Ngọ về thân thể chủ tắc máu não, trúng phong, tim, mắt.

Mùi: chủ đồ ăn, rượu và đồ nhắm, làn da, thuốc độc hoặc thuốc có tác dụng phụ nhiều. Vượng chủ người biết ăn nói, môi giới hôn nhân, đầu bếp hoặc các nghề nghiệp liên quan. Cổ nhân nói: Mùi không uống thuốc, tránh để độc khí vào ruột. Mùi là dụng cũng chủ tình yêu nam nữ, ngoại tình, viêm khớp. Mùi là kỵ khắc thì chủ tranh đấu, hôn nhân không thuận.

Thân: là thần truyền tống đón đưa, lại chủ người trong ngành quân cảnh chính pháp, cũng chủ bôn ba lưu động, hung ác. Đại biểu thích võ thuật, người sử dụng đao thương côn bổng hoặc rất thích vũ khí hiện đại. Về công cụ chủ đao nhọn, kiếm ngắn, nhuệ khí. Thân là khắc chủ đạo đường không thuận, tai nạn xe cộ, tang sự, con nhà võ.

Dậu: làn da, tứ chi, người nữ trầm tĩnh t*o nhã, nếu thấy thuỷ mà vô chế thì chủ phóng đãng, dâm loạn, lỗ mãng. Có đủ kim thuỷ lại thấy thổ thì có tố chất tốt, làm việc bí ẩn, lại chủ tài chính, gương kính, đình viện, đồ trang sức. Công cụ chủ đao bản rộng, đại đao, vũ khí bị cùn. Dậu là kỵ dụng sinh thì chủ đào hoa.

Tuất: y vu bốc tướng, tăng đạo, mẹ goá con côi, thiện nam tín nữ, vật dụng Phật giáo, Phật tử, lại chủ ác nhân, xã hội đen, người chấp pháp. Trong quẻ nếu có nhiều Tuất thì chủ hư giả lừa dối; nghĩa rộng ý là bên ngoài thì tốt nhưng bên trong so với bất kì ai đều xấu. Mùi Tuất: bệnh phong thấp, dạ dày. Tuất cũng chủ bộ phận sinh dục nam.

Hợi: tưởng thưởng. Khi vượng tướng mà có chế chủ người lương thiện, vượng mà không chế chủ người khinh bạc, việc ám muội, người ám muội, người không thủ bổn phận, kỹ nữ, nơi ám muội, nhà vệ sinh, rãnh thoát nước. Hợi chủ về vọng tưởng, chỉ thích ngồi không, không muốn làm gì, cũng không biết đang suy nghĩ gì. Còn có ý nghĩa là “có biển”. Hợi Tý về mặt thân thể chủ huyết dịch, thận, bạch huyết, não, nước mắt, nước bọt. Hợi là kỵ sinh chủ có cha không bình thường hoặc trong nhà có người bệnh.

3.13. Hàm nghĩa 12 địa chi

Tý: là ao mực. Người sinh năm Tý, thời trụ thấy Quý Hợi là “thuỷ qui đại hải”, còn gọi là “song ngư du mặc trì”, tất là văn nhân.

Sửu: là bờ liễu. Người sinh năm Sửu thời trụ thấy Kỷ Mùi, chính là “nguyệt chiếu liễu sao” (trăng chiếu ngọn liễu), là cách cục rất cao.

Dần: là cốc (hỏm núi, hẻm núi). Người sinh năm Dần lại gặp Mậu Thìn tại thời trụ, gọi là “hổ khiếu nhi cốc phong sinh”, uy chấn vạn dặm.

Mão: là quỳnh lâm (rừng hoa quỳnh). Người sinh năm Mão gặp giờ Kỷ Mùi là “thố nhập nguyệt cung”, chủ đại quý.

Thìn: là đầm lầy. Người sinh năm Thìn gặp thời trụ Nhâm Tuất, Quý Hợi là “long qui đại hải”.

Tỵ: là trạm lớn. Người sinh năm Tỵ gặp giờ Thìn là “xà hoá thanh long”, là ngàn dặm long câu.

Ngọ: là đài quan sát. Người sinh năm ngọ, thấy giờ Thìn là “chân long xuất tắc phàm mà không hĩ”, ý nghĩa là “mã hoá long câu”.

Mùi: là vườn hoa. Sinh năm Mùi nhập cách song phi là diệu nhất. Như Tân Mùi gặp Mậu Tuất, hai can không tạp.

Thân: là danh đô (thành phố lớn nổi tiếng). Thân cung là nơi Nhâm thuỷ gặp sinh, lại đối cung với cung Cấn, là “thuỷ nhiễu sơn hoàn”. Như mệnh sinh năm Thân gặp giờ Hợi, chính là “thiên địa giao thái”.

Dậu: chuông chùa. Dậu thấy Dần là cát, gọi là “chung vang cốc ứng”.

Tuất: là nguồn gốc của ánh sáng. Sinh năm Tuất gặp giờ Mão, hào nói: “Xuân nhập thiêu ngân”.

Hợi: là thác nước. Năm Hợi gặp ngày giờ Dần Thìn, là “thuỷ củng lôi môn”.

3.14. Ý tượng nguyệt lệnh mười hai chi

Tý cung thi viết: nguyệt chi Tý thuỷ chiếm tên đầu, suối sông mênh mông không thấy cuối. Thiên đạo bắt đầu quay về khí dương, hành thổ vượng; nhân gian nước ấm nhờ kim sinh. Như gặp Ngọ phá thì vô định, hoặc gặp Mão hình vẫn hữu tình. Trong cục có Thân Thìn đến hợp cục, tức thành hồ lớn, biển rộng ầm ầm sóng vỗ.

Sửu cung thi viết: giữa đông gặp Sửu sợ băng sương, ai biết thiên thời chuyển nhị dương, hơi ấm sinh thành có thể sinh vạn vật, kim lạnh khó nói, chỉ nên tàng. Hình xung Tuất Mùi không phải là vô dụng, loại tụ gà rắn thành một phương. Nếu như tại nhật thời nhiều thuỷ mộc, cần đợi đi vào đất Tốn Ly.

Dần cung thi viết: mộc tại Cấn cung gặp vào mùa xuân, khí tụ tam dương hoả tại Dần, chí hợp rắn khỉ ba vị khách quý, lại hợp Mão Mùi người một nhà. Chỉ gặp Ngọ là siêu phàm nhập thánh, còn gặp Thân thì phá lộc, hình thương, phải cẩn thận. Tứ trụ nhiều hoả thì sợ hoả địa, từ trước đến giờ táo mộc không nên hành phương Nam.

Mão cung thi viết: mão mộc phồn hoa, khí bẩm sâu; giữa xuân khó nói không sợ kim. Canh Tân cùng thấy thì không nên lại gặp thêm Thân Dậu. Hợi Tý cùng đến thì kỵ Quý Nhâm. Gặp lục xung là hoạ, tượng như lá rụng. Hỷ gặp tam hợp liền thành rừng. Như ở nhật thời trụ gặp kim trọng, càng hành về hướng Tây càng hoạn nạn không ngừng.

Thìn cung thi viết: Thìn cung là tháng Ba, là đất bùn ẩm nhiều nước, có khả năng nuôi dưỡng gốc rễ của vạn vật. Tuy là nơi Giáp suy, Ất dư khí, cho dù là mộ Nhâm, nơi qui hồn của Quý, chỉ cần một chìa khoá là có thể khai khố. Như gặp tam xung thì phá môn. Thuỷ thổ trọng phùng vận Tây, Bắc, chỉ sầu hậu thổ không thể tồn.

Tỵ cung thi viết: Tỵ cung là đầu mùa hạ, hoả thêm quang. Tạo hoá lưu hành chính là lục dương. Canh kim thất lệnh nương nhờ mẹ, nếu gặp Mậu thổ thì có lộc nhờ mẹ. Tam hình có gặp cũng vô hại, nhưng chỉ cần thấy Đăng Minh (?) liền bị tổn thương. Đến vận Đông Nam là nơi sinh phát, sẽ thành ngọn lửa nóng đốt lên tận trời, không tầm thường.

Ngọ cung thi viết: tháng năm viêm hoả đang vượng, lục dương khí trục (trọc?) nhất âm sinh. Canh kim thất vị, thân vô dụng, Kỷ thổ qui viên, được lộc, có thành tựu. Thân Tý cùng đến có thể khắc được, Tuất Dần cùng thấy càng quang minh. Đông Nam chính là nơi thân cường, Tây Bắc hưu tù, Tỵ tang hình.

Mùi cung thi viết: tháng Mùi khí âm thâm sâu, hoả dần suy; tàng Quan tàng Ấn, không tàng Tài. Không gặp Mão Hợi thì khó biến, gặp hình xung ở xa thì khai khố. Không hoả thì sợ hành đến đất kim thuỷ. Nơi nhiều hàn lạnh hỷ Bính Đinh đến. Khi đã phân rõ dụng thần, hỷ kỵ, không nên lấy ngọc quý mà đoán thành đá sỏi.

Thân cung thi viết: nguyệt chi gặp Thân kim cương kiện, là nơi thuỷ thổ trường sinh. Gặp Tỵ Ngọ như gặp lò nung, sẽ thành kiếm kích. Trong cục gặp Tý Ngọ thì như kiếm kích được sắc bén, sáng ngời. Mộc nhiều không hoả cuối cùng kim có thể thắng. Thổ trọng chôn kim, kim gặp hung. Như muốn biết tư thần ở đâu, cần biết châu ngọc không giống nhau.

Dậu cung thi viết: tháng tám có tên gắn liền với sao Khôi, vốn là kim bạch thuỷ lưu thanh. Hoả nhiều, vận hành phương đông sợ Dần Mão. Mộc vượng, vận hành phương nam sợ Bính Đinh. Trong mệnh thấy thuỷ, thấp thổ nên là dụng, vận lâm Tây Bắc há vô tình. Giả như gặp tam hợp có thể kiên duệ, không phải là ngoan kim khó luyện thành.

Tuất cung thi viết: tháng chín theo sao Khôi, tính cương cường nhất; nhiều mây mà vạn vật lại thu tàng. Có hồng lô, có lửa lớn thì có thành tựu, ngoan kim thì lại chủ trương (?). Rồng ra khỏi biển, làm mây mưa. Đỉnh núi hợp hổ động văn chương. Thiên la tuy là mê hồn trận, hoả mệnh mà gặp mới bị tổn thương.

Hợi cung thi viết: tháng mười là vị Đăng Minh, thuỷ có nguồn sâu. Mưa tuyết sinh hàn khí, gặp lục âm. Cần đợi hành đến nơi có nhiều ánh sáng thì dụng thổ, không nên gặp nơi sóng nước thao thao mà kim lại nhiều. Ngũ hồ qui tụ mà thành tượng, gặp tam hợp kiềm chế là hữu tâm. Muốn biết càn khôn và nơi ấp ám. Thì từ Cấn Chấn Tốn mà tìm.

3.15. Khẩu quyết địa chi thủ tượng

Tý thuỷ: dòng nước động như sông hồ, xe thuyền, mậu dịch, văn chương. Nước suối, giếng, băng, mượt mà uyển chuyển. Thông minh, kĩ năng, dâm tà.

Sửu thổ: hàn thổ, mỏ than, phần mộ, lao ngục, xã hội đen. Đầm lầy, nhà vệ sinh, cống thoát nước, tư tình, dâm loạn, huyền học.

Dần mộc: đồ dùng trong nhà từ sơn lậm, thần điện, từ đường, chùa miếu, cao nhã. Toà nhà cao tần, tổ chức, hội sở. công môn, cơ sở văn hoá.

Mão mộc: cây hoa, hàng rào, xe thuyền, giao thông, binh khí. Võng lưới, đồ dệt, dây thừng, đồ vật liệu xây dựng, giường, cửa sổ.

Thìn thổ: thấp thổ là thuỷ khố. Xe lớn, máy móc lớn. Vật cũ, thuốc đông y, ruộng vườn, lao ngục, mạng lưới, tư tưởng.

Tỵ hoả: nhiều màu sắc, biến hoá, văn hoá, tư tưởng, hình ảnh. Con đường ban công, phố xá sầm uất, đền chùa, nghiên cứu, ấm áp.

Ngọ hoả: ánh sáng mặt trời, rất nóng, đánh giết trên chiến trường, luyện kim, nấu chảy, tin tức, thông cáo, náo nhiệt, kích động, sân thể dục.

Mùi thổ: noãn thổ, lâm trường, y dược, hoá chất, khách sạn, quán ăn, nhàn nhã, đồ trang trí trong vườn, nhiệt độc, kiến tạo, công trình kiến trúc.

Thân kim: đường xá có xe cộ, binh lính, quân đội, công – kiểm – pháp, thành phố nổi tiếng, từ đường, bệnh viện, số học, nhà máy luyện kim, nhà máy luyện khoáng sản.

Dậu kim: ngân hàng, đồng hồ, phương tiện truyền thông, huyền học, phát luật, kĩ thuật, tinh xảo, linh hoạt, gian tà, chùa chiền, kĩ thuật ẩn học (?).

Tuất thổ: táo thổ, kho súng đạn, mộ phần, nhà tù, văn minh, ban biên tập, thành phố náo nhiệt, khiêu dâm, trạm xăng dầu, số học, mạng lưới hoá học công nghiệp.

Hợi thuỷ: ao nước, văn bút mực, tâm chí, câu thông, nghề thuỷ sản, môn toán học, tư tưởng, thuốc độc, nghiện rượu.

3.16. Ca quyết tin tức biểu tượng địa chi

Ba Tý hôn nhân trùng, Sửu nhiều bốn lần đò. Dần nhiều nhiều cô độc, Mão nhiều toàn hung ác. Tỵ nhiều gặp hình hại, ba Thìn nhiều kiện tụng. Ngọ nhiều khắc vợ chồng, Mùi nhiều một phòng không. Ba Thân nhà neo người, Dậu nhiều sống cô độc. Thìn nhiều việc bề bộn, ba Hợi cô linh linh.

3.17. Ảo diệu địa chi tàng tượng

Tý thuỷ: đại biểu trộm cắp, lại đại biểu nghề nghiệp kĩ thuật, văn kiện cơ mật, chìa khoá, cùng với vũ khí bí mật. Thuỷ thì lưu động, nghĩa rộng là ngành nghề mang tính lưu động, cũng có thể chỉ một người không có chủ kiến, chỉ thích gió chiều nào theo chiều nấy. Cũng có thể đại biểu người nhạy bén. Nếu thuỷ phiếm lạm là người giảo hoạt, hoặc tình cảm lai láng. Tý thuỷ nhiều, chủ tình cảm phiền muộn, nhiều tai nhiều bệnh. Tý thuỷ là quẻ Khảm, Khảm nhiều thì nhiều tai nạn, loại tượng luận giống như tượng lại bát quái.

Sửu thổ: đại biểu người làm quan, làm ngành nghề tài chính (như kế toán, thu chi, chứng khoán, bảo hiểm, chứng từ, hoá đơn), thiết thực mà trầm mặc, là nhân vật thủ lĩnh , nhưng không thích quyền lực. Sửu thổ cũng chỉ oán phụ, người phụ nữ lúc nào cũng than thở ủ rủ, cũng đại biểu thù oán, nguyền rủa.

Dần mộc: đại biểu quan quý, gan lớn, có học thức, thiết bị thông tin, sản phẩm công nghệ cao. Là người thích mạo hiểm, thích cảm giác phiêu lưu, năng lực lĩnh ngộ mạnh, có năng lực đối chiếu loại suy. Dần lại thấy Dần, chủ biết bao biện, biết gây áp lực, thích hợp làm chính khách.

Mão mộc: đại biểu xe thuyền, phương tiện giao thông, gặp Không thì đại biểu máy bay, mạng lưới, phong thư. Ví dụ như, nhắn gửi tin là Mão. Là người chu đáo, trung thành, thích yên tĩnh và ấm cúng. Mão mộc nhiều, thì chủ hiếu chiến biện luận, hôn nhân nhiều mà không hoà thuận; nguyên nhân là do “Khôn an Chấn Sát”.

Thìn thổ: đại biểu y vu bốc tướng, tôn giáo và người trong tôn giáo, nghĩa rộng là người trong ngành hành pháp, quật cường, hiếu chiến, tính cách cứng thẳng, cường đại và độc lập. Trong mười hai địa chi, chỉ có rồng là đồ đằng mà con người chưa từng chứng kiến. Kỳ lân cũng là đồ đằng, cho nên tất cả đồ đằng đều liên quan đến rồng, đều có thể lấy Thìn làm đại biểu.

Tỵ hoả: đại biểu văn thư tin tức, hoảng sợ, đa nghi, nhiều mộng tưởng, cũng chủ quyến rũ, sáng suốt và nghĩ sâu tính kĩ, đa nghi, quật cường, nói nhiều, dễ thấy ngột ngạt, tương đối ích kỉ.

Ngọ hoả: đại biểu văn chương, văn nghệ. Là người nhanh nhẹn, nhưng không ổn định, thích hư vinh, vội vàng, làm việc gì cũng hấp tấp, khát vọng huy hoàng như sống phóng túng, không hoà thuận với người trong gia đình. Ngọ nhiều là quẻ Ly, hỏi hôn nhân thì có tượng li dị nhiều, nếu không li dị thì li thân. Ngọ hoả phục ngâm, chủ tinh thần tương đối ngột ngạt, cho nên mới có khẩu quyết: “Ngọ thấy Ngọ, chủ tinh thần áp ức”.

Mùi thổ: Mùi chủ đồ ăn, rượu ngon, nhiều mộng tưởng, đa sầu đa cảm, theo chủ nghĩa vị tha, tính không độc lập, thường cần quan tâm sát sao. Mùi là quẻ Khôn, Khôn chủ an bình, nhưng hai Khôn phục ngâm là vật cực tất phản. Mùi thấy Mùi, chủ lo lắng bất an.

Thân kim: là thần truyền tống, chủ quân cảnh, chính trị và pháp luật, người hành pháp, võ thuật, súng ống, hiếu kì và nghịch ngợm, luôn nổ lực để nổi bật hơn người. Thân là chỗ quẻ Khôn, hai Thân phục ngâm là đứt đoạn, hỏi hôn nhân thì chủ phân li.

Dậu kim: là thần ám muội, đại biểu đồ trang điểm, đồ trang sức, gương kính, trang trí đẹp đẽ. Là người kiêu ngạo, ngăn nắp, và chuyên quyền, tự cho mình hơn người. Dậu chủ ám muội, trong tạng phủ đại biểu phổi, phổi khai khiếu tại mũi, cho nên khứu giác tốt. Về khía cạnh này, Dậu có năng lực phán đoán tốt hơn Tuất, Dậu mà trùng điệp, chủ người giỏi tính kế, làm việc quỷ bí, đa nghi, lý tính, biết tư duy. Địa chi lục hợp, Thìn và Dậu hợp, là ám hợp, tự hợp, không phải là quá trình quang minh chính đại. Như hỏi tình cảm, thấy Thìn Dậu hợp, liền biết là ám hợp. Dậu là gà, Thìn là rồng, gà mà thấy rồng, loạn nhân luân.

Tuất thổ: chủ huyền diệu, thị phi. Đại biểu y vu bốc tướng, cô quả, người trong lĩnh vực tôn giáo. Về phương diện nhân tính, chủ chân thành, chính trực, đáng tin cậy.

Hợi thuỷ: chủ ban thưởng, đựa tặng. Về phương diện nhân tính, chủ chân chất, sinh khí bừng bừng, cố chấp, lấy việc giúp người làm niềm vui. Cũng chủ người không biết tuân thủ bổn phận. Về phương diện vật tượng, đại biểu nhà về sinh, nơi ca múa, nơi dâm uế, chỗ tắm rửa, ám tật (bệnh không muốn người biết). Hợi phục ngâm, chủ có tài năng nhất định về mặt văn hoá hoặc văn chương (bao quát thư pháp, hội hoạ, v.v...)

#5 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 23/01/2019 - 16:45

Chương 4: Thập thiên can tượng pháp hoàn chỉnh bản

4.1. Thiên can tổng hợp tượng ý

Giáp mộc: ngũ hành dương mộc. Khái niệm: cao quý, nổi tiếng, có danh vọng, to lớn, thứ nhất, thủ lĩnh. Phương vị: phương đông. Vân vật: nhà lãnh đạo, người quản lí, đổng sự trưởng, tướng quân, nguyên thủ, danh nhân. Tính tình: uy nghiêm chính trực, vui vẻ, độc đoán, tâm cao khí ngạo, lãng phí. Thực phẩm: mỹ vị, thực phẩm cao cấp. Thân thể người: đầu, móng tay, não bộ, gan mật, gân, mắt. Cảm giác: đau nhức, sưng tấy. Màu sắc: màu xanh lá, xanh lục. Động vật: tê tê, rồng, tôm, rùa, ba ba, cua, các loại ốc, các loại kiến (?). Thiên thời: mùa xuân, sáng sớm. Thực vật: cây lớn, trái cây có vỏ dày, đậu phộng, hạnh đào, hạt thông, hạt dẻ, củ ấu, hạt dưa. Hình thái: thẳng, vuông, cao. Hình thể con người: cao vuông (?), da trắng sáng, gân cốt cường kiện, mặt chữ quốc, lông mày dày, mái tóc dày. Tĩnh vật: kim ngọc, trân bảo, đồ cổ, văn vật, mũ, giáp trụ, áo vest, khôi giáp, tấm thuẫn, vỏ xe, vỏ thuyền. Địa lý: ống khói mà không có khói (?), cây cột thô, xà nhà, quan tài, địa hình cao vút, tỉnh lị, thủ đô, phòng lãnh đạo làm việc, nhà ở của danh nhân, kiến trúc cao lớn, cơ quan, văn phòng.

Ất mộc: ngũ hành âm mộc. Khái niệm: hi vọng đạt thành, chất mềm, chuyển cơ (TK: trở nên tốt đẹp hơn), nghệ thuật, văn hoá, mềm mại, uốn lượn, khúc chiết, phụ thuộc. Nhân vật: trung y, bác sĩ, nữ nhân, vợ, nghệ nhân, hoạ sĩ, tác giả. Cảm giác: đau nhức, sưng tấy. Hình thái: thon thả, hơi gù, làn da trắng nõn, xương thịt bủng beo, mặt thon dài. Nhan sắc: màu xanh sẫm, xanh rêu, màu xanh lục, màu xanh ngọc bích. Tính tình: nhân từ, yếu đuối, nhân ái, đa cảm, từ thiện, ỷ lại, nhu thuận, do dự, mẫn cảm, tự tư, nhẫn nhục. Nhân thể: gan, ruột, tóc, thần kinh, bạch huyết, ống dẫn trứng, ống dẫn tinh, âm đạo, tay, chân, vai, cổ, cánh tay, cẳng chân. Động vật: con giun, con rắn, thiên nga, rồng, hải sâm, hải tràng tàm trùng, các loài chim. Thiên thời: gió, mặt trăng, mùa xuân, sáng sớm. Thực vật: thảo dược trung y, hoa cổ, cây nhỏ, cây hoa quả, dây leo, hoa khiên ngưu (bìm bìm), dưa leo, cành liễu, dây thường xuân, cây hoè long trảo. Tĩnh vật: cột trụ được chạm trổ, trang trí cầu kì, tác phẩm nghệ thuật, hồ lô, tượng gỗ, bức tranh, cái ghế, bàn làm việc, giường, vật phẩm trang trí, cửa phòng được trang trí đẹp, của sổ, ghế mây, đường ống, vật uốn lượn, cầu thang, mì sợi. Địa lý: bãi cỏ, vườn hoa, rừng cây ăn quả, vườn rau, câu lạc bộ nghệ thuật, thẩm mĩ viện, công trình kiến trúc đẹp. Phương vị: phương đông.

Bính hoả: ngũ hành dương hoả. Khái niệm: hi vọng, quang minh, hùng vĩ, vấn đề khó khăn, cương mãnh, nhiệt liệt, cấp tốc, nguyên trạng, dạng phiến, quyền uy. Nhân vật: tình nhân, người đương quyền, người có năng lực chỉ huy, tính khí nóng nảy, quyết đoán cương mãnh, nhân viên nhà máy hoá chất, điện lực, điện tử. Tính tình: hung dữ, cường hãn, ưa hư vinh, chính nghĩa, gấp gáp, quả quyết. Động vật: ngựa, trâu, heo, lừa. Thân thể người: mắt, huyết dịch, môi, tim, ruột non, bộ phận bị phù thủng, bộ phận bị viêm. Cảm giác: nóng, bỏng, ngứa. Thực vật: trái cây có cuống, quả lê, anh đào, dưa hấu, bí đỏ, đài sen, táo. Tĩnh vật: vật phát sáng, đèn, lò, vật phát nhiệt, vật có tay cầm, bách bích qui, hoả tiễn, đại bác, dụng cụ biến áp, cửa sổ, sợi quang học. Địa lý: phòng bếp, núi cao, phương nam, nhà máy hoá chất, nhà máy than đá, nhà máy điện, nơi sáng sủa. Phương vị: phương nam. Thiên thời: mặt trời, trời quang đãng, mùa hạ, giữa trưa. Nhan sắc: màu đỏ, màu tím.

Đinh hoả: ngũ hành âm hoả. Khái niệm: hi vọng, chấp nhất, phát triển, bén nhọn, bức người, có gai, đột xuất, đỉnh điểm. Cảm giác: nóng bỏng. Nhân vật: tình nhân, kĩ nữ, ngôi sao ca nhạc, người có kĩ thuật hạng nhất, người có biểu hiện đột xuất, người nói chuyện bén nhọn, người có thị lực tốt. Hình thái: về người thì tú lệ thanh cao, da trắng hồng, tóc dài mảnh, trán rộng, cằm nhọn. Phương vị: phương nam. Tính tình: mềm yếu, hoà thuận mà có tâm kế, quan tâm, biết ân tình, nhìn rõ gian tà. Nhan sắc: màu đỏ, màu tím, màu hồng phấn. Thân thể người: mắt, răng tim, huyết dịch, xương cốt, thịt, bộ phận sinh dục nam. Động vật: động vật đốt người, muỗi, bọ chét, ong mật, ruồi nhặng, động vật có gai nhọn, lợn rừng, các loại rắn. Địa lý: giao lộ, mái hiện, góc phòng, nóc phòng, tháp, trạm gác cao. Thiên thời: ngôi sao, trời nắng, mùa hè, giữa trưa. Thực vật: thực vật hoặc trái cây có gai, hoa hồng, nguyệt quế, cây hoè, cây xương rồng, cây tùng, cây lựu, hạt dẻ, chôm chôm, cây táo. Tĩnh vật: vật phát sáng, đèn, đao, châm, kiếm, ống chích, cái đinh, cây tăm, ngân phiếu có định mức, văn chương, gậy, hương hoả, sản phẩm điện tử, giấy chứng nhận, khói lửa, cái bật lửa, đạn pháo, đạn, linh kiện kim loại nhỏ, đồ trang sức, lò nung.

Mậu thổ: ngũ hành dương thổ. Khái niệm: trung chính, hậu đức tải vật, bao dung, tư bản, tiền tài, tài chính, khoan hậu, thủ tín, trung thành, thẳng, vuông, lớn. Nhân vật: kế toán, cơ quan tài chính, thu chi, viên chức ngân hàng, viên chức địa – sản – thương, người trung gian, người khai thác quặng mỏ, người đến từ nông thôn, người đức cao vọng trọng, người khoan hậu trung dung, kĩ nam. Thiên thời: tinh vân, ngân hà, đám mây, trời đầy mây. Hình thái: hình thể thuần hậu, mặt vuông, da trắng hơi vàng, thân thể nhiều thịt. Phương vị: trung ương, kí tại cung Khôn. Tính tình: quả cảm, hào kiệt, cương liệt, táo bạo, chất phác, ng* d*t, si ngốc, hành động chậm chạp. Cảm giác: trầm trọng. Thân thể người: mũi, lồng ngực, ngực, mông, dạy dày, tỳ, phần bụng, bộ phận có nhiều thịt. Nhan sắc: vàng, nâu. Động vật: trâu, heo, lạc đà, gấu đen, chim cánh cụt, gấu trúc. Thực vật: loại cây có lá lớn, dày, loại cây có trái cây nhiều thịt như chuối, hoa hướng dương, bí đỏ vỏ vàng, bí đỏ vỏ xanh, cây dương, khoai lang, khoai tây, các loại khoai, củ cải. Tĩnh vật: đồ gốm, đồ đất, đồ sứ, đồ xi măng. Địa lý: đình viện, phòng khách, phòng đón khách, vách tường, xà ngang bằng xi măng, đê, nghĩa địa, vùng đất bằng, văn phòng môi giới, nhà máy xi măng.

Kỷ thổ: ngũ hành âm thổ. Khái niệm: lên kế hoạch, dục vòng, tà niệm, sáng kiến, tiết kiệm, quanh co, keo kiệt, không ngăn nắp, nhiều ý tưởng, kiêng kỵ, cẩn thận. Nhân vật: thông minh, người lên kế hoạch, người hành thiền, cúi người, thích ăn đồ ăn vặt, người đang bắt tay hay đang làm hành động chào, kĩ nữ. Hình thái: thân thể đơn bạc, gầy yếu, xấu xí, mặt tròn. Thiên thời: tinh vân, mây đen, trời đầy mây, bốn mùa. Tính tình: tướng mặt ưu sầu, giọng nặng trọc, thích tĩnh ít động, dịu dàng, ngoan ngoãn, trầm tĩnh. Phương vị: trung ương, kí tại Tây Nam. Thân thể người: miệng, núm vú, hậu môn, bắp chân, tỳ, ruột. Màu sắc: vàng, vàng tím. Tĩnh vật: đồ đất, đồ gốm, đồ mỹ nghệ, đồ vật dạng xoắn như dây thừng, cuộn chỉ hoặc cuộn sợi, đồ ăn, rác rưới, đại tiện. Địa lý: hố xí, cống thoát nước, rác rưới, vùng đất ngập nước, nghĩa địa, mộ tràng, ruộng vườn, đất trũng, minh đường, ban công, nơi dơ bẩn. Thực vật: loại thực vận dạng xoắn, nụ hoa chớm nở, cải trắng, hoa cúc, cây xấu hổ, mầm thực vật. Động vật: ốc sên, bạch tuột, con mực, động vật có thân thể dạng xoắn, động vật có thân thể uốn lượn như rắn, gấu, mèo, chó.

Canh kim: ngũ hành dương kim. Khái niệm: cản trở, ngăn trở, đánh nhau, gan dạ, khi khái, cường tráng, túc sát, hung ác, dã man, kĩ thuật hoàn hảo. Nhân vật: quân cảnh, xã hội đen, võ thuật, người có bản lĩnh cao cường, người hung tàn, người võ đoán. Hình thái: hình thể ốm dài, cốt cách cường tráng, mặt dài da trắng. Thực vật: thân cành, rễ, quả có vỏ (như hạt dẻ). Tính cách: cứng rắn, nhạy cảm, bền gan vững chí, uy nghiêm, tàn bạo. Màu sắc: trắng, hồng. Thân thể: đầu, xương cốt, phổi, đại tràng, da lông, vai lưng. Cảm giác: đau đớn. Động vật: động vật hung ác, cọp, sói, sư tử, báo, rắn độc, virus. Phương vị: phương tây. Tĩnh vật: tảng đá, đồ vật bằng đá, tượng thú bằng đá, cửa sổ, xương, đao thương, vũ khí, xe hợi, kim loại, chế phẩm. Địa lý: đường xá, trạm, trạm thu phí, nhà máy hoặc xưởng sắt thép, máy móc khai thác mỏ. Thiên thời: sấm sét, mùa thu, hoàng hôn.

Tân kim: ngũ hành âm kim. Khái niệm: sai lầm, vấn đề, phản nghịch sáng tác, biến đổi, đổi mới. Cảm giác: đau đớn. Nhân vật: phạm nhân, người phạm pháp, nhà cách mạng người cải cách, người trong tôn giáo. Phương vị: phương tây. Hình thái: râu dài, ngay ngắn, da trắng nõn, mặt dài, má lõm. Thiên thời: sấm sét, ngôi sao, hoàng hôn. Tính tình: trung thành, thanh tú, có lòng tự tôn, ưa hư vinh, ý chí không kiên định. Màu sắc: trắng, hồng. Thân thể người: răng, xương, phổi, da lông, u cục, bướu, gai xương, bệnh chàm, mụn, đậu mùa. Động vật: virus kí sinh tên người hoặc động vật, côn trùng đường kính không hơn 1cm, trứng hoặc phôi động vật. Thực vật: lương thực hạt tròn như đậu nành, cao lương, bắp ngô; hoa nhỏ như mi lan (?); hoa quả, hoa lài. Tĩnh vật: chế phẩm kim loại loại nhỏ, trang sức, tác phẩm nghệ thuật, nhẫn, dây chuyền, vòng tay, vật trang trí nhỏ, chìa khoá, ốc vít, Phật châu, đồng hồ, vàng bạc châu báu, dao nhỏ, vật phẩm quý giá, tiền tài, con dấu, két sắt, hài cốt, thi thể, công trình nhựa plastic. Địa lý: cửa, cửa sổ, đường xá, đá tảng, xi măng, nhà máy gia công ngũ kim, nhà máy đồng hồ, nhà máy đồ trang sức, nhà máy mỹ nghệ.

Nhâm thuỷ: ngũ hành dương thuỷ. Khái nghiệm: thai nghén, người làm trong lĩnh vực thuỷ sản, người nuôi dưỡng chăm sóc người khác, khách du lịch, thuỷ thủ, người làm trong lĩnh vực hàng hải, phong lưu, lưu manh, ngư phủ. Hình thái: làn da hơi đen, mắt to, mắt hai mí, dáng đi lắc lư, tóc dài, mày thanh tú. Tính tình: mềm mại, âm hiểm, dũng cảm, đa trí. Túng dục, tuỳ hứng, nhiệt tình, uy nghiêm, vị tha. Thân thể người: tóc, mắt, động mạch, trái tim, bàng quang, bắp chân. Cảm giác: sưng đau. Động vật: động vật dưới nước, cá, tôm, cua, rùa. Thực vật: hoa sen, củ ấu, tảo giạt (hải đới), tảo biển. Tĩnh vật: chăn mền, màn cửa, chụp đèn, ao nước, nước máy, toilet, phòng bếp, ống nước, dụng cụ phòng cháy. Địa lý: sông, hồ, biển, đường xá, dòng người, rạp chiếu phim, chỗ ăn chơi giải trí, lễ đường, quán ăn, trạm xe, bến tàu, sân bay. Phương vị: phương Bắc. Thiên thời: ngày mưa, mùa đông. Sắc thái: đen, lam.

Quý thuỷ: ngũ hành âm thuỷ. Khái niệm: chế ước, điều khoản, quản thúc, gian nan thống khổ, bôn ba, lưu động biến động biến hoá, tính dâm. Cảm giác: tê dại, lạnh. Nhân vật: người nông dân trồng dưa, trồng rau, người nghiện rượu, người dâm đãng, tù phạm, người bị giam, người gặp thất vọng. Hình thái: thấp bé, đen, xấu, mặt tròn, vai gầy, âm điệu không cao. Tính tình: âm nhu, sợ phiền phức, đa sầu đa cảm, khôn tự chủ. Thân thể người: chân, bộ phận nhạy cảm, tĩnh mạch, thận, mắt, tinh dịch, trĩ, nước bọt, nước mắt, nước mũi, mồ hôi, dịch, nước tiểu. Động vật: chim nước, vịt, thiên nga, nhạn, ruồi đen. Thiên thời: ngày mưa, đêm khuya, mùa đông. Thực vật: lúa nước, rau quả, hoa quả, thuỷ tiên, thực vật ưa nước. Sắc thái: đen, huyền. Tĩnh vật: rượu, dấm, muối, trà, đồ uống, sơn, canh chất lỏng, đồ dùng dưới nước, giày. Phương vị: phương bắc. Địa lý: vùng đất ngập nước, hồ nước, tháp nước, cống ngầm, giếng không có nước, nước ngầm, nước bẩn, ao phân, nơi dâm uế.

4.2. Thiên can tin tức biểu tượng ca quyết

Giáp mộc thiên thượng quý, ất mộc đa âm tư. bính hỏa ngộ hỏa đa, mẫu tại sản trung vong. Tam đinh đa ác tật, thủ túc dã tự thương. Mậu đa ly tổ nghiệp, ngoại sấm biệt gia hương. Kỷ đa phụ mẫu biệt, huynh đệ các nhất phương. Canh đa thị tài lang, vạn lý trí điền trang. Tam tân thọ số trường, tam Nhâm phú bất cửu. Quý đa tất dâm xướng, Hợi đa hỏa thiêu phòng.

4.3. Biểu tượng thập can

Giáp mộc thi viết: Giáp mộc thiên can làm đầu, nguyên là không cành lá cũng không rễ. Muốn tồn tại ngàn năm trong thiên địa, cần chôn thẳng xuống bùn cát vạn trượng. Thành tựu không nhọc viêm hoả rèn. Thích gặp noãn thổ nâng đỡ, lại thành lương đống vì có kim đẽo gọt, hoá thành tro than là gặp tai ương.
Ất mộc thi viết: Ất mộc có rễ ăn sâu, chỉ thích dương không thích âm. Sợ nhất gặp nhiều nước thì trôi nổi, lại sợ gặp kim khắc đoạn. Hành phương nam gặp hoả viêm thì nạn không nhỏ, hành phương tây mà gặp thổ trọng thì hoạ càng to, gặp Giáp tàng thì không liên căn, cần phải cẩn thận phân rõ công dụng Ất mộc.

Bính hoả thi viết: Bính hoả là mặt trời sáng rõ, tính quang minh chính đại, có qui tắc cương thường, giúp người soi sáng vạn dặm, có khả năng làm nên nghiệp lớn. Xuất thế là vì mộc trôi nổi, chuyển sinh không nhờ noãn ẩm thổ (?). Tử thuỷ tại sông hồ sao có thể khắc, chỉ sợ mộc thành rừng là tai ương.

Đinh hoả thi viết: Đinh hoả hình thể như ngọn nến, gặp thái dương là bị đoạt ánh sáng. Đắc thời có thể rèn vạn cân sát, thất lệnh khó nấu một tấc vàng. Tuy mỏng nhưng gặp củi khô có thể dụng, dù cho hoả dày gặp ẩm mộc vẫn không được sinh. Gặp Đinh hoả cần phân biệt rõ suy vượng, vượng thì như lò đốt, suy thì như ngọn đèn.

Mậu thổ thi viết: Mậu thổ giống tường thành, giống con đê, muốn chắn sông ngăn biển cần trọng . Trong tứ trụ như Mậu thổ mang hợp hình mà lại còn cường kiện, ngày sau gặp thuỷ hư thì bần cùng, tâm tính cũng nghèo nàn. Lực mỏng không hỷ bị kim tiết, có thành tựu vì gặp thuỷ khai thông. Bình thường thích hợp phương Đông, Nam vì thổ cường kiện; nhưng nếu Mậu thổ đã cường kiện lại hành Đông, Nam thì thất trung.

Kỷ thổ thi viết: Kỷ thổ là đất ruộng vường thuộc tứ duy, Khôn thổ dày trọng là vạn vật chi cơ. Gặp nơi thuỷ kim vượng thì Kỷ thổ nhược, muốn thành công phải gặp cục hoả thổ. Kỷ thổ thất lệnh há có thể chôn kiếm kích, đắc thời mới xứng với từ ‘cơ’. Cả bàn Ấn vượng lại thêm hợp, nếu không gặp hình xung thì không nghi.

Canh kim thi viết: Canh kim ngu, độc tính thiên về cương mãnh. Trong cục gặp hoả chế thì có thành tựu, nhưng chế rồi thì sợ gặp nơi hoả vượng. Mùa hạ sinh vào phương Đông Nam là gặp trui luyện, thu sinh Tây Bắc cũng là kim loại sáng bóng. Gặp thuỷ sâu thì phản lại thành khắc, gặp mộc vượng thì tự kim bị thương. Trong trụ có Mậu Kỷ tại can chi lại hành thêm thổ, không gặp xung phá tức thổ chôn kim.

Tân kim thi viết: Tân kim như châu ngọc, tính hư linh (?), hỷ nhất dương và sa thuỷ thanh. Thành tựu không cần viêm hoả rèn, có thể được sinh ra từ thấp thổ. Mộc nhiều, hoả mạnh hợp Tây Bắc, thuỷ lạnh kim hàn cần Bính Đinh. Toạ lộc, thông căn, thân ở vượng địa, lo gì hậu thổ không gặp hình.

Nhâm thuỷ thi viết: Nhâm thuỷ là đại dương và trăm sông chảy khắp thiên hạ vô biên. Can chi nhiều thì thành phiêu đãng, gặp hoả thổ thành tượng thì tổn thương bản nguyên Nhâm thuỷ. Dưỡng tính, kết thai cần Mùi Ngọ; trường sinh, qui lộc thuộc Càn Khôn. Thân cường tự thân không tài lộc, hành đất Tây Bắc tuổi nhỏ nhiều tai nạn.

Quý thuỷ thi viết: Quý thuỷ là nước mưa, sương mù, căn thông Hợi Tý là sông lớn. Trong trụ không có Khôn Khảm thì thân nhược, cục có Tài Quan không quá quý. Gặp đủ Thân Tý Thìn là thượng lộ, gặp Dần Ngọ Tuất cần trung hoà. Nếu như gặp hoả thổ lại sinh vào mùa hạ, hành đất Tây Bắc há lại thái quá.

4.4. Tượng nội hàm của thập can

Giáp Ất mộc nghĩa là có sinh cơ, sinh sôi, phát triển. Làm người ngay thẳng, có lòng trắc ẩn, khá cố chấp. Cùng với Thiên Tài, Chính Tài có quan hệ đối xứng về mặt tâm tính, đó là đại biểu cho có lòng tham, chiếm hữu mạnh đối với vật chất, coi trọng thực tế.

Bính Đinh hoả có đặc tính quang minh, hướng lên, không chịu thua, lúc thất bại cũng có thể nhìn thấy hi vọng. Cùng với Quan Sát có quan hệ đối xứng về mặt tâm tính, đó là làm việc nhiệt tình, thích truy cầu danh lợi.

Mậu Kỷ thổ có đặc tinh sinh dưỡng vạn vật. Cùng với Ấn thụ có quan hệ đối xứng về mặt tâm tính, đó là rộng lượng, có hàm dưỡng, hậu trọng.

Canh Tân kim cứng rắn, kiên cường, thà gãy chứ không cong. Cùng với Tỷ Kiếp có quan hệ đối xứng về mặt tâm tính, đó là làm người tương đối vội vàng, thích xâm phạm, thích tranh đấu.

Nhâm Quý thuỷ có đặc tính là lưu động. Cùng Thực Thương có quan hệ đối xứng về mặt tâm tính, đó là mẫn cảm, trí tưởng tượng phong phú, nhiều tâm kế, thích biến động, nghĩ nhiều hơn làm.

(còn tiếp)

Thanked by 4 Members:

#6 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 06/02/2019 - 16:12

4.5. Khẩu quyết thiên can thủ tượng

Giáp mộc là (sấm) sét, cây lớn, lương đống, cột điện, lầu cao, thần vị, công môn, thủ lĩnh, cao quý, rộng rãi nhân từ, lỗi lạc.

Ất mộc là gió, cây hoa, hoa màu, vườn hoa, lan can, bút lông, hàng dệt, hàng thủ công mỹ nghệ, nho nhã, nhu tình, nhân từ.

Bính hoả là mặt trời, điện ảnh, quyền lực, danh khí, điện, tranh sách, diễn thuyết và trang trí, chính diện, nhiều lời, và niềm đam mê.

Đinh hoả là ngôi sao, báo chí, y đạo, huyền học, tôn giáo, sắc thái, danh dự, mạng lưới, nhã nhặn lịch thiệp, thần bí, có tính trí tuệ.

Mậu thổ là quầng sáng quanh mặt trời lúc bình minh hoặc hoàng hôn, là gò núi, nhà kho, công môn, công trình kiến trúc, đồ cổ, lớp sơn, vật phẩm được tàng chứa, người trung hậu, lão thành, chậm chạp.

Kỷ thổ là mây, đồng bằng, nghĩa trang, nhà cửa, nghề nông, nghề chăn nuôi gia súc, bụi bặm, vật liệu xây dựng, trái cây, hàm súc, cẩn thận, đa nghi.

Canh kim là sương, khoáng sản, ngũ kim, chế tạo, quân đội, cảnh sát, nghề nghiệp liên quan đến xe cộ, đường xá, bệnh viện, tài chính, cương cường, uy vũ, táo bạo.

Tân kim là mặt trăng, châu báu, phát luật, y dược, gia công công nghệ cao, tinh thể, nhạc khí, tiền xu, bút viết, nhu nhuận, linh động, thích sĩ diện.

Nhâm thuỷ là mây, biển, giang hà, vận chuyển, mậu dịch, thuỷ sản, dầu hoả, màu nước, mưu trí, hiếu động, có sức bền tốt.

Quý thuỷ là mưa, sương, suối, sương tuyết, kết tinh, nước mắt, huyền học, sáng tác văn chương, phía sau (?), mưu lược, nhạy bén, ôn nhu.

4.6. Tượng loại thập thiên can

Giáp: sét, cây lớn, thủ lĩnh, rừng cây, khúc gỗ, xà cột, cột điện, lầu cao, thần vị, công môn. Thân thể người là đầu, đầu mặt, tóc, lông mày, cánh tay, tứ chi, gan mật, kinh mạch, thần kinh. Tính tình là rộng rãi, nhân từ, lỗi lạc, thẳng thắn, cao quý. Hình dáng là thẳng.

Ất: gió, mầm mạ, cây cao, cây hoa, cây thân mềm, cây leo, rau quả, hoa màu, đất trồng cây xanh, vườn hoa, công viên, núi rưng, lan can, bút lông, hạng dệt, tơ sợi, hàng thủ công. Thân thể người là cổ, cột sống, cổ tay, cổ chân, gan, tóc, kinh mạch. Tính tình là giản dị, thiện lương, tình cảm ấm áp, nho nhã, nhân từ. Hình dáng là uốn lượn.

Bính: mặt trời, hào quang, quyền lực, màu sắc, biến ảo, truyền hình điện ảnh, truyền thông, tin tức, danh khí, đoá hoa, thanh lệ, trang trí, cổng thành, cung thất, nhà hát, văn chương, thư hoạ, mặt ngoài, biểu diễn, diễn thuyết, điện, đồ điện. Thân thể người là con mắt, thần kinh, bộ não, huyết áp, ruột non, vai. Tính tình là thương cảm, trực tiếp chính diện, nói nhiều, nồng nhiệt, tâm tư. Hình dáng là lớn.

Đinh: ngôi sao, ánh sáng sao, linh quang, đèn đuốc, văn minh, văn hoá, chữ viết, tư tưởng, y đạo, huyền học, thần học, hương hoả, đoá hoa nhỏ, nội tâm, điện, điện tử, văn chương, sách, báo chí, vinh dự, danh vọng. Thân thể người là mắt, tim, mạch máu, thần kinh. Tính tình là văn nhã, hay suy nghĩ nhiều, thần bí, trí tuệ. Hình dáng là nhỏ.

Mậu: ráng màu, đất đai rộng lớn, gò núi, dốc cao, đê, thành trì, chính phủ, kiến trúc, bất động sản, nhà kho, bãi đậu xe, chùa chiền, đồ cổ, đồ vật cũ, nước sơn, lớp áo ngoài, gạch ngói, vật tàng trự, thành phẩm, vật nhô lên. Thân thể người là mũi, dạ dày, da, cơ, thịt. Tính tình là trung hậu, chậm chạp, lão thành, cứng nhắc. Hình dáng là vuông.

Kỷ: mây, đất vườn, đình viện, phòng ốc, nghĩa trang, đồng bằng, thổ sản, nông nghiệp, nghề chăn nuôi, xi măng, vật liệu xây dựng, trái cây, tài phú, bụi bặm, dơ, lấm tấm, bản ngã. Thân thể người là tỳ, bụng, da, tuyến tuỵ. Tính tình là hàm súc, cẩn thận, đa nghi. Hình dáng là bằng phẳng.

Canh: sương, sắt thép, đồ sắt, đồ sắt bén, ngũ kim, vật liệu thép, khoáng vật, quặng mỏ, cơ khí máy móc, chế tạo, tài chính, quân đội, cảnh sát, đại lộ, giải phẫu, bệnh viện. Thân thể người là đại tràng, xương lớn, canxi (?), phổi, răng, giọng nói, rún, thân mình. Tính tình là cương cường, uy vũ, táo bạo, cố chấp. Hình dáng là góc cạnh, rìa.

Tân: mặt trăng, vàng, châu báu, đồ vật bằng ngọc, kim cương, trang sức kim loại, tinh thể, nhạc cụ, cây kim, cái kéo, bút, tiền xu, tài chính, y dược, gia công công nghệ cao, pháp luật. Thân thể là phổi, đường hô hấp, yết hầu, khoang mũi, lỗi tai, gân cốt, xương nhỏ. Tính tình là thông minh, nhu thuận, linh động, thích sĩ diện. Hình dáng là tinh tế, tỉ mỉ.

Nhâm: biển mây, biển cả, đầm nước, sông hồ, vẫn tải đường thuỷ, vận chuyển, mậu dịch, thuỷ sản, dầu hoả, màu nước. Thân thể là miệng, bàng quang, máu, hệ thống tuần hoàn. Tính tình là mưu trí, hiếu động, tuỳ hứng. Hình dáng là không có qui tắc.

Quý: mưa, sương, nước suối, sương tuyết, hồ, kết tinh, nước mắt, mực, thuỷ sản, đẳng sau, huyền học, lao động trí óc, mưu lược. Thân thể là thận, mắt, xương tuỷ, não, tinh dịch, kinh nguyệt, nước bọt. Tính tình là mưu trí, thông minh, nhạy bén, ôn nhu. Hình dáng là mượt, tràn đầy, mịn.

4.7. Thiên can trực đoán khẩu quyết

Giáp mộc người đa phú đa quý, mặt mày rõ ràng chỉn chu, thân như tùng bách không uốn lượn, tinh thần thanh sảng, thích yên tĩnh, thích thơ văn. Không hình xung thì thân thể khoẻ mạnh, thân nhược thì dù đẹp cũng không cao.

Ất Mão thích đẹp, trọng thanh danh, sắc thì đẹp, thân thì cao, cốt cách chỉn chu. Không làm nghệ thuật thì làm tạo tác, không viết văn chương thì vào quân doanh.

Bính Đinh: nhật chủ Bính Đinh gặp Hợi Tý suy, Thất Sát giá lâm tam hợp đến, Tài hợp nhật chi thiếu cơm áo, tai điếc, tàn tật, mặt đầy bụi.

Mậu Thìn, Mậu Tuất nhà thiện nhân, mặt lạnh tóc vàng, lời nói mê sảng. Mắt ác ngươi vàng, tóc thưa thớt, thích thờ Thần Phật, hôn nhân xấu.

Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, nghệ nhân kinh kịch giàu có, cốt canh tú nhận, diện mạo thanh kì. Mũi treo túi mật, kho tiền đầy mãn, ngôn ngữ trầm tĩnh, sóng mắt ngang, tạng người dầy, miệng thơm, răng ngay ngắn, hay chăm chút bề ngoài.

Canh Thân Dịch Mã đang đi đường, thần tráng, mắt trợn tròn, gáy thô rộng, thân mập lùn, tóc thưa thớt, tính tình hung ác.

Tân Dậu tính nhu, thanh t*o, lịch sự, tinh tế, tính thiện, giọng thanh, giỏi âm nhạc. Dáng gầy, mặt vuông, mày mảnh, bề ngoài nhạt nhoà không thu hút.

Nhâm Tý kỵ là tặc, hỷ là quân cảnh, thái quá thì thân nhỏ, mắt lờ đờ, sắc đen, môi dày, mặt xấu, mắt lé, nhiều tư dâm.

Quý Hợi mắt nhỏ, mày dài mảnh, tóc thưa thớ, mặt sắc đỏ. Lâm vượng mười ngón thô, dày, dài. Răng đều đặn, hàm dưới, hàm dưới dài.

Mậu Kỷ sinh vào lúc khí bất toàn, Thương Quan lâm thời nguyệt tương liên, nhất định đầu mặt có hao tổn, có bệnh máu đặc, tiền vận khổ. Nhật chủ như gặp thêm Mậu Kỷ sinh, địa chi thành hoả cục khí nóng bí, hình xung khắc phá là tàn tật, đầu trọc… bất minh (TK: bản text bị lỗi).

Nhâm Quý trùng trùng, thời thần nếu là Sát lại thấy Tài, cho dù mặt mũi không bớt, không ghẻ lở, nhất định là người có tật mắt và ? (TK: bản text bị lỗi).

Bính Đinh hoả vượng, bệnh tật ko1 phòng, câm điếc, đau đầu, mắt không tỏ. Hoả viêm thổ táo bệnh da, bệnh huyết dịch, bệnh nhọt.

4.8. Định vị thập can tại nhân thể

Giáp mộc đại biểu đầu, tay, gan mật. Như vậy, Giáp mộc trong mệnh cục thụ thương, tại cơ thể người sẽ tương ứng với bộ vị nào? Tôi trong thực chiến phát hiện: nếu như Giáp mộc tại niên trụ bị khắc, có thể khẳng định đầu có thương tật, hoặc hói đầu. Nếu như Giáp mộc tại nguyệt trụ, thì nghiêng về đại biểu gan và tay bởi vì nguyệt trụ là phần ngực.

Ất mộc tại niên can bị khắc, khẳng định là thương tật liên quan thần kinh, lông tóc, phần cổ. Ất mộc tại nguyệt can thì phần lớn đại biểu tay và gan. Nếu như Ất mộc bị tổn thương tại vị trí này thì có thể khẳng định tay hoặc lá gan bị thương bệnh. Mộc tại thời trụ bị xung khắc, có kha năng cao là liên quan đến chân, gân cốt, và hệ thần kinh.

Bính hoả tại niên can, là thần kinh, não, mắt. Nếu như Bính hoả tại niên can bị khắc tổn, mệnh chủ khẳng định có bệnh tật tại hai phương diện trên. Bính hoả tại nguyệt can đại biểu hai vai bởi vì nguyệt trụ là bộ phận vai ngực. Cho nên nếu Bính hoả tại nguyệt chi bị khắc, vai dễ có thương tật. Bính hoả tại nhật trụ đạ biểu ruột non, nếu như bị khắc cần đề phòng bệnh ruột non, ruột thừa.

Đinh hoả tại niên can đại biểu não, thần kinh, mắt. Đinh hoả tại nguyệt can định vị là tâm tạng, hệ thống huyết dịch, nếu như bị xung khắc, thì những khí quan trên thân thể tương ứng tất nhiên có thương tật.

Mậu thổ tại niên can có thể được định vị tại mũi, mặt. Mậu thổ tại nguyệt can, có thể định vị tại hai sươn, cơ ngực, cơ bắp tay. Mậu thổ tại nhật can, có thể định vị tại dạ dày, cơ bụng, hệ tiêu hoá. Mậu thổ tại thời can có thể định vị tại đùi, bắp chân.

Kỷ thổ tại niên can, định vị tại cổ, bộ mặt, da dẻ, cơ bắp. Kỷ thổ tại nguyệt can, nhất định là tỳ và cơ ngực, cơ bắp tay. Kỷ thổ tại nhật trụ nhất định ở bụng và cơ bụng, cơ eo. Kỷ thổ tại thời can, nhất định ở vào đùi, bắp chân.

Canh kim tại niên can, nhất định định vị tại xương đầu, răng. Canh kim tại nguyệt can, có thể định vị tại xương ngực, cẳng tay và kinh lạc phần này. Canh kim tại nhật chi có thể định vị rốn, đại tràng. Canh kim tại thời can, có thể định vị tại xương cùng, kinh lạc và xương cốt hai chân.

Tân kim tại niên can, có thể định vị tại răng, cổ họng, đường hô hấp, bạch huyết. Tân kim tại nguyệt can có thể định vị tại phổi, lồng ngực, bạch huyết. Tân kim tại nhật can nhất định tại phần đùi.

Nhâm thuỷ tại niên can, nhất định định vị ở miệng, lưỡi, lỗ tai, chức năng cung cấp máu cho não. Nhâm thuỷ tại nhật can có thể định vị tại tam tiêu, bàng quang, hệ thống tiết niệu. Nhâm thuỷ tại thời can, có thể định vị tại xương ống chân.

Quý thuỷ tại niên can, có thể biểu thị chức năng cung cấp máu cho não. Quý thuỷ tại nguyệt can, nhất định ở màng tim. Quý thuỷ tại nhật can có thể định vị tại thận và hệ thống tiết niệu, hệ thống sinh sản. Quý thuỷ tại thời can nhất định ở bàn chân.

(hết chương 4)

Thanked by 2 Members:

#7 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 16/02/2019 - 12:12

CHƯƠNG 5: TƯỢNG PHÁP TỔ HỢP THIÊN CAN ĐỊA CHI

5.1. Thiên can địa chi hình xung hợp hại

Thiên can gọi là thiên nguyên, địa chi gọi là địa nguyên, tàng can gọi là nhân nguyên, ứng với Thiên Địa Nhân tam tài, cũng được gọi là tam mệnh. Thuộc tính âm dương và đặc điểm của thiên can địa chi: Thiên can Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là dương, Ất Đinh Kỷ Tân Quý là âm. Địa chi Tý Dần Thìn Ngọ Thân Mậu là dương, Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi là âm. Can tại thiên thành tượng, chi tại địa thành hình; cho nên thiên can là dương, địa chi là âm. Can đại biểu không gian, chi đại biểu thời gian. Can chi một thể chính là âm dương một thể, thời không hợp nhất. Can có tượng là thân cây, chi có ý là bộ rễ, can chi tương hỗ là trong ngoài, trên dưới. Chi là thể, can là dụng. Thiên can dựa vào địa chi mà tồn tại, địa chi thông qua thiên can mà biểu hiện. Chi có thể dưỡng can, tải can; can có thể che cho chi, trợ cho chi. Can mà không có chi khó có thể đứng vững, chi mà không có can, khó có thể hiển dụng công năng. Dương can dương chi thì tính động, thế cường, ứng nhanh, cát hung ứng hiện nhanh. Âm can âm chi thì tính tĩnh, thế nhu nhuận, ứng chậm, cát hung ứng hiện chậm.

Thiên can như là đầu mặt một người, cát hung hầu hết là hiện ra bên ngoài. Địa chi như tạng phủ một người, cát hung đa phần ẩn bên trong. Can chi đều thương, như thân cây bị nhổ tận gốc, cát hung rõ ràng nhất. Can thương mà chi không bị thương, thì không bị thương tổn đến căn bản, trong hung có cát. Chi thương mà can không bị thương, thì ngoài mạnh trong yếu, trong cát có hung. Can mà không có căn, như cây khô thối, như lục bình trôi nổi, được sinh mà không khởi phát, bị khắc mà lại không thương tổn.

Giữa can chi có tám loại sinh khắc: sinh, khắc, hội, hợp, hình, xung, phá, hại.

Loại thứ nhất: sinh. Chỉ trong ngũ hành có một hành nào đó phù trì, nâng đỡ, thêm vào cho một hành khác. Sinh có nghĩa là cấp dưỡng, sinh dục, che chở, bảo hộ, duy trì, làm cho tươi đẹp thêm chẳng hạn. Ngũ hành được sinh thì tăng lực, ngũ hành đi sinh cho hành khác thì giảm lực. Giáp Ất Dần Mão mộc sinh Bính Đinh Tỵ Ngọ hoả, hoả sinh Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thổ, thổ sinh Canh Tân Thân Dậu kim, kim sinh Nhâm Quý Hợi Tý thuỷ, thuỷ sinh Giáp Ất Dần Mão mộc.

Loại thứ hai: khắc. Chỉ trong ngũ hành có một hành nào đó áp bách, chế ước một hành khác. Khắc có nghĩa là quản thúc, áp chế, kiềm chế, đả kích, tước đoạt, công phạt, tàn phá, và giết chóc chẳng hạn. Hành bị khắc giảm lực, hành đi khắc hành khác cũng giảm lực. Giáp Ất Dần Mão mộc khắc Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thổ, thổ khắc Nhâm Quý Hợi Tý thuỷ, thuỷ khắc Bính Đinh Tỵ Ngọ hoả, hoả khắc Canh Tân Thân Dậu kim, kim khắc Giáp Ất Dần Mão mộc.

Loại thứ ba: hội. Chỉ trong ngũ hành có một hành tụ được khí một phương, tạo thành một trận doanh cường đại, giống như con người tạo thành “hội đồng minh”, “hội đồng hương” và các hiệp hội khác trong xã hội, qua đó mà tăng cường thực lực của bản thân. Đây là một hình thức đặc biệt của quan hệ sinh. Hội có ý nghĩa là đồng loại tương tụ, đồng khí tương cầu, hội hợp, tụ hợp, gộp lại cùng nhau chẳng hạn. Dần Mão Thìn hội Đông phương mộc cục, Tỵ Ngọ Mùi hội Nam phương hoả cục, Thân Dậu Tuất hội Tây phương kim cục, Hợi Tý Sửu hội Bắc phương thuỷ cục. thìn Tuất Sửu Mùi thổ hội trung ương thổ cục.

Loại thứ tư: hợp. Cũng là một hình thức đặc thù của quan hệ sinh, là chỉ trong ngũ hành có hai hay ba loại ngũ hành liên thông thành một khí, tổ hợp thành một đoàn thể liên hợp, qua đó mà tăng cường thực lực bản thân. Hợp có ý nghĩa là liên hợp, hợp tác, hoà hảo, tụ họp, hợp mà lưu giữ lại chẳng hạn. Phương thức hợp cụ thể lại phân làm thiên can ngũ hợp, địa chi tam hợp, địa chi bán hợp, địa chi củng hợp, địa chi lục hợp, địa chi ám hợp, can chi hợp, tổng cộng bảy loại cách thức. Thiên can ngũ hợp tức là Giáp Kỷ hợp thổ, Ất Canh hợp kim, Bính Tân hợp thuỷ, Đinh Nhâm hợp mộc, Mậu Quý hợp hoả. Địa chi tam hợp tức là Hợi Mão Mùi hợp mộc, Dần Ngọ Tuất hợp hoả, Tỵ Dậu Sửu hợp kim, Thân Tý Thìn hợp thuỷ. Địa chi bán hợp tức là Hợi Mão hợp mộc, Dần Ngọ hợp hoả, Tỵ Dậu hợp kim, Thân Tý hợp thuỷ, Mão Mùi hợp mộc, Ngọ Tuất hợp hoả, Dậu Sửu hợp kim, Tý Thìn hợp thuỷ. Địa chi củng hợp tức là Hợi Mùi củng mộc, Dần Tuất củng hoả, Tỵ Sửu củng kim, Thân Thìn củng thuỷ. Địa chi lục hợp tức là Dần Hợp hợp mộc, Mão Tuất hợp hoả, Thìn Dậu hợp kim, Tỵ Thân hợp thuỷ, Tý Sửu hợp thổ, Ngọ Mùi hợp hoả thổ (?). Địa chi ám hợp tức là Sửu Dần hợp, Mão Thân hợp, Ngọ Hợi hợp, Tý Tuất hợp; nghĩa là can tàng trong địa chi tương hợp. Can chi hợp tức là Mậu Tý, Nhâm Ngọ, Tân Tỵ, Canh Thìn, Kỷ Hợi, Giáp Ngọ, Bính Tuất; nghĩa là thiên can và can tàng trong địa chi tương hợp.

Loại thứ năm: hình. Là chỉ một, hai, hay ba loại ngũ hành tiến hành hành hạ bản thân hoặc hành hạ, khắc chế lẫn nhau. Hình cũng là một hình thức đặc biệt của quan hệ khắc. Hình có nghĩa là hình phạt, hình thương, hành hạ, ngược đãi, và cản trở chẳng hạn. Tý Mão tương hình là hình vô lễ, Dần Tỵ Thân tương hình là hình đặc thế, Sửu Mùi tuất tương hình là hình vong ân, Thìn Ngọ Dậu Hợi tự hình. Có thể nói như vầy, một người như bị chém thương, nếu do người khác gây ra thì là tương hình, nhưng nếu do tự mình gây ra thì là tự hình; tự hình nói nôm na là do tự mình đa tình, tự mình làm mất mặt mình, tự mình chuốc phiền phức, tự gây nghiệt, tự mình đánh miệng mình, tự mình triệt đường của mình, tự mình nguyền rủa mình, tự mình ngược đãi mình, tự làm mình bị thương, vân vân.

Loại thứ sáu: xung. Xung là chỉ hai loại ngũ hành có phương vị đối lập xung chiến lẫn nhau, là một hình thức tác động mãnh liệt giữa các hành trong ngũ hành. Xung có nghĩa là xung kích, va chạm, xung đột, xung động, xung khai, xung tán, xung phá, xung diệt, xung đi, xung xuất, xung nhập chẳng hạn. Thiên can tương xung là Giáp Canh xung, Ất Tân xung, Bính Nhâm xung, Đinh Quý xung. Địa chi tương xung có Tý Ngọ xung, Dần Thân xung, Mão Dậu xung, Tỵ Hợi xung, Sửu Mùi xung, Thìn Tuất xung.

Loại thứ bảy: phá. Phá là chỉ hai loại ngũ hành có thiên can thàng chi phá hoại lẫn nhau. Phá là một hình thức biểu hiện của quan hệ khắc. Phá có nghĩa là phá khai, phá hoại, tàn phá, phá huỷ, phá tán, phá thương chẳng hạn. Tý Dậu tương phá, Mão Ngọ tương phá, Thân Tỵ tương phá, Dần Hợi tương phá, Thìn Sửu tương phá, Mùi Tuất tương phá. Quan hệ sinh khắc của ngũ hành can chi cũng phức tạp giống như quan hệ giữa người và người. Bởi vì can chi ngũ hành là phù hiệu mô phỏng thế gian vạn sự. Như giữa mẹ con là quan hệ tương sinh, giữa vợ chồng là quan hệ tương hợp nhưng giữa mẹ con, vợ chồng cũng có mâu thuẫn. Trên thế giới cũng có không ít trường hợp mẹ ngược đãi con cái, con cái làm hại cha mẹ, vợ chồng hành hạ lẫn nhau, giết hại lẫn nhau. Đây chính là trong sinh hợp có phá vậy.

Loại thứ tám: hại. Hại là chỉ hai loại ngũ hành tổn hại lẫn nhau. Hại là một loại biểu hiện của quan hệ khắc, còn gọi là tương xuyên. Hại có nghĩa là tổn hại, bức hại, hãm hại, mưu hại, tàn hại, sát hại chẳng hạn. Tý Mùi tương hại, Sửu Ngọ tương hại, Dần Tỵ tương hại, Mão Thìn tương hại, Thân Hợi tương hại, Dậu Tuất tương hại. Ví dụ như Sửu Ngọ tương hại là như thế nào? Là Quý thuỷ tàng trong Sửu tổn hại Đinh hoả tàng trong Ngọ, Đinh hoả trong Ngọ tổn hại Tân kim trong Sửu, còn Kỷ thổ trong Ngọ lại tổn hại Quý thuỷ trong Sửu. Chỉ nhìn bên ngoài thì là Ngọ hoả sinh Sửu thổ, hoàn toàn hoà hợp; nhưng bên trong lại chính là sát phạt đánh trận.

5.2. Ý tượng thiên can sinh khắc

Sinh: sinh trưởng, tất cả những sự vật có thể phát dục ở điều kiện nhất định đều đạt được thể tích và trọng lượng ban đầu. Cũng có nghĩa là phát triển, sinh sôi, sinh trưởng. Chủ động cung cấp trợ giúp.

Khắc: năng, thắng, khắc phục (hàng phục, chế phục), khắc phạt (xâm hại), chiến thắng, đánh bại, ước thúc, khắc trị.

Tương sinh và tương khắc là tác dụng của lực do một hành nào đó tác động lên một hành khác. Bản thân sinh và khắc đều là tượng cát hung. Bình thường mà nói, trong bát tự có nhiều quan hệ tương sinh, thường thường là mệnh tốt, có thể đạt được sự quan tâm và trợ giúp của hoàn cảnh xã hội xung quanh. Gặp khắc thì luận hung là một bí quyết trọng yếu của Manh Phái. Đối với nguyên cục bát tự, nếu số lượng chữ bị khắc càng nhiều thì tầng thứ càng thấp. Bình thường nếu đại vận, lưu niên và lưu nguyệt kết hợp với nguyên cục, mà càng gia tăng lực khắc lên một chữ nào đó, hoặc gia tăng số lượng chữ bị khắc thì càng hung, người lại thì càng cát.

Thiên can và địa chi đều có thuộc tính âm dương, quan hệ sinh khắc. Dương sinh dương, dương sinh âm, âm sinh âm đều có những khác biệt rõ ràng. Âm dương tương sinh càng trực tiếp và chủ động, lại không cần phải được hồi đáp. Dương sinh dương, âm sinh âm lại mang tính bị động, lực sinh cũng không lớn bằng. Đạo lý này rất dễ thấy trong hiện thực cuộc sống. Ví dụ như có một người nam và một người nữ đều cần bạn giúp, bạn lại là nam, thì bạn sẽ chọn giúp người nữ trước; nếu bạn là nữ, sẽ chọn giúp người nam trước. Giống như vậy, nam giúp nam thì cách thức trực tiếp; còn nam giúp đỡ cho nữ hoặc nữ giúp đỡ cho nam, trước tiên cần suy nghĩ sẽ trợ giúp bằng hình thức gì.

Bát tự giải thích nhân sinh, cho nên những hình tượng có trong thực tế nhất định sẽ được thể hiện trong lý luận bát tự. Âm dương tương sinh có ý tượng là hấp dẫn, thân hợp, ngưng tụ. Bây giờ để cho trực quan, nhìn thử một ví dụ về ý tượng sinh khắc.

Khôn tạo: Tân Tỵ - Tân Sửu – Nhâm Ngọ - Giáp Thìn. Đây là bát tự giáo viên tiểu học của tôi. Chính Ấn sinh thân, tốt nghiệp trung học, bởi vì Tân kim sinh Nhâm thuỷ cho nên rất hiếu học. Tân toạ Tỵ hoả, tượng là nghèo nên không thể tiếp tục học lên cao. Nguyệt can Tân kim toạ Sửu địa là nhập mộ, cho nên là giáo viên tư thục. Đây chính là Chính Ấn trong bát tự có vị trí và hoàn cảnh không tốt, Nhâm thuỷ sinh Giáp mộc, bản thân có tấm lòng đẹp. Thiên can thuận sinh cho nên cả đời có quan hệ xã giao cũng tốt. Trả qua Đại cách mạng văn hoá, vẫn luôn bình an vô sự, cả đời theo nghiệp dạy học. Âm dương tương sinh, về phương diện quan hệ xã giao là tốt. Bản thân tôi là nhật nguyên Tân kim, cho nên cùng với người thầy này có duyên phận khá tốt. Năm 2002 Nhâm Ngọ, lưu niên và nhật chủ phục ngâm, qua đời vì cao huyết áp. Lại nhìn bát tự của chồng. Càn tạo: Kỷ Mão - Ất Hợi – Kỷ Tỵ - Mậu Thìn. Hai người có nhật nguyên âm dương tương khắc, Kỷ thổ có Chính Tài là Nhâm thuỷ, về mặt tổ hợp phu thê thì thuộc về Tài Quan tương nghi, cho nên quan hệ vợ chồng luôn khá tốt. Mà ở nguyên cục Ất mộc khắc Kỷ thổ, mộc thổ tương chiến, vận mệnh liền nhiều long đong. Tỵ - Hợi xung, đầu tiên là mẹ mất khi còn nhỏ, được một người chú trong tộc họ nuôi dưỡng. Tự toạ Ấn tinh nên cũng rất hiếu học, Ấn bị xung phá, cho nên không có tiền để học lên cao, về sau cũng làm giáo viên tiểu học tư thục. Sau đó lại cảm thấy nghề giáo không có đường ra, nên làm nông dân, sau lại trở lại nghề nhà giáo. Lúc tuổi già lại đau khổ vì mất con (năm 2003 Quý Mùi, con trai lớn bị tai nạn xe cộ). Mộc thổ tương chiến, mệnh vận gian nan.

Chúng ta đều biết, các tượng lưỡng thần thành tượng trong bát tự như mộc hoả thông minh, kim thuỷ tương sinh đều có mệnh vận khá tốt. Kim mộc tương chiến, hoả kim tương chiến, những loại lưỡng thần thành tượng này mà xuất hiện trong tổ hợp bát tự thì mệnh vận khá xấu. Đây thể hiện của nguyên tắc phùng khắc là hung, phùng sinh là cát.

Càn tạo: Ất Mão – Kỷ Mão – Kỷ Mão – Đinh Mão. Đây là bát tự của một vị khách đến nhờ tôi đoán mệnh, đang làm việc tại xưởng rượu Ngưỡng Thiều. Vừa nhìn bát tự tôi đã cảm thấy đồng tình, làm sao mà có bát tự như thế này. Sát vượng khắc thân, không nhà để về, cha mẹ mất sớm, còn có một anh trai cũng có mệnh vận nhấp nhô tương tự, làm việc vặt kiếm sống, kết hôn là không có cơ hội rồi. Mão mộc là kỵ, đi đến chỗ nào cũng không thể an thân, lại thường xuyên bị người lấn lướt.

Trịnh Bồi Dân: Quý Mùi – Kỷ Mùi – Nhâm Ngọ - Đinh Mùi. Lý luận cách cục nhất định là tòng Sát. Lý luận Manh Phái, Sát tại chủ vị, là mệnh làm quan. Vận Quý Sửu, năm 2002, tháng 3, ngày 11, qua đời tại Bắc Kinh vì nhồi máu cơ tim.

5.3. Ý tượng tổ hợp thiên can

Thiên can tương hợp có Giáp Kỷ hợp, Ất Canh hợp, Bính Tân hợp, Đinh Nhâm hợp, Mậu Quý hợp. Trong các tổ hợp tương hợp, như Giáp là nhật can, Giáp hợp Kỷ, thì Kỷ là Chính Tài của Giáp. Nếu là nam mệnh, thì gọi là phu thê chính hoá, ngũ hành là thổ, lúc vợ nói thì chồng lắng nghe nhiều một chút. Nếu là nữ mệnh thì bản thân lúc chọn chồng càng coi trọng tài phú của chồng. Nếu như Kỷ là nhật can, Kỷ hợp Giáp thì Giáp là Chính Quan của Kỷ. Nếu là nữ mệnh, là Quan đến hợp thân, thường là có hôn nhân tốt đẹp. Nếu là nam mệnh, thường được những người nữ có năng lực ưa thích. Nếu như là Ất Canh tương hợp, nếu như Canh là nhật can, Canh hợp Ất thì Ất là Chính Tài của Canh. Như Ất là nhật can, Ất hợp Canh thì Canh là Chính Quan của Ất. Còn Bính Tân hợp, Đinh Nhâm hợp, Mậu Quý hợp cứ thế mà suy.

Ta là nhật can đi hợp Chính Tài hoặc Chính Tài đến hợp ta, nếu là nam mệnh thì Tài là vợ. Đối với cả mệnh nam lẫn nữ thì Chính Tài còn biểu thị tài lộc, tiền lương, vì ta đến cầu Tài mà được tài, hoặc cũng có tượng là do Tài đến tìm ta mà thu được tài. Loại tài này lớn nhỏ, bao nhiêu thì tuỳ vào tổ hợp mệnh cục vượng suy, hành vận, và chung thân quái mà định. Như loại này thì một đời áo cơm không lo, không thiếu tiền tiêu, khi hết tiền thường thường có người cho tặng đến tận tay. Như ta là nhật can đến hợp Chính Quan hoặc Chính Quan đến hợp ta, nếu là nữ mệnh, Quan là chồng. Đối với mệnh nam nữ nói chung còn đại biểu quyền lực. Quan đến hợp ta, là quý nhân cùng ta thân cận, hoặc ta thân cận quý nhân, hai bên quan hệ tốt, tất có cơ hội thăng quan. Còn chức quan lớn nhỏ, tuỳ vào tổ hợp mệnh cục, vượng suy, hành vận, và chung thân quái mà định. Loại người này thường thường cả đời quan vận không sai, có thể được lãnh đạo tín nhiệm hoặc đề bạt, đối với hoạn lộ phát triển rất có lợi. Đây là loại tin tức đặc thù của nhật can đơn nhất tương hơp.

Trong thực tế, còn có tồn tại một can hợp hai can, hợp ba can. Loại mệnh cục này tuy không nhiều, nhưng cuối cùng là vẫn tồn tại trong thực tế, như một Giáp hợp hai Kỷ, một Canh hợp ba Ất, một Nhâm hợp ba Đinh, v.v… cứ thế mà suy. Loại hợp này nếu xuất hiện trong mệnh cục là tranh hợp, đố hợp. Không luận nam nữ, trong mệnh cục có nhật can hợp hai hoặc ba can, thì người này lúc thanh niên, nhất là trước khi yêu đương kết hôn, dễ dàng xuất hiện tình yêu tay ba, bắt cá hai tay, đồng thời một lúc yêu nhiều người, mà thường do đó mà tạo ra phong ba tình trường, xuất hiện hiện tượng nhiều người nam tranh đoạt một người nữ, hoặc nhiều người nữ tranh đoạt một người nam. Cho nên gọi là tranh hợp, đố hợp giữa anh em, chị em khác phái. Không luận nam nữ, duyên tình khác phái rất tốt, dễ xuất hiện thị phi tình duyên, đợi đến sau khi kết hôn loại mệnh cục này sẽ chuyển biến tốt đẹp hơn, nhưng chuyển biến tốt đẹp hơn không có nghĩa là sẽ không có người khác phái đến ve vãn.

Trong mệnh cục, nếu có thiên can khác trùng với nhật can, như nhật can là Giáp, niên, nguyệt hoặc thời trụ lại có Giáp, như hai Giáp, hai Đinh, hai Nhâm, hai Bính hoặc ba Đinh, ba Nhâm, v.v… mà mệnh cục thiên can không có hợp, gặp lưu niên và mệnh cục hai thiên can hoặc ba thiên can tương hợp, cũng là tranh hợp, đố hợp. Lúc gặp lưu niên hoặc năm nói chuyện luyến ái mà tạo thành tranh hợp, đố hợp với mệnh cục, cũng sẽ có hai nữ tranh chồng hoặc hai nam tranh vợ, hoặc nhiều người tranh một người. Như nhật can và niên can tương hợp, bởi vì bị nguyệt trụ ngăn cách, tất lưu niên này tranh hợp, một đối tượng ở nơi gần, một đối tượng ở nơi xa hoặc ở nước ngoài. Như nhật can và niên can tương hợp, tất đối tượng hôn nhân ở nơi xa hoặc ở nước ngoài. Như nhật can và nguyệt can, thời can hợp, tất đối tượng hôn nhân ở gần hoặc ở địa phương.

Giáp Kỷ hợp là hợp trung chính, vì sự nghiệp chính nghĩa mà hợp, an phận thủ thường, trọng tín giảng nghĩa. Ất Canh hợp là hợp nhân nghĩa, chủ nội ngoại hoà hợp, cương nhu đều đủ, trọng nhân thủ nghĩa, tâm địa đoan chính, rất ít giả nhân giả nghĩa. Bính Tân hợp là hợp uy quyền, chủ dáng vẻ uy nghiên, trí lực ưu tú, có thể thi hành uy đức, phát bố hào lệnh, nhưng có khi cũng đội trên đạp dưới. Đinh Nhâm hợp là hợp dâm dật, mưu sự khả thành, tâm địa nhân từ, nhưng phụ nữ dễ theo trai, gia phong dễ bị ảnh hưởng, hoặc có việc tửu sắc, đánh bạc tán gia. Mậu Quý hợp là hợp vô tình, tướng mạo tuấn tú, bạc tình phụ nghĩa, nửa hư nửa thực, ngoài hợp mà trong không hợp, thừa thuận đều là giả ý. Nam mệnh nhiều người có tâm bất cần đời. Nữ mệnh nhật can Quý thấy Mậu là Quan tinh, thiếu nữ lấy chồng đầu bạc, chồng hơn ba, năm hoặc mười tuổi thì tốt, nếu không thì hôn nhân không thuận, vợ chồng khó mà bạc đầu giai lão.

Nhật can như hợp với hai bên trái phải (nguyệt, thời) là hợp gần, hoặc là đối tượng hôn phối hoặc tình nhân ở gần, hoặc ở địa phương. Nhật can và niên can hợp là hợp xa, hoặc là đối tượng hôn phối hoặc tình nhân ở nơi xa, hoặc ở nước ngoài. Đối với trường hợp tương hợp mà nói, can hợp so với chi hợp càng rõ ràng. Thiên can phân lượng nặng, địa chi phân lượng nhẹ hơn. Người có thiên can, địa chi hợp, trong xã hội ngày nay, phần lớn là góp gạo thổi cơm chung rồi mới kết hôn.

5.4. Thiên can hợp hướng hay bối

1. Chính hoá thành công:

Giáp Kỷ hợp, hướng (có ý theo – TK) thổ kim mà bối (không có ý theo – TK) mộc hoả thuỷ; Giáp hoàn toàn hướng Kỷ mà không bối.

Ất Canh hợp, hướng kim thuỷ mà bối mộc thổ hoả; Ất hoàn toàn hướng Canh mà không bối.

Bính Tân hợp, hướng thuỷ mộc mà bối kim hoả hto63; Bính Tân đồng tâm hướng thuỷ.

Đinh Nhâm hợp, hướng mộc hoả mà bối thổ kim thuỷ; Đinh Nhâm đồng tâm hướng mộc.

Mậu Quý hợp, hướng hoả thổ mà bối mộc kim thuỷ; Mậu Quý đồng tâm hướng hoả, hoả có tình lại sinh thổ.

2. Phản hoá thành công

Giáp Kỷ hoá mộc, hướng mộc hoả mà bối thổ kim thuỷ; Kỷ hoàn toàn hướng Giáp mà không bối.

Ất Canh hoá mộc, hướng mộc hoả mà bối thổ kim thuỷ; Canh hoàn toàn hướng Ất mà không bối.

Bính Tân hoá hoả, hướng hoả thổ mà bối kim mọc thuỷ; Tân hoàn toàn hướng Bính mà không bối; Bính Tân hoá kim, hướng kim thuỷ mà bối thổ hoả mộc, Bính hoàn toàn hướng kim mà không bối.

Đinh Nhâm hoá thuỷ, hướng thuỷ mộc mà bối thổ kim hoả, Đinh hoàn toàn hướng Nhâm mà không bối; Đinh Nhâm hoá hoả, hướng hoả thổ mà bối kim mộc thuỷ, Nhâm hoàn toàn hướng hoả mà không bối.

Mậu Quý hoá thổ, hướng thổ kim mà bối mộc hoả thuỷ, Quý hoàn toàn hướng Mậu mà không bối; Mậu Quý hoá thuỷ, hướng thuỷ mộc mà bối hoả thổ kim, Mậu hoàn toàn hướng Quý mà không bối.

3. Hợp mà không hoá

Hai can tương hợp đã tương hướng mà lại tương bối, đã đối lập mà lại thống nhất. Việc hướng bội đối với ngũ hành khác chủ yếu dựa vào can nào trong hai can tương hợp có thực lực mạnh hơn mà định. Có thể phân tích xu hướng hướng bội bằng cách tham chiếu hai tình huống là chính hoá và phản hoá.

Thổ vượng vào tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, như Giáp Kỷ tại bốn tháng này dễ hợp hoá thành công.

Tháng Tỵ Ngọ dễ hoá: Tỵ Ngọ thuộc hoả, là Ấn của thổ, chính là chất xúc tác thúc đẩy Giáp Kỷ hoá thổ. Nhưng khi trong nguyên cục có Tỵ Ngọ hoả bị xung khắc chế, hoặc hợp hội thành cục thái quá, thì hoả không thể sinh thổ, Giáp Kỷ vẫn không thể hoá.

Tháng Dần, Mão , Thân, Dậu, Hợi, Tý, Giáp Kỷ hợp khó hoá, nhưng nếu trong mệnh cục có lực lượng hoả thổ rất cường thì vẫn có thể thành hoá. Thiên can hợp hoá thành công, nhất định phải được địa chi giúp ích. Địa chi là can cơ, là căn bản, nên nếu không có địa chi cường, hữu lực làm hậu thuẫn, sẽ giống như thuỷ không có nguồn, cây không có gốc. Cho nên nếu không có địa chi giúp ích thì không nên đề cập thiên can hợp hoá thành công làm gì.

Địa chi hoặc tổ hợp địa chi giúp ích cho thiên can hợp hoá gọi là “hoá thần”. Hoá thần lực lượng đầy đủ thì hợp hoá mới thành công. Loại hoá thần này gọi là “chính hoá thần’. Hoá thần lực lượng không đủ, hợp hoá không thể thành công.

Thanked by 3 Members:

#8 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 03/03/2019 - 13:43

5.5. Tượng ý thiên can ngũ hợp

Thiên can ngũ hợp là Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý. Ngũ hợp nếu như chỉ hợp mà không hoá là một looại ràng buộc lẫn nhau, giữa hai can do có tình mà hạ chế lẫn nhau, làm cả hai đều khó phát huy ra tác dụng của mình, bởi vì hai chữ này chỉ lo dây dưa lẫn nhau mà không phát huy ra tác dụng khác. Trừ phi một trong hai chữ lực lượng quá lớn, nên còn tinh lực phân tán cho việc khác, nên mới có thể không chuyên tâm cho việc hợp mà phát sinh quan hệ khác với chữ khác. Tuy nhiên lực lượng của mối quan hệ phát sinh này cũng đã bị cắt giảm rất nhiều. Tình huống hợp mà không hoá: ngũ hợp bao quát sự hợp giữa thiên can niên - nguyệt - thời, và sự hợp của nguyệt – nhật, và nguyệt – thời. Hai tình huống hợp trước phải liền nhau hoặc nếu không liền nhau thì cũng phải không có ngăn trở thì mới tương hợp. Loại hợp này là một loại ràng buộc, cự li càng gần, ràng buộc càng nghiêm trọng. Tình huống hợp còn lại là liền nhau mà hợp, đồng thời khi một chữ tương hợp với chữ khác thì chữ khác đó tất nhiên là Chính Quan hoặc Chính Tài của chữ đó.

Thiên can tương hợp: ý nghĩa là thân hợp, tác hợp, chiếm hữu, đạt được, thân cận. Thiên can ngũ hợp thì hợp là chủ, hoá là phụ. Trong các tình huống hợp của thiên can, tất nhiên có phân chia cường nhược. Bình thường mà nói, trọng tâm sẽ nghiêng về chữ có lực lượng mạnh, tức là chữ có lực lượng mạnh trong mối quan hệ hợp sẽ có tác dụng chủ đạo. Đây chính là qui luật nhược tòng cường. Mà thiên can cường hay nhược được quyết định bởi toạ chi của thiên can đó. Lấy Bính hoả làm ví dụ, toạ tại Dần, Ngọ, Tuất thì luận cường; toạ tại Thân, Tý, Thìn thì luận nhược. Còn Tân kim toạ tại Hợi, Mão, Mùi, Tỵ luận nhược; toạ tại Dậu, Sửu luận cường. Nếu như Bính hoả gặp Tân Hợi, Tân kim tuy nhược, nhưng đủ để chế Bính (cùng loại với kéo người xuống ngựa) (?). Mà như Giáp Tý gặp Kỷ Hợi, Hợi Thuỷ nơi trường sinh của Giáp mộc, Kỷ thổ tuy nhược, Giáp mộc vẫn phải tòng theo. Giáp Tý gặp Kỷ Tỵ, Giáp Kỷ hợp, như là người nam nhà nghèo đến ở rể nhà giàu, liền có một cái bệ phóng để phát triển. Cho nên, luận thiên can ngũ hợp, nhất định phải tuân theo nguyên tắc hỷ kỵ.

Khí của ngũ hành tại thiên thành tượng, tại địa thành hình. Thiên can nhất định phải dựa vào địa chi thì mới phát huy tác dụng. Ví dụ như Giáp Tý, Giáp mộc thân toạ bại địa, không làm nên trò trống gì. Như phùng Kỷ Dậu là đã gặp ngày tuyết còn gặp sương lạnh, xấu càng thêm xấu. Gặp Kỷ Tỵ thì ngư dược long môn, cá chép hoá rồng. Kì thật thì can chi đều phải căn cứ hỷ kỵ mà luận thích hợp hay không thích hợp. Còn có một điểm cần phải chú ý là nhật can gặp hợp hay nhật chi phùng hợp, phải phân ra mà luận. Ví dụ như nhật chủ Giáp mộc, can gặp Bính hoả là hỷ, tất nhiên có được một phen vẫy vùng. Như gặp Tân Hợi, Tân Dậu, Tân Sửu tại tuế vận, bởi vì Bính Tân hợp cho nên Bính hoả bị chế, nhẹ thì bãi chức, nặng thì thương thân.

5.6. Ý tượng thiên can tương xung

Thiên can tương xung xác thực tồn tại. Giáp Canh tương xung, Ất Tân tương xung, Nhâm Bính tương xung, Quý Đinh tương xung. Mậu Kỷ thổ ở trung ương, cho nên không xung. Giáp mộc thuộc dương mộc, là phương Đông, Canh thuốc dương kim, là phương Tây. Dương và dương đồng loại thì bài xích lẫn nhau. Kim và mộc tương khắc, mà hai chữ này phương vị cũng tương phản, cho nên nói là tương xung. Các cặp thiên can tương xung còn lại tương tự mà suy.

Giáp Canh xung, đầu mặt có tổn. Ất Tân xung, tứ chi có thương, gân cốt đau đớn. Bính Nhâm xung, tim thận không lợi. Đinh Quý xung, hôn nhân bị phá, bàng quang, tim có bệnh.

Thiên can tương xung chủ yếu là chỉ sự biến hoá của hoàn cảnh bên ngoài, công việc thay đổi, dọn nhà di chuyển, tai nạn xe cộ ngoài ý muốn, phát tài ngoài ý muốn, thăng chức bất ngờ, và những việc vui khác. Thiên can đại biểu bên ngoài, động; thường thường đều là tình huống chủ động tiếp nhận thông tin. Trong bát tự như có hội (?), hợp thì có thể giải xung. Thiên can tương xung mà không hợp, mệnh chủ cả đời phiêu bạt, sinh li tử biệt, cha mẹ khó mà được phụng dưỡng, vợ con gặp hoả, mọi việc không thuận. Thiên can tương xung là căn cứ vào sự tương đối, tương xung của phương vị bát quái mà diễn sinh ra. Thiên can tương xung, ngoài ý nghĩa tương khắc, còn có ý nghĩa đối lập về mặt phương vị, tức dựa vào lực lượng bản thân mà va chạm mãnh liệt, xúc phạm, xung khử đối phương, cho nên tương xung lực thường lớn hơn là tương khắc. Thiên can tương xung không phân biệt xa gần, đều có thể hai chữ tương xung, chỉ là xung gần thì lực lớn, xung cách trụ thì lực giảm, xung xa thì lực yếu. Ngoài ra trong tổ hợp tương xung, bên thụ khắc lực nhỏ thì bị thương tổn lớn, bên đi khắc lực lớn, bị thương tổn nhỏ. Tuy nhiên, khi bên bị khắc có số lượng nhiều hoặc đắc lệnh, bên đi xung khắc số lượng ít mà thất lệnh, thì bên đi khắc cũng bị thương tổn khá lớn. Trong số các tổ hợp địa chi tương xung có Thìn Tuất, Sửu Mùi đều là các địa chi thuộc thổ mà tương xung, cho nên Mậu – Kỷ cũng tồn tại quan hệ tương xung, tuy nhiên đây là một loại tương xung khá đặc thù. Khi nào thì luận xung, khi nào thì không luận xung, đều phải có điều kiện. Trong bát tự mệnh lý, lúc Mậu hoặc Kỷ là nhật can, có Kiếp Tài thấu can, tức là nhật chủ Mậu thấy Kỷ hoặc nhật chủ Kỷ thấu Mậu. Lúc này Mậu Kỷ không thể coi là có quan hệ tỷ hoà, tương trợ, mà xem là tương xung mà không trợ giúp, chữ nào chữ nấy tự thân vận động. Trong tình huống này, nếu như nhật can là thân vượng hoặc thuộc cách cục tòng nhược, Kiếp Tài ngược lại càng vượng, càng được sinh thì càng tốt. Nhật can thân nhược hoặc thuộc cách cục chuyên vượng, Kiếp Tài ngược lại càng nhược, càng bị chế thì càng tốt. Trong số các địa chi, trong tình huống này, Thìn Tuất thuộc dương thổ, chỉ có thể làm căn khí của Mậu thổ, mà không trợ giúp Kỷ thổ; Sửu Mùi thuộc âm thổ, chỉ có thể làm Kỷ thổ căn khí mà không trợ giúp Mậu thổ.

Càn tạo: Canh Tuất – Kỷ Sửu – Mậu Tuất – Kỷ Mão. Mệnh này nhật can Mậu thổ, nguyệt can là Kiếp Tài Kỷ thổ minh thấu. Lúc này, Mậu Kỷ luận xung, mà không luận tỷ hoà. Nguyệt lệnh Sửu thổ là bổn gia căn khí của nguyệt can, Sửu Tuất tương hình, không có minh hoả sinh Tuất thổ, nhật can Mậu thổ luận thuộc cách cục thân nhược. Thân nhược kỵ thấy Tài, mệnh cục lại không có Tài (thuỷ) minh thấu, chỉ có Sửu thổ nguyệt lệnh có Quý thuỷ mạt khí là Tài tinh. Hai Tuất hình một Sửu, hình thương Quý thuỷ, Kỵ thần Tài tinh thụ thương, ứng với đại cát về phương diện tài phú. Người này tại năm 2001 Tân Tỵ, vào mùa thu mua vé số phúc lợi trúng 500 vạn. Tra lưu niên Tân Tỵ tại đại vận Nhâm Thìn, Nhâm là Thiên Tài của nhật can, Thìn là căn khí bổn gia, hỷ thần đáo vị, nên có sự may mắn này. Như Mậu Kỷ xem thành tỷ hoà, phù trợ, cách cục vượng suy của nhật can dễ dàng luận là thân vượng hỷ Tài, mà mệnh cục Tài nhược lại không thấu, có thể luận đoán là mệnh nghèo, liền khác quá nhiều, sai khác vạn dặm.

5.7. Đại xung và tiểu xung của thiên can

Đại xung là chiếu theo vị trí phương vị của thiên can mà luận. Giáp Ất mộc là phương Đông, tại Chấn vị. Canh Tân kim là phương Tây, tại Đoài vị. Đông và Tây tương đối. Bính Đinh hoả là phương Nam, tại Ly vị. Nhâm Quý thuỷ là phương Bắc, tại Khảm vị. Nam và Bắc tương đối. Bốn phương vị Đông Tây, Nam Bắc đối kháng nhau, bởi vậy luận đại xung.

Đại xung: Giáp Canh tương xung, Ất Tân tương xung, Bính Nhâm tương xung, Đinh Quý tương xung.

Càn tạo: Giáp Thìn – Giáp Tuất – Canh Tuất – Đinh Sửu. Niên nguyệt Giáp mộc và Canh kim, Đông Tây đối kháng, là xung.

Tiểu xung là chiếu theo ngũ hành của thiên can mà luận. Giáp Ất là mộc, Mậu Kỷ là thổ, mộc tính khắc thổ. Bính Đinh là hoả, Canh Tân là kim, hoả tính khắc kim. Mậu Kỷ là thổ, Nhâm Quý là thuỷ, thổ tính khắc thuỷ. Trong số các tổ hợp tiểu xung, mộc thổ tương xung cần phải có điều kiện. Khi thổ nhược, thấy mộc là bị xung. Khi thổ vượng thịnh, cần phải có hai chữ mộc hoặc hai chữ trở lên củng mộc mới có thể luận xung.

Tiểu xung: Giáp Tuất tương xung, Ất Kỷ tương xung, Bính Canh tương xung, Đinh Tân tương xung, Mậu Nhâm tương xung, Kỷ Quý tương xung.

Càn tạo: Mậu Dần – Canh Thân – Bính Thân – Giáp Ngọ. Mậu bị Canh tiết Dần khắc, nhược. Thấy lưu niên Giáp mộc thì sẽ bị xung.

Tương xung là khắc, là tác dụng qua lại giữa hai chữ có âm dương ngũ hành đồng tính, lực mạnh mà mãnh liệt. Nguyên cục hoặc lưu niên, đại vận có xung đều sẽ ứng tượng. Giáp Mậu tương xung, Ất Kỷ tương xung, Bính Canh tương xung, Đinh Tân tương xung, Mậu Nhâm tương xung, Kỷ Quý tương xung, Canh Giáp tương xung, Tân Ất tương xung, Nhâm Bính tương xung, Quý Đinh tương xung. Trong tổ hợp xung phân biệt có chủ xung và bị xung. Chủ xung, bị xung không phải xem ai khắc, ai bị khắc mà luận, mà là dựa vào chữ nào động, chữ nào vượng và phân định. Bình thường thì chữ nào vượng, động là chủ xung. Động là đại vận, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật. Vượng là ngũ hành vượng tướng. Cụ thể vận dụng tương đương phức tạp. Điều kiện thành lập mối quan hệ xung thành công: hai can xung nhất định phải kề sát nhau mới có lực, cách trụ thì có tượng xung mà không có lực xung. Hai chữ tương xung có lực lượng ngũ hành đều bị giảm, chữ nào vượng thì giảm lực ít, chữ nào nhược thì giảm lực nhiều. Chữ hỷ dụng bị xung bại thì hung, chữ kỵ bị xung bại là cát. Như xung cách trụ, khi có lưu niên tham gia thì mới bắt đầu có tác dụng.

5.8. Biểu tượng địa chi lục xung

1. Tý – Ngọ phùng xung, phần lớn chủ cả đời không an. Tý Ngọ là Đào Hoa, cũng chủ đa tình bôn ba, vì cảm tình mà phiền não. Về mặt công tác chủ có biến động về mặt nhân sự, công tác biến động, đi công tác xa, chức vụ thay đổi. Về mặt tình cảm, dễ dàng xuất hiện tình nhân, đào hoa, tình tay ba, tranh chấp tình trường. Về mặt thân thể, Tý thuỷ là loại thuỷ cực hàn, Ngọ hoả là thuần hoả, phần lớn chủ nhồi máu cơ tim, nữ dễ hư thai, huyết áp cao, dễ bị phỏng, dễ bị tai hoạ liên quan đến thuỷ hoả.

2 Mão – Dậu phùng xung, Dậu kim là phương Tây, chủ Bạch Hổ, cũng chủ dao mác, dễ dàng bị thương thành sẹo. Mão Dậu cũng là Đào Hoa, phần lớn chủ về bội ước, thất tín, tranh chấp tình trường. Gặp mão mộc bị chế tổn, dễ bị miệng vết thương hở, tổn thương gan mật. Nếu như không có tiết chế, vết thương có thể thể hiện ra mặt ngoài, nhìn thấy được, như bị thương ở tay chân tứ chi. Nếu như Mão mộc vượng tướng, Dậu kim bị tổn, dễ bị thương tổn ở phổi, bị đao kiếm để lại sẹo. Về mặt sự nghiệp, đa phần chủ hoàn cảnh biến động, có sự điều chỉnh, cũng có tượng về đi công tác. Nhìn hỷ dụng, biểu hiện sự biến hoá của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đối với bản thân như thế nào.

3. Dần – Thân gặp xung, là Dịch Mã gặp xung, phần lớn chủ công việc phải bôn ba, công việc có nhiều biến động, như tài xế, nhân viên sales thị trường, cũng chủ một đời nhiều bôn ba, thích xen vào chuyện của người khác, nội tâm không bình tĩnh, ăn sổi ở thì, chỉ vì lợi trước mắt. Dần – Thân phùng xung, cũng chủ kinh thương, đầu tư, phần lớn chủ có bằng lại xe. Nếu là hỷ dụng, cũng chủ tự bản thân có xe riêng. Về mặt thân thể là gan mật, phổi, đầu, gân cốt, cũng chủ về thần kinh, đầu óc, não, ý nghĩ.

4. Tỵ – Hợi phùng xung, Hợi thuỷ là ý tưởng, đầu, não, là người thông minh có tài. Tỵ – Hợi xung cũng chủ nhiều ý tưởng, thích xen vào chuyện của người khác, xuất hiện việc tranh chấp, thị phi khẩu thiệt. Còn bởi vì Tỵ – Hợi phùng xung, tàng can quá loạn, cho nên chủ về lo lắng, nhiều tâm sự. Tỵ là tâm hoả, cũng là khẩu thiệt, bởi vì tương xung mà khó tránh khỏi khẩu thiệt thị phi. Về mặt thân thể, dễ bị đau tim, còn chủ bệnh tim, bệnh huyết dịch, bệnh tiết niệu.

5. Thìn – Tuất phùng xung, Thìn thích đấu đá, Tuất thích kiện tụng, dễ xuất hiện thị phi, quan phi kiện tụng. Về mặt công việc chức nghiệp, xung là công ty hoặc công sở biến động, hoặc làm nghề nhiều biến động, thay đổi. Thìn – Tuất là tài sản, cũng chủ mua tài sản cố định, nhà cửa. Về mặt thân thể phần nhiều biểu hiền về làn da, tỳ vị không tốt, thái vượng là kỵ thì thường chủ về bệnh thận, huyết dịch, hệ thống tiết niệu.

6. Sửu – Mùi phùng xung, phần lớn chủ sự nghiệp khó khăn, dễ có những phát sinh bất ngờ, cũng chủ người có tính cách hướng nội, không giỏi nói năng. Sửu là Đạo giáo, Mùi là Phật giáo, cũng chủ tin tưởng vào văn hoá thần bí. Thìn Tuất Sửu Mùi là Giác tinh, cũng chủ nơi ở hay thay đổi, mua bất động sản. Về mặt thân thể, phần nhiều là chủ làn da, tỳ vị; thái vượng là kỵ thì chủ bệnh tật về tim, phổi.

5.9. Địa chi lục xung tượng ý quyết

Tý – Ngọ tương xung nhất định khắc cha, mệnh con nuôi. Không Thần như đến tương khắc, không hại vợ con cũng hại chính mình. Sửu – Mùi tương xung nhiều bệnh tật, nếu là mệnh thuỷ chủ tỷ hoà, cha mẹ thân sinh không hình khắc, anh em tương xung chủ quá ổ (?). Dần – Thân tương xung mệnh không thọ, còn thêm bị tật, chết trên bàn sinh, có thể cầu đại thần đến bảo hộ, miễn cho cha mẹ phải khóc đoạn trường Dậu – Mão tương xung khắc nhà mình, vừa được cha mẹ sinh ra đã hình khắc; nếu như đến ba tuổi vẫn không hình khắc, bảy tuổi một mệnh ô hô xuống hoàng tuyền. Thìn – Tuất tương xung chủ con nuôi, nếu như không chết cũng thần kinh, buốn tuổi chỉ sợ phải xa cha mẹ, thân yếu lại mang tật, đoản thọ. Tỵ - Hợi tương xung nhiều bệnh nạn, tất nhiên ly hương hoặc xa nhà, nếu như cha mẹ không hình khắc, bảy tuổi sẽ gặp phải đại nạn.

Tứ trụ bát tự gặp chi xung, sự ứng cát hung phải thuộc lòng. Nếu như nguyên cục thiếu một chữ, tuế vận lại gặp sẽ ứng ngay. Nguyên cục, tuế vận gặp chi xung, vượng suy hỷ kỵ cần phân rõ. Trong trụ Thập Thần ứng người nào, linh hoạt biện chứng cần phải tỏ. Niên xung nguyệt lệnh xa quê tổ, họ hàng duyên bạc không thân tình. Nguyệt xung niên chi tổn tổ nghiệp, tài sản cha ông khó kế thừa. Nguyệt nhật tương xung tổn cha mẹ, anh chị em ruột lạnh như băng. Vợ gặp lại tai, thân thể yếu, khảm khảm long đong cả một đời. Nhật thời tổn vợ và khắc con, nhật chi bị xung ứng tang vợ. Thân tình duyên bạc lại rời xa, vợ chồng thường có chuyện ồn ào. Niên nguyệt nhật chi xung thời chi, hình thành cục ba xung một chi, hoặc là nhật thời chi xung niên, bất lợi cha ông, sinh thị phi. Niên nguyệt hai chi xung nhật chi, tất ứng hôn tai lại goá bụa. Nguyệt nhất hai chi xung thời chi, bất lợi con cái, tai hoạ sinh. Như can xung mà không gặp hợp, một đời phiêu bạc đi không ngừng. Cha mẹ không giúp, khó dựa dẫm, sinh ly tử biệt nạn không nhẹ. Nguyên cục vận tuế gặp chi xung, thời thời khắc khắc phải cẩn thận, khuyên ai gặp phải phải thẩm thận, kịp thời hoá giải cầu thái bình.

Tý là đế toạ, Ngọ môn đình, Tý hàn Ngọ viêm khắc lại xung, cả đời thị phi thích gây chuyện, đơn vị công tác thường thay đổi, ngày nghĩ đêm ngóng khó thanh nhàn, bôn bao lao lực không an định. Tình duyên khác phái thường tranh giành, đi xa về nhà lại không yên, liệu tốt cuối cùng việc biến đổi, thất bại tổn thất sẽ phát sinh. Bệnh tại da thịt và trái tim, huyết dịch, tim thận, mạch đập nhẹ.

Sửu là Đạo giáo, Mùi Phật giáo, đại cát, tiểu cát, thổ tương xung. Nữ mệnh thì chồng hay trăng hoa, anh em duyên mỏng tình thân ít, khó được cha ông giúp hay đỡ, mưu vọng tuy nhiều ít thu hoạch. Xung là hung thì nhiều ngăn trở, sự tình âm quái sẽ phát sinh, hứng thú với Phật Đạo Thiền pháp, giỏi học tinh tượng và khí công. Tỳ phổi nhiều bệnh, hư lại suyễn, đau bụng bệnh lị, bệnh tiêu hoá.

Dần là quỷ môn, Thân nhân môn, công tào truyền tống khắc lại xung. Vợ chồng đồng sàng mà dị mộng, nam nữ hay gặp tình ngoại hôn, xen việc người khác thích thị phi, tiểu nhân không dứt, toàn khẩu thiệt. Cát thì có thể nghiệp kinh thương, hung thì quỷ tà thường tác quái. Tin tưởng quỷ thần, bàn mê tín, văn hoá thần bí hứng thú nhiều. Miệng đắng lưỡi khô, dễ hôn mê, gan mật, táo bón, não, thần kinh.

Mão Dậu mặt trời mọc lại lặn, kim mộc tương khắc lại tương xung. Đào Hoa, Hàm Trì có trong mệnh, tình ngoài giá thú lại tranh giành. Ưu sầu, cực khổ, không lợi tài, bội ước thất tín không chân tình. Nghề nghiệp lâu dài cũng thường đổi, chỗ ở địa phương thường biến động. Gặp việc thiếu cân nhắc chu đáo, cả đời khó được chữ an bình. Bệnh ở gan mật và phế phủ, trị liệu gân cốt miễn đớn đau.

Thìn mặt trời, Tuất mặt trời lặn, Thiên La Địa Võng hai thổ xung. Cát thì mệnh chủ thanh danh có, hung thì hư nguỵ không chân tình. Tình cảm vợ chồng không hoà hợp, bôn ba lao lực cả một đời. Nam gặp có con nhiều là gái, nữ gặp dễ mắc bệnh phụ khoa. Tranh cường hiếu thắng phạm khẩu thiệt, khắc vợ tổn con mệnh không dài. Mắc bệnh bàng quang và da dẻ, ớn lạnh, ruột non, đầu hay đau.

Tỵ - Hợi Mã tinh với Văn tinh, địa sản ngấm ngầm (?) xung lại khắc. Cát thì mệnh chủ tài hơn người, hung thì áp chế không an toàn. Thích lo bao đồng lại nói nhiều, giúp người làm vui hiến chân tình. Cho đi rất nhiều hồi báo ít, thuận đi nghịch đến thường xuất hành. Công việc nhà cửa thường thay đổi, nhật thời phùng xung nữ đa tình. Bệnh tại gan thận, hay thổ tả, thời khắc phòng ngừa bệnh tiểu đường.

5.10. Tượng ý cung vị địa chi lục xung

1. Niên là trưởng bối, lãnh đạo, xung là động, động mà đi, ra cửa rời nhà, là kỵ thì trưởng bối không lợi hoặc như lãnh đạo thay đổi, hoặc như không thuận lợi. Là hỷ thì phần lớn chủ có để đặc được trưởng bối giúp đỡ, hoặc như lãnh đạo đề bạt.

2. Nguyệt là cung vị phụ mẫu, cũng là cung anh chị em, cũng chủ hoàn cảnh công tác, đồng nghiệp. Xung là động, phần lớn chủ biến động, điểu chỉnh về cha mẹ, anh chị em, hoàn cảnh công tác, cũng chủ hoàn cảnh bên trong thân thể điều chỉnh biến động. Là hỷ, phần lớn chủ vì hoàn cảnh biến động mà có lợi, hoàn cảnh như ý. Là kỵ, phần lớn biến động nhân sự, đối với bản thân lại càng bất lợi, hoặc như bị điều đến cương vị mà bản thân không ưa thích. Kết hợp phân tích thập thần, sẽ biết được phải hay không anh chị em, hoặc cha mẹ, hoặc hoàn cảnh bản thân biến động.

3. Nhật chi phần nhiều là hoàn cảnh công tác của người phối ngẫu có biến động, hoặc chủ tình cảm không hợp, hoặc là công việc kiêm nhiệm hai nơi. Là hỷ phần lớn chủ hoàn cảnh công tác của vợ hoặc người yêu có chuyển biến tốt. Là kỵ, cũng chủ thân thể không tốt, còn là bởi vì nhật chi còn đại biểu thân thể bản thân, nên cũng chủ vợ chồng hoặc tình cảm không thuận.

4. Thời thần là môn hộ, là tin tức về con cái. Thời thần gặp xung, phần lớn chủ nơi ở của bản thân có biến động, hoặc đi xa, cũng có thể chỉ con cái xa nhà, làm việc lập nghiệp, cũng chủ con cái không lợi, dễ bị lưu thai, yểu tử. Như thời thần là Đào Hoa, là “tường ngoại Đào Hoa”, chủ dễ xuất hiện nhân tình.

5.11. Hình thức biểu thị của địa chi lục xung

1. Xung động. Một xung một là xung động, xung trong nội bộ mệnh cục cũng là xung động, mà đại vận đến xung cũng là xung động, lưu niên đến xung cũng là xung động. Hàm ý của xung động là biến động, động mà thay đổi, cần kết hợp cung vị để phân tích.

2. Xung phá. Xung phá có hàm ý là hai xung một, ba xung một, lực lượng đối lập, xung phần nhiều chủ ứng với tai ương, bình thường không luận hỷ kỵ, mà là do mất đi đạo bình hành của ngũ hành. Xung phá, là ngũ hành bị phá thì ứng với tai ương, cần kết hợp biểu thị của thập thần và cung vị để phân tích.

3. Xung khử là luận thuận thế trong mệnh cục, hoặc là cách cục chuyên vượng. Như Giáp Dần – Đinh Mão – Bính Ngọ - Bính Thân, Thân kim không được sinh cũng không được trợ giúp, trong mệnh cục thái nhược thì thuận thế, gặp đại vận Bính Dần xuất hiện, Dần Thân phùng xung là xung khử thân kim phản mà thành hỷ. Thân kim là Tài, đa phần chủ phát tài, cũng chủ tài vận của cha tốt, tại thời trụ cũng chủ thay đổi địa chỉ nơi ở hoặc hoàn cảnh có chuyển biến tốt đẹp. cũng cần phải xem ngũ hành bị khử đi là Thập Thần gì, thì sẽ ứng với chuyển biến tốt về phương diện đó, sau đó cũng phải kết hợp cung vị để phân tích.

4. Xung khai là chỉ Thìn Tuất Sửu Mùi bốn mộ khố gặp xung, vượng mà hỷ nhập khố thu tàng, xung khai là kỵ; suy mà nhập khố là hung. Như trong Sửu có Tân kim, mệnh cục một mảnh hoả hải, gặp Mùi táo thổ xung khai Sửu thổ, xung khai khố, hoả vượng khắc kim, là tai ương. Ngũ hành thái nhược, hỷ tàng trong khố không thấu can. Giống hai bên đánh trận, mưa tên đạn lạc, chỉ cần thò đầu lên là xong đời. Cho nên hỷ tàng tại mộ khố, kết hợp Thập Thần, cung vì để luận về tai ương. Như thiên can thấu xuất, xung khai mộ khố là hỷ dụng, kết hợp thập thần, mộ khố xem ứng kì.
5.12. Ứng kì địa chi lục xung

1. Xung phá là ứng kì. Tình huống nào là xung phá, chính là thấy hai xung một, ba xung một là xung phá. Xung phá là ứng kì của tai ương, bên nhược đại biểu tai hoạ, kết hợp Thập Thần, cung vị để phân tích.

2. Gặp hợp là ứng kì, như TÝ Ngọ lục xung, Ngọ hoả đương lệnh, bản thân Tý thuỷ muốn khắc Ngọ hoả, lại xuất hiện Sửu thổ đến giải hợp (?), như hai người đang đánh nhau, có người thứ ba đến nói các ông không nên đánh nữa, nhưng Sửu thổ lại khắc Tý thuỷ, giống như Sửu đáng lẽ đến giúp nhưng cuối cùng lại khắc Tý thuỷ, thành ra Sửu theo phe Ngọ, Tý thuỷ hai đầu thọ địch mà thụ thương thì ứng tai hoạ. Cần xem Tý thuỷ là Thập Thần gì, kết hợp cung vị phân tích xem tai hoạ về mặt nào.

3. Địa chi gặp xung, đến khi thiên can thấu xuất là ứng kì. Địa chi là tĩnh, là phương hướng phát triển của sự việc, nhưng lại không có hành động thực tế. Thiên can thấu xuất, xem ứng kì, cần kết hợp là hỷ là kỵ để phân tích cát hung.

4. Gặp xung khử là ứng kì. Xem ngũ hành nào xung khử, niên là trưởng bối, lãnh đạo, quý nhân. Nguyệt là hoàn cảnh công tác, cha mẹ, anh chị em. Nhật chi là vợ chồng. Thời trụ là môn hộ, địa chỉ, con cái. Kết hợp Thập thần xem ứng kì.

5.13. Lực lượng vượng nhược của địa chi lục xung

1. Tý Ngọ tương xung, thuỷ khắc Ngọ hoả bại. Dần Thân tương xung, kim khắc mộc bại. Tỵ Hợi tương xung, thuỷ khắc hoả bại. Thìn Tuất, Sửu Mùi, thổ vượng tàng can ngũ hành bị tổn.

2. Xem nguyệt lệnh. Nguyệt lệnh là vượng, tuy là kim khắc mộc, nhưng tại nguyệt lệnh thì không bại. Như tháng Dần, Dần Thân xung, kim tuy khắc mộc, nhưng Thân kim tại tháng Dần là tử tuyệt địa, bị tổn càng nhiều.

3. Được nguyệt lệnh bang trợ là vượng tướng, tuy thuỷ khắc hoả, nhưng giả sử tại tháng Ngọ, Tỵ Hợi tương xung, Tỵ hoả được Ngọ hoả trợ giúp, phản mà tổn Hợi thuỷ.

4. Ngũ hành nào vượng tướng lại có số lượng nhiều thì thắng, như địa chi là Mão Thân Dần Hợi, địa chi thuỷ sinh mộc, kim không có nguồn, Dần Thân tương xung, Thân kim tại nguyệt lệnh chịu thương tổn.

5. Tý Ngọ tương xung, vào mùa xuân, mùa hạ, Ngọ tháng Tý. Vào mùa thu, mùa đông, Tý thắng Ngọ. Mệnh cục Dần Mão Tỵ Ngọ Mùi Tuất nhiều, tất Ngọ vượng Tý suy. Mệnh cục Thân Dậu Hợi Tý Sửu nhiều, Tý vượng Ngọ suy.

6. Mão Dậu tương xuân, vào mùa xuân, mùa đông, Mão thắng Dậu. Vào mùa thu, Dậu tháng Mão. Vào mùa hạ, Mão Dậu đều tổn thương. Mệnh cục Dần Mão Tỵ Ngọ Hợi Tý nhiều, Mão vượng Dậu suy. Mệnh cục Thân Dậu Thìn Tuất Sửu Mùi nhiều, Dậu vượng Mão suy.

7. Dần Thân tương xung, vào mùa xuân, mùa đông, Dần tháng Thân. Vào mùa thu, Thân thắng Dần, vào mùa hạ, Dần Thân thảy đều tổn thương. Mệnh cục Dần Mão Tỵ Ngọ Hợi Tý nhiều, Dần vượng Thân suy. Mệnh cục Thân Dậu Thìn Tuất Sửu Mùi nhiều, Thân vượng Dần suy.

8. Tỵ Hợi tương xung, vào mùa xuân, mùa hạ, Tỵ thắng Hợi. Vào mùa thu, mùa đông, Hợi thắng Tỵ. Mệnh cục Dần Mão NGọ Mùi Tuất nhiều, Tỵ vượng Hợi suy. Mệnh cục Thân Dậu Tý Sửu Thìn nhiều, Hợi vượng Tỵ suy.

9. Thìn Tuất Sửu Mùi tượng xung, cần xem nhân nguyên tàng trong địa chi có thấu xuất hay không, địa chi nào có thiên can thấu xuất thì vượng. Nếu như hai địa chi tương xung đều có can thấu xuất, thì cái nào đắc nguyệt lệnh là vượng, cái còn lại là suy. Nếu như cả hai địa chi đều không thấu can, thì thổ vượng, những hành khác tổn thương. Thìn Tuất tương xung còn muốn xem vị trí mà luận kết quả. Như Tuất tại niên, Thìn tại Nguyệt, Thìn Tuất tương xung, căn khí của thổ không chắc chắn. Như Tuất thổ là táo thổ, nhưng Thìn thuỷ là thấp thổ, nhưng chỉ có một chữ táo thổ mà lại có nhiều thấp thổ, thì phản mà chủ thổ dễ bị quấy thành ẩm ướt, cũng chủ can tàng thuỷ mộc trong nguyệt lệnh Thìn, nếu thuỷ mộc thấu can, thì thuỷ phát động mà vượng. Còn như Thìn tại niên, Tuất tại nguyệt, tất Thìn Tuất tương xung, thổ vượng sinh kim, gặp kim thấu can phát động thì vượng.

10. Thìn Tuất Sửu Mùi là tứ khố, vượng mà nhập khố, suy mà nhập khố. Như Kỷ Mùi, Ất Sửu, Mậu Thìn, Canh Thân, Sửu Mùi tương xung, tất Ất mộc nhập Mùi khố, hoặc như Giáp Thìn, Giáp Tuất, Giáp Dần, Giáp Tý, Thìn Tuất tương xung, Giáp mộc thiên can Tỷ Kiếp trợ giúp, địa chi có căn, Giáp mộc nhập khố.

(Hết chương 5)

Thanked by 3 Members:

#9 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 15/10/2020 - 14:53

CHƯƠNG 6: THẬP THẦN TIN TỨC THỦ TƯỢNG

6.1. Bảng thiên can thập thần

6.2. Bảng chi tàng thiên can thập thần

[Hai phần này quá quen thuộc nên không dịch]

6.3. Thất Sát tượng ý thông giải

1. Khái niệm Thất Sát: Là Thiên Quan, như Giáp thấy Canh, Ất thấy Tân chẳng hạn, giống như hai nam không ở cùng một xứ, hai nữ không ở cùng một nhà, không thể thành vợ chồng, cho nên gọi là Thiên Quan. Lấy cách bảy vị trí mà tương khắc chiến nhau, cho nên gọi là Thất Sát, giống như tiểu nhân, tính hung bạo, không biết kiêng sợ, như không bị lễ pháp khống chế, không khuyên không đe, tất tổn chủ nhân. Nếu có chế, gọi là Thiên Quan, vô chế gọi là Thất Sát. Tức Giáp thấy Canh, Ất thấy Tân, Bính thấy Nhâm, Đinh thấy Quý, Mậu thấy Giáp, Kỷ thấy Ất, Canh thấy Bính, Tân thấy Đinh, Nhâm thấy Mậu, Quý thấy Kỷ.

2. Thất Sát tổng luận: (i) Thân cường Sát thiển, lấy Sát làm quyền. Nhật can thái cường, trong bát tự Tỷ Kiếp nhiều, Tài tinh ít, Quan tinh vô lực hoặc không có, lại không có Thương Quan, Thực Thần tiết khí, chính là dùng Thất Sát bổ cho cái không đủ của Quan tinh để chế Tỷ Kiếp. Tỷ Kiếp một khi bị chế, tất Tài tinh được bình an vậy. Loại Thất Sát này xem như Quyền tinh, trong mệnh mà gặp tất nhiên phú quý cao cao. (ii) Mệnh có Sát khinh hỷ Tài sinh cho. Nhật chủ thái cường, trong bát tự Tỷ Kiếp trọng, Thất Sát khinh, mà Thất Sát đã khinh thì khó thể nào có công chế phục Tỷ Kiếp, tất cần Tài tinh sinh Thất Sát vượng, Thất Sát được phù trợ thêm cường mới có thể có công chế Tỷ Kiếp. (iii) Sát trọng thân khinh, chế thì có ích. Nghĩa ở đây tương tự như phía trước có đề cập “Quan mà trọng phạm, chỉ thích hợp chế phục”. Nhật chủ nhược, Thất Sát nhiều, Tỷ Kiếp ít, không có Ấn tinh hoá Sát, bất đắc dĩ mà lấy Thương Quan, Thực Thần mãnh chế Thất Sát, bảo hộ tính mệnh. Trong bát tự đã có chế phục, đại vận, lưu niên cũng thích hợp hành đến đất vượng hương của yếu tố chế phục (hành Thương Thực vượng địa), cũng có thể nói là cát. (iv) Thân nhược có Ấn, Sát vượng cũng không sao. Nhật chủ nhược, Thất Sát vượng, duy bởi vì có Ấn tinh kề sát Nhật can, hoá Sát sinh thân, dù cho Sát vượng cũng không phải sợ, kỵ Tài tinh thương Ấn. Tuế vận thích hợp hành Ấn thụ Tỷ Kiếp địa. (v) Nhật chủ vô căn, bỏ mệnh mà tòng Sát. Nhật chủ cực nhược, trong bát tự không có Tỷ Kiếp Ấn Tinh, lại không có Thương Thực chế Sát, mà chỉ thấy mãn bàn Quan Sát vây công Nhật chủ, đây là cách khí mệnh tòng Sát, phản mà thích hợp lấy Quan Sát Tài tinh làm dụng. Tuế vận cần hành đến nơi Quan Sát Tài vượng mới cát. Kỵ vận Tỷ Kiếp Ấn, kỵ vận Thương Quan, Thực Thần, đều chủ hung. “Khí mệnh tòng Sát, tất yếu hội Sát”, điều kiện thành cách là nhật can thất thời, nguyệt chi là Quan Sát, lại có tam hợp Quan Sát thành cục hoặc hội Quan Sát thành cục, tứ trụ thiên can toàn là Quan Sát, Tài tinh, không có một điểm Tỷ Kiên, Kiếp Tài hoặc Ấn tinh, thì mới có thể thành cách. Cách cục này chỉ có thể lấy Tài tinh và Quan Sát làm dụng, kỵ Tỷ Kiếp Ấn tinh. Như Nhật chủ kiện vượng, có Ấn thụ trợ hoá, gặp Sát thấy Tài, như thân cường Sát nhược, có Tài tinh tất cát. Thân nhược Sát cường, có Tài là dẫn quỷ trộm khí, phi bần tắc yểu; có Thực Thần thấu chế, chỉ cần vừa chế phục Sát, thì là quý mệnh. Không có Sát cũng không có Nhận, gặp Sát thấy Nhận cũng vậy. Như phía trên nói chế hợp sinh hoá, cũng cần không chế hợp sinh hoá thái hoá mà thành bất cập, chính là mượn thế lực tiểu nhân, hộ vệ quân tử mà thành uy quyền, cũng là mệnh đại quyền đại quý. Tính cách thông minh, kỵ Nhật chủ suy nhược, Thất Sát lại trọng phùng, tam hình, lục hại, Kiếp, Vong tương chiến, Khôi Canh tương xung, hung không thể nói hết. Như Thất Sát chỉ có một, mà chế phục có hai, ba chỗ, hỷ hành Sát vượng địa. Ví như lại gặp vận chế phục, tất có tài mà vô dụng, dù mãnh như hổ sói cũng không có đất dụng võ vậy. Lại không thể chỉ nói chế phục, mà còn phải có khinh trọng hợp lý. Cho nên thường nói: nguyên cục có chế phục, Sát xuất là phúc; nguyên cục không có chế phục, Sát xuất là hoạ.

Giáp thấy Canh, bại mà điêu linh, cành lá rễ khô. Ất gặp Tân, bị thương mà tổn hại, thân rễ mầm hư hao. Bính hoả chói chang gặp Nhâm, như hắc diễm vô quang. Đinh hoả tươi hồng gặp Quý, quang huy tự diệt. Mậu lâm Giáp vị, cần phòng phúc chuyển thành hoạ. Kỷ toạ đất Ất, tất nhiên là lộc nguyên có tổn. Canh gặp Bính chiến, thế tự lâm nguy. Tân bị Đinh thương, khắc phạt là hại. Nhâm gặp Mậu thổ, không thuận khó thông. Quý đến đất Kỷ, bôn ba khó an. Can lộc sinh vượng, có thể phù trợ, duy hỷ Nhẫn đến, tự mình hợp chế.

Tổ hợp tốt là Sát Ấn tương sinh, Thực Thần chế Sát, Kiếp Tài hợp Sát, tòng Sát (Thiên Quan) cách. Thân vượng, Ấn trọng, Tỷ Kiên, Dương Nhẫn nhiều đa số hỷ Thiên Quan (Thất Sát). Thiên Quan cũng là một vị Tướng Tinh. Nếu như thân nhược bị Thiên Quan (Thất Sát) khắc phạt, thiên Quan (Thất Sát) tất biến thành Quỷ, là thần sát sát thân. Dương là dương Quỷ, âm là âm Quỷ, trong chi có Thiên Quan (Thất Sát) gọi là âm Quỷ. Nếu như trong nguyên cục bát tự có nhiều hơn hai chữ Chính Quan, Chính Quan liền cần luận như Thất Sát. Trong mệnh cục có Sát Ấn cùng trụ hoặc kề sát tương sinh, khá dễ hiển đạt. Những người có cách cục này đa số là uy cao quyền trọng, văn võ song toàn, dễ được cấp trên trọng dụng, thưởng thức. Thiên Quan (Thất Sát) đối với lĩnh vực vận động thể chất hoặc văn học có thiên phú đặc biệt. Nếu như có thêm Ấn tinh, càng có thể trở thành học giả nổi tiếng. Nhất là mệnh cục dụng Ấn hoá Sát thì càng dễ đạt được quyền quý. Như mệnh cục chỉ có Thiên Quan (Thất Sát) mà không có Ấn, tất quyết đoán không đủ, tính cách đa sầu đa cảm. Thân nhược mà Ấn khinh, thì sẽ biến thành người nhu nhược khiếp đảm. Trong mệnh cục nếu Thiên Quan (Thất Sát) là kỵ thần, lại không thấy Ấn tinh hoá Sát, khi gặp Tài tinh đến sinh Sát, tất hung. Hoặc đại vận, lưu niên gặp Thiên Quan (Thất Sát, hoặc khắc tiết giao gia, thì đại hung. Như gặp Thực Thần thấu can đến chế Thiên Quan (Thất Sát), thì hung hiểm giảm xuống. Nhật chủ thân nhược, Sát vượng mà cách cục được Ấn hoá Sát, thiên về văn hơn võ. Người có Thất Sát và Chính Ấn đồng trụ, thích hợp sáng tác văn chương, thương nghiệp hoặc hành chính quản lí. Thiên Quan (Thất Sát) như cùng trụ với Thiên Ấn, hoặc cùng thấu can, tất người này dễ bôn ba bên ngoài.

Thực Thần chế Thiên Quan (Thất Sát), trên cơ bản là trực tiếp “áp chế”. Cho nên người có cách cục Thực Thần chế Thiên Quan (Thất Sát) đại đa số đều là tính tình thẳng thắn, không có tâm kế gì, lòng dạ không hiểm sâu, là người có thể tin tưởng được, mà hiệu suất làm việc, chấp hành mệnh lệnh lại tương đối cao, thích hợp làm một quân nhân phổ thông, võ tướng. Về phần khuyết điểm, người này khá cố chập, tự cho là đúng, sử xự không được linh động biến hoá. Thực Thần và Thiên Quan (Thất Sát) là tổ hợp đồng tính, lực chế phục rất lớn, bởi vậy giữa hai bên tương đối bất hoà. Nếu như trong cục Thực Thần chế Sát phần lớn là dương trụ, thì dễ phát lộc về đường võ. Ngược lại dễ thành thế lực tiểu nhân, làm việc sẽ không từ thủ đoạn, tâm tính tàn bạo, tương đối dễ dàng trở thành lưu manh ác bá.

Thương Quan chế Thiên Quan (Thất Sát), cũng có thể hợp Thiên Quan (Thất Sát). Thương Quan tượng trưng trí tuệ, thông minh, và tài hoa. Nhưng Thương Quan cũng có tâm tính tiểu nhân, giỏi tâm kế, biết tính toán vẹn toàn. Thương Quan giỏi về tính toán mưu đồ, mà Thiên Quan (Thất Sát) lại giỏi xông pha chiến đấu, vì vậy tổ hợp Thương Quan và Thiên Quan (Thất Sát) chung với nhau có thể phát huy lực lượng rất lớn. Thương Quan và Thiên Quan (Thất Sát), là tổ hợp dị tính, có ưu thế hơn so với tổ hợp Thực Thần chế Sát. Thương Quan chế Thiên Quan (Thất Sát), chỉ cần trong cách cục không có Tài tinh thì có thể tính là quý cách. Người có cách cục Thương Quan chế Sát có năng lực chấp hành, tuân thủ mệnh lệnh không giỏi như Thực Thần chế Sát, tuy nhiên tín linh hoạt khá cao, biết mưu kế, hữu dũng hữu mưu.

3. Kết luận về Thất sát: Thân cường Sát thiển, lấy Sát làm quyền. Sát trọng thân khinh, cả đời có tổn. Thất Sát nhưng gặp Tài trợ, Sát càng hung. Thất Sát gặp Tài sinh mà càng vượng. Nhẫn Sát đều hiện, uy chấn càn khôn. Sát khôn rời Ấn, Ấn không rời Sát, Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt. Sát Ấn song toàn, văn võ toàn tài. Thất Sát gặp chỗ trường sinh, nữ mệnh có chồng quý. Như Canh lấy Bính làm Sát, mà được Bính Dần, kỵ Quan tinh hỗn. Sát tinh tử tôn vị, Thất Sát ở nơi trụ giờ vô chế, tất có con cái hỗn . Thất Sát có chế thì nhiều con. Thời thương Thiên Quan có chế, có quý tử nhưng muộn. Thiên Quan Thất Sát, thế áp Tam Công, thích tửu sắc và tranh đấu, tính hiên ngang, giúp đỡ kẻ yếu, đấu tranh kẻ mạnh, tính tình như hổ, cấp táo như gió. Sát Quan hỗn tạp, có khử Quan lưu Sát, cũng có khử Sát lưu Quan. Khử Sát lưu Quan thì luận quý, khử Quan lưu Sát chủ uy quyền. Như thời trụ gặp Thất Sát, thì chưa hẳn là hung; nguyệt chế can cường, thì Sát đó phản lại luận là quyền ấn. Nhật thượng Thiên Quan nhất vị cường, nhật thần tự vượng vô cùng tốt. Niên can Thất Sát chưa hẳn hung, có chế hợp thì luận quyền lực, công tích lớn nhất. Như Bính lấy Nhâm làm Sát, nguyệt can là đinh, Đinh Nhâm hợp Sát luận là cát. Thân nhược, Quan Sát hỗn, đa phần yểu bần. Khí mệnh tòng Sát luận cương nhu. Nhật can dương không thể tòng Sát, nhật can âm có thể luận tòng Sát cách. Sát khinh hỷ Tài sinh. Hợp Quan tinh không phải quý, hợp Thất Sát không phải hung. Như Giáp lấy Tân làm Quan, gặp Bính hợp không cát lợi, lại lấy Canh làm Sát, gặp Ất hợp thì luận cát.

Khí mệnh tòng Sát luận cương nhu. Nhật can dương không thể tòng Sát, nhật can Âm mới có thể luận tòng Sát cách. Sát khinh hỷ Tài sinh. Hợp Quan tinh không phải Quý, hợp Sát tinh không luận hung. Như Giáp lấy Tân làm Quan ngộ Bính hợp không cát; lấy Canh làm Sát gặp Ất hợp luận hoá cát.

4. Đặc tính Thất Sát: Thất Sát đắc thế có thể hô phong hoán vũ, một tay quyền lực, cường bạo cương mãnh, càng có tinh thần sáng tạo rất mạnh, không sợ gian khó, dũng cảm tiến tới, chức vụ đa số võ chức, ngành nghề phần lớn là liên quan đến võ thuật. Mặt trái của nó cũng không nên dễ dàng bỏ qua, có người gọi Thất Sát là tiểu nhân cũng rất đúng. Sở dĩ gọi là tiểu nhân vì không nói lễ nghĩa, không hiểu kỉ cương, thô bạo khinh suất, hành động hồ đồ, tác phong không cố kỵ, chỉ có cái dũng bề ngoài, mà không có cái trí bên trong. Đối với loại người này cần phải biết cách điều khiển, lấy tình cảm mà khuyên, lấy lý mà nói cho hiểu, lấy pháp mà bày ra trước mắt, giúp cho họ phân rõ thị phi, cải tà qui chính, bỏ cái âm u mà theo cái sáng rõ, phát huy sở trường, mà có thể vì ta làm việc, bảo hộ người quân tử. “Sát” chính là tàn hại, phụ nghĩa tuyệt tình, chuyên môn chính khắc Nhật chủ, cho nên muốn phòng bị nó, muốn áp chế nó, không để nó làm bị thương Nhật chủ. Thất Sát nhất định cần chế phục. Thực Thần chế Sát là đắc lực nhất. Thất Sát mà đắc vượng khí từ nguyệt lệnh thì sẽ vượng, còn gọi là Chân Thất Sát; còn trên trụ khác xuất hiện Thất Sát gọi là Hư Thất Sát. Chân trọng (nặng) mà Hư khinh (nhẹ), lại còn phải xem là Thất Sát thấu xuất tại thiên can hay phục tàng tại địa chi, tại thiên can dễ dàng gây chuyện thị phi, còn phục tàng tại địa chi cũng giống như người bị giam lỏng trong nhà, cần phải an phận thủ thường. Cần phải xem giữa Thất Sát và Nhật chủ ai trọng ai khinh. Thân cường Sát nhược ngoại trừ chủ mọi sự không thuận, còn sinh ra tính ỷ lại; nhưng nếu có Tài sinh Sát, gan lớn mà tính tình thô bạo. Thân nhược Sát cường thì kỵ Tài, nếu không thì không bần tất yểu; lúc này cần Ấn thụ hoá giải, Sát sinh Ấn, Ấn sinh thân, Thụ hoà Sát chế trở thành cát mệnh.

Thiên Quan đại biểu mưu lược và quyền uy, phản nghịch và thế lực, cực đoan và mạo hiểm. Thiên Quan có ý chí chiến đấu, trực giác ưu dị, lại quyết đoán quả đoán, hành động dũng mãnh, không sợ gian nan, có lòng hiệp nghĩa, thấy chuyện bất bình rút đao tương trợ. Tuy nhiên cũng có mặt ương bướng cố chấp, hung ác vong ân, không biết giới hạn, hấp tấp như lửa, chuyên quyền độc đoán, liều lĩnh không đáng, luôn xung phong ở hàng đầu. Làm việc thường không biết suy nghĩ sâu xa, vội vàng xao động, cho nên thường gặp cảnh khó khăn mà không ai giúp, sau đó lại hối hận đã muộn.

Như có thể điều chỉnh tính ngang ngược dũng mãnh này cho thích hợp, thì có thể có sức sống hơn người, giàu ý chí tiến thủ, có trực giác và cơ trí phong phú, tinh hoa phát tiết, có thể tạo ra sự nghiệp vĩ đại, quyền uy hiển hách, nổi tiếng khắp nơi. Nếu có chế hoá thích hợp thì có thể biểu hiện ra mặt ưu điểm. Thiên Quan có thiên phú về mặt chính trị và dư luận, trong thời loạn càng có thiên phú đặc biệt. Nhưng nếu thân quá nhược thì không thể đảm nhiệm Thất Sát hoặc bị chế thái quá, thì không thể phát huy những ưu điểm đó, mà ngược lại còn có biểu hiện e sợ, nhu nhược, thâm trầm, vô năng.

5. Nhân tượng của Thất Sát: một, Thất Sát đại biểu con trai, Chính Quan và Thất Sát đại biểu cho con cái, lấy Sát tinh là con trai, Quan tinh là con gái, là bởi vì sau khi có con cái, chính mình liền muốn chịu trách nhiệm nuôi con khôn lớn, là gánh nặng áp chế bản thân, đây cũng là một loại hiện tượng khắc chế vô hình. Lấy Thất Sát là con trai của nam mệnh, bởi vì dương thấy dương thành Sát. Hai, Thất Sát đối với nữ mệnh mà nói là người khắc chế Nhật chủ, như vậy cũng có thể biểu thị là người chồng, người tình, hoặc là người chồng lớn hơn nhiều tuổi, người chồng có tính cách táo bạo. Nếu như Nhật chủ không có khả năng đảm nhiệm Thất Sát, nữ mệnh thân bất do kỉ gả cho chồng mà tình cảm không hài hoà, nhưng người nam này có năng lực khống chế Nhật chủ, là một loại khắc chế không hài hoà, làm cho Nhật chủ cảm thấy thân bất do kỉ, không hài hoà trong cuộc sống vợ chồng, hoặc là nói chồng có tính cách tương đối táo bạo, làm cho mệnh chủ cảm thấy bị kiềm chế, mệnh chủ cùng chồng sống chung nhưng không cảm thấy hạnh phúc trong hôn nhân, từ đó mà mang tâm lý phản kháng. Ba, Thất Sát đại biểu tiểu nhân, cừu nhân, cấp trên nghiêm khắc, người làm trong ngành tư pháp, cảnh sát, du côn lưu manh, v.v… Còn đại biểu những người lạnh lùng áp chế và đả kích Nhật chủ trong cuộc sống. Thất Sát và Chính Quan đều là loại ngũ hành khắc chế Nhật chủ, nhưng Thất Sát so với Chính Quan càng chuyên quyền hung mãnh. Giả như trong mệnh cục có Nhật chủ cường vượng lấy Thất Sát làm dụng thần, mệnh chủ nếu không phải võ quan thì cũng là đại ca giang hồ hắc đạo.

Sửa bởi ThienKhanh: 15/10/2020 - 14:56


#10 Passado

    Hội viên mới

  • Hội Viên mới
  • 35 Bài viết:
  • 3 thanks

Gửi vào 03/11/2020 - 11:37

Đọc xong phần đầu thấy có biểu hiện của thân quá nhược lẫn quá vượng. Xem phần đắc cách lại chả được gì. Có lẽ không có duyên rồi. Cảm ơn anh đã bỏ công sức dịch bài !

Thanked by 1 Member:

#11 khanhnv

    Hội viên mới

  • Hội Viên mới
  • 1 Bài viết:
  • 1 thanks

Gửi vào 19/11/2020 - 17:41

Cảm ơn bác ThienKhanh nhiều, học được nhiều kiến thức từ các bài bác đăng, trình độ mới học của mình chưa đủ chia sẻ kiến thức nên chỉ có thể cảm ơn, động viên bác thôi.

Thanked by 1 Member:

#12 lanka

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 170 Bài viết:
  • 233 thanks

Gửi vào 20/11/2020 - 14:41

Đúng là nhờ các bài dịch công phu của ThienKhanh nên học được nhiều chuyện sáng lạ, không vượng suy, không cách cục làm gì cho nhiều.
Tuy nhiên, phải chăng khuynh hướng Manh phái đã nhập tâm các bác rồi?
Theo kinh nghiệm, ThienKhanh nhận thấy những hình, tượng qua can, chi, tổ hợp..v.v... theo Manh Phái áp dụng được chính xác và thực tiễn hơn các pp khác?

Thanked by 1 Member:

#13 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1257 Bài viết:
  • 1996 thanks

Gửi vào 20/11/2020 - 16:57

@Passado, @Khanhnv: Cám ơn bạn đã theo dõi tài liệu.

@lanka + Passado: Tử Bình xem mệnh có 3 tầng là lý pháp, tượng pháp, và kĩ pháp. Tài liệu này là chuyên về tượng pháp. Về mặt tượng (tượng pháp), thường các trường phái thống nhất với nhau ở phần lớn các loại tượng và loại tượng vạn vật, đặc biệt là tượng loại thập thần. Dĩ nhiên, mỗi trường phái cũng sẽ có những loại tượng đặc hữu của nó. Ví dụ như Manh Phái có phân chia hoạt mộc, tử mộc, xuyên đảo, khách chủ chẳng hạn. Vượng suy lại có lưỡng thần thành tượng, tam giả vi toàn, thiên tái địa phúc, tình hòa khí hiệp, thập thần du hành chẳng hạn. Cách Cục Phái thì có thương quan bội ấn chẳng hạn. Các trường phái khác nhau chủ yếu ở phần lý pháp và kĩ pháp, phần tượng pháp phần lớn là thống nhất, nhưng như trước đã giải thích, mỗi trường phái ngoài phần "thống nhất" ra, còn có hệ thống tượng loại đặc hữu của riêng mình. Tài liệu này là về tượng pháp thuần túy, nên (1) trường phái nào thì cũng có thể tham khảo và nghiệm lý thử, và (2) chỉ dựa vào một mình tài liệu này thì không xem bói được, vì nó thiếu mất phần lý pháp và kĩ pháp.

Và do tài liệu này là về tượng pháp, nó không có bao gồm phần đắc cách, vốn là thuộc lý pháp.

Phương pháp nào thì cũng có thể xem mệnh, nếu không có khả năng xem mệnh, chỉ sợ nó không vượt qua mấy trăm năm mà tồn tại đến bây giờ. Vấn đề là người học có học từ căn bản hay không, có căn cơ hay không, hay chỉ học ngọn mà không học gốc.

Thanked by 1 Member:





Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |