Gửi vào 19/05/2026 - 16:34
Thân thế Trương Gia Bình và ảnh hưởng đến VHDN FPT
Hôm nay 19/5 là ngày sinh Chủ tịch H.C.M và cũng là sinh nhật lần thứ 70 của anh Trương Gia Bình. Ở các cấp độ khác nhau, cả hai đều là những nhà lãnh đạo có nhiều điều để người đời học hỏi, nhất là các doanh nhân.
Về H.C.M thì đã có rất nhiều sách, đáng kể trong số đó là cuốn Chuyện với Thanh mới xuất bản, gồm nhiều bài học thực tế, gần gũi mà bất ngờ. Về TGB và Tập đoàn FPT thì có FPT Bí lục, là một bức tranh chân thực và cụ thể về ảnh hưởng của nhà sáng lập đến văn hóa doanh nghiệp.
Năm nay, với mục đích xuất bản FPT Bí lục version tiếng Anh, nhóm tác giả bắt đầu chỉnh lý bổ sung nội dung sách. Nhân ngày sinh anh Bình, xin giới thiệu Chương 1 cuốn sách và mong nhận được góp ý của các quý độc giả.
THÂN THẾ TRƯƠNG GIA BÌNH
* Cuộc khởi nghĩa VN Quang phục Hội
Giờ Hợi ngày sóc, tháng 4 năm Bính thìn, tức 10h tối ngày 2 tháng 5 năm 1916. Trời bắt đầu vào hạ, oi bức. Đêm đen như mực. Bến Thương Bạc mờ ảo im lìm bên dòng sông Hương, chỉ thỉnh thoảng có tiếng cá quẫy. Nơi đây, 32 năm trước, ở chính khúc sông này, các đại thần đã thay mặt vua Tự Đức ký Hòa ước Giáp thân với Pháp, hòa ước cuối cùng của nhà Nguyễn công nhận sự chia cắt đất nước thành ba xứ Bắc, Trung và Nam kỳ…
Một chiếc thuyền nhẹ tiến vào bến. Từ chiếc đèn treo ở mũi thuyền, ánh đèn le lói chiếu lên hai người, dáng vẻ là một trung niên và một tráng niên. Người trung niên khoan thai đi một vòng rồi ngồi xuống, ra dáng quan lại. Người tráng niên thì liên tục đi lại, vẻ bồn chồn.
Một lúc sau, từ phía kinh thành tiến lại một chiếc xe kéo. Người ngồi trên xe là một thiếu niên ăn vận lối thường dân nhưng phong thái không giấu nổi vẻ quý phái: áo ngắn nâu sẫm, quần dài trắng, khăn đen, mang giày hạ, cung cách đĩnh đạc. Hai người kia cũng mặc lối thường dân, dáng điệu cung kính với thiếu niên. Thấy họ tiến lại, hai người trên thuyền thi lễ chào thiếu niên. Tất cả lên thuyền rồi nhanh chóng khởi hành xuôi về phía phá Tam Giang.
Hai người trên thuyền chính là Trần Cao Vân và Thái Phiên, hai chí sỹ yêu nước thuộc Việt Nam Quang Phục Hội, là hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa. Những người lên thuyền là vua Duy Tân, khi ấy 16 tuổi, cùng hai tùy tòng là Thị vệ Tôn Thất Đề và Cai đội Nguyễn Quang Siêu. Theo kế hoạch, họ sẽ đến làng Hà Trung, và chờ đến giờ phát lệnh khởi nghĩa. Súng thần công ở Đại nội sẽ bắn vào 1h sáng, và lửa sẽ được đốt trên đèo Hải Vân để báo hiệu cho toàn miền Trung. Chờ đến 3 giờ sáng không thấy hiệu lệnh, họ biết là cuộc khởi nghĩa đã thất bại ngay khi chưa kịp bắt đầu. Thay đổi kế hoạch, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa nhà vua đi về phía Quảng Nam để kháng chiến lâu dài. Nhưng chỉ ba hôm sau, vào ngày 6/5/1916, họ bị bao vây và bị bắt.
Theo yêu cầu của Pháp, Hội đồng xét xử Nam triều đã khép bốn nhà yêu nước vào tội xử chém. Riêng vua Duy Tân là Hoàng đế và còn nhỏ, nên bị kết tội “vọng thính sàm ngôn, khuynh nguy xã tắc” – nghe theo lời dua nịnh, làm cho xã tắc khuynh nguy và bị án lưu đày. Ngày 17/5, bốn chí sỹ bị xử chém tại bãi An Hòa, Huế.
Xử lý xong nhóm thủ lĩnh, thực dân Pháp tiếp tục truy lùng những chỉ huy khởi nghĩa ở các tỉnh. Ở Quảng Nam, tổng chỉ huy là chí sĩ Phan Thành Tài (1869-1916) người làng Bảo An, Điện Bàn. Biết tin khởi nghĩa thất bại, Phan Thành Tài đã trốn lên Thượng Đức, bến Giằng ở miền Tây Quảng Nam và được đồng bào vùng cao che chở. Lùng sục khắp nơi vẫn không bắt được ông, giặc Pháp và bọn Nam triều bao vây làng Bảo An, đe dọa thân nhân và dân trong làng phải tìm cho được Phan Thành Tài mang về nộp, nếu không sẽ đàn áp cả làng. Để tránh sự chết chóc tang thương cho người dân, Phan Thành Tài đành phải quay về. Ngày 9/6 ông bị xử chém tại chợ Củi, Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam.
Người bạn khởi nghĩa, đồng thời là thông gia của Phan Thành Tài, chí sĩ Trương Ngọc Phiên, vốn được giao phụ trách việc hậu cần, tài chính, quân lương, cũng không tránh khỏi sự truy lùng. Khi Phan Thành Tài trốn lên miền ngược thì Trương Ngọc Phiên ẩn náu ở làng Phú Bông quê nhà. Hay tin Phan Thành Tài bị xử tử, biết không thể lẩn trốn lâu chỉ làm liên lụy đến gia đình và hàng xóm, sau khi căn dặn vợ thay mình nuôi dạy các con, chí sĩ Trương Ngọc Phiên đã uống thuốc độc tự tử.
Vậy là cuộc khởi nghĩa của Quang phục hội và vua Duy Tân đã bị dập tắt hoàn toàn. Nhà vua bị giam hơn 10 ngày ở đồn Mang Cá, và đến ngày 3/11 năm ấy thì cùng vua cha Thành Thái lên tàu đi đày ở đảo Reunion, gần Madagascar ở Ấn độ dương.
Năm 2010, nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng long Hà nội, một con phố ở quận Cầu giấy được mang tên Duy Tân, nối liền một phố khác mang tên Thành Thái. Trên con đường Duy Tân này, nối tiếp cho ước nguyện hưng thịnh đất nước của cha ông, nhiều tập đoàn công nghệ đã tụ hội về đây và cùng nhau phát triển. Vào mùa hè năm 2016, đúng 100 năm kể từ ngày Phan Thành Tài và Trương Ngọc Phiên hy sinh, tập đoàn FPT đã phấn khởi công bố kết quả kinh doanh mỹ mãn của 6 tháng đầu năm, với điểm nhấn là doanh thu từ thị trường Nhật Bản tăng mức kỷ lục 52% so với cùng kỳ năm trước.
Ít ai biết rằng, vị chủ tịch sáng lập FPT - doanh nhân Trương Gia Bình - chính là cháu nội của chí sỹ Trương Ngọc Phiên.
* Làng lụa Phú Bông và phong trào Duy Tân
Trương Ngọc Phiên sinh khoảng năm 1876. Ông thi đỗ tú tài Hán học nên gọi là Tú Phiên, sau này gọi theo tên con đầu là Tú Kinh. Ông là hậu duệ của dòng họ Trương đã từ Nghệ An di cư theo chúa Nguyễn vào Nam, và chọn định cư tại Gò Nổi, Quảng Nam.
Gò Nổi là vùng đất nằm giữa hai nhánh sông Thu Bồn, gồm ba xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong của huyện Điện Bàn, Quảng Nam, giữa đoạn thẳng nối Thánh địa Mỹ Sơn với Hội An. Đây nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, hội tụ tinh hoa. Từ xa xưa trong dân gian đã truyền tụng về phong thủy Gò Nổi: trước mặt hướng đông, có Cù Lao Chàm làm bình phong án ngữ, phía tây có núi Chúa làm hậu tẩm, tả thanh long là sông Vĩnh Điện, hữu bạch hổ là Hòn Bằng – Trà Kiệu.
Đất Gò Nổi màu mỡ, khí hậu hiền hòa, dân cư đông đúc, thời nào cũng phồn thịnh. Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa rất phổ biến khiến nơi này trở thành một khu công kỹ nghệ, tiếng máy dệt ngày đêm. Người Gò Nổi phát triển cả dây chuyền khép kín: trồng bông, xe sợi, kéo chỉ, dệt vải, nhuộm, hồ. Hàng tơ lụa bán đi khắp trong nước, qua đến Nam Vang, Nam Dương, Thượng Hải, Nhật Bản... Sau năm 1954, dân Gò Nổi vào lập nghiệp tại Sài Gòn đã tạo nên những làng dệt nổi tiếng như Ngã Tư Bảy Hiền, Gò Vấp.
Đời sống của người dân Gò Nổi rất khấm khá. Từ trước năm 1945 mà đã có làng không có nhà tranh như làng Phú Bông, đường làng lát gạch, có thư viện, có nhà hộ sinh, có trường học mái ngói đỏ au, ban đêm đèn măng sông thắp sáng choang. Phú Bông chính là làng của ông Tú Kinh, đã đi vào ca dao:
Quảng Nam có lụa Phú Bông,
Có khoai Trà Đoả, có sông Thu Bồn.
Phú Bông dệt lụa, dệt sa,
Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng.
Thập niên đầu của thế kỷ XX, người con ưu tú đất Quảng Nam là Phan Châu Trinh cùng với các đồng chí của mình là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi khắp cả nước để vận động Phong trào Duy tân, với khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, tức là chủ trương bất bạo động, tập trung nâng cao dân trí (mở trường, dạy quốc ngữ), chấn hưng dân khí (bỏ hủ tục, cắt tóc ngắn) và bồi bổ dân sinh (phát triển kinh tế, lập hội buôn).
Ở Quảng Nam, thành tựu lớn nhất của phong trào Duy tân là ở lĩnh vực giáo dục. Chỉ trong thời gian ngắn từ 1904-1908, trên toàn tỉnh đã xuất hiện hơn 40 ngôi trường Duy tân. Đây thực sự là những ngôi trường “dạy người”, bởi vì “học mà không đi thi, học để biết, để mở mang trí tuệ, để có những kiến thức mới”, chứ không phải để làm quan, ăn trên ngồi trốc, mũ cao áo dài.
Trong số các ngôi trường đó, có trường ở làng Phú Bông do ông Tú Kinh lập, có 3 lớp. Giáo viên có Trương Tuấn dạy quốc ngữ, Nguyễn Tăng Côn (còn gọi là Thông Cào) dạy Pháp văn. Trường Phú Bông là trường lớn ở khu vực, chỉ sau hai trường Diên Phong do Phan Thúc Duyện thành lập ở Phong Thử và trường Phú Lâm do Lê Cơ thành lập.
Bên cạnh việc mở trường, ông Tú Kinh còn tích cực tham gia các cuộc đấu tranh của Phong trào Duy tân. Sau cuộc chống sưu thuế ở trung kỳ năm 1908 mà người Quảng Nam gọi là ‘cúp tóc xin xâu’ – cắt tóc ngắn và xin miễn xâu (hay là sưu – là số ngày công mà chính quyền có thể huy động người dân đi làm không lương, hoặc phải đổi bằng tiền), trường bị đóng cửa và ông Tú bị xét xử. Châu bản triều Nguyễn năm đó ghi: “Hồ Cảnh, Nguyễn Bính, Ngô Diệm, Phạm Hữu Đôn, Hoàng Hữu Huyến, Đỗ Tự, Đinh Ích, Trương Ngọc Phiên và Nguyễn Phùng hoặc có hội thương diễn thuyết, chẳng qua là muội thính a tùng, không có tình gì nặng. Vậy 9 tên này, xin nên phóng thích, nhưng chúng đều là người trong danh sắc mà lại a tùng như thế chuốc lấy tiếng nhơ, xin nên đều cách khử phẩm hàm danh sắc, trước tịch chịu sưu thuế.”
Và, như đã kể trên, đến năm 1916, ông Tú tham gia khởi nghĩa. Việc bất thành, Phan Thành Tài - người đồng chí và thông gia bị xử chém. Về phần Trương Ngọc Phiên, mặc dù được người dân che chở bằng cách giấu vào các kho củi dùng để ươm tơ dệt lụa, nhưng vì không muốn người dân bị liên lụy nên ông đề nghị vợ mua thuốc độc để tự tử. Ông thắp hương khóc người thông gia cùng chí hướng đã hy sinh vì nước, rồi cầm tay vợ nói: bọn giặc sẽ không tha cho tôi, tôi đi trước bà đây. Giây lát ông uống độc dược và mấp máy môi: bà thay tôi nuôi dạy bọn trẻ thành tài để phụng sự quốc gia. Bà gật đầu mấy lần, ông mới chịu nhắm mắt…
* Bà Tú Kinh và các con
Là người cùng làng, bà Tú Kinh xuất thân từ dòng họ Nguyễn Tăng – cũng là một dòng họ giàu truyền thống đã nuôi dưỡng nên nhiều trí thức có tiếng trong vùng. Bà Tú tên là Nguyễn Thị Thuyền (có nguồn ghi là Nguyễn Thị Quyên), sinh khoảng năm 1880, là con gái ông ông Nguyễn Tăng Hòe, còn gọi là Cai Hòe. Khi cô và chàng trai Trương Ngọc Phiên nên vợ chồng và sinh con gái đầu lòng, người dân gọi họ theo học vị tú tài của ông và tên người con, nên gọi là ông và bà Tú Kinh.
Bà Tú Kinh là người đảm đang, giỏi kinh doanh, tự dệt lụa và tổ chức cho nhiều người cùng ươm tơ dệt lụa, cung cấp sản phẩm cho các cửa hàng trên thị trấn. Thấy chồng mê mải đọc sách, giao thiệp với nhiều trí thức danh tiếng, bà ân cần chăm sóc ông, động viên, hỗ trợ ông, và gánh vác kinh tế. Trong thời gian ông Tú Kinh mở trường, bà chính là người quản lý hậu cần của trường. Theo lời kể, chính gia đình ông bà đã góp rất nhiều tiền để mua vũ khí cho nghĩa quân. Trong đêm khởi nghĩa Duy Tân thất bại, nghĩa quân rút lui bỏ lại tại chợ Bảo An vô số quân trang, quân dụng, vũ khí, tất cả là tiền của ông bà Tú Kinh đóng góp.
Ông Tú Kinh chết đi lúc bà còn trẻ, một mình lo kinh doanh sản xuất, phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, dệt hàng, dệt tussor... cả làng là một trung tâm công kỹ nghệ sản xuất hàng tơ lụa bán đi khắp trong và ngoài nước. Ở Phú Bông, có nhiều nhà theo nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, nhưng bà là nhà sản xuất lụa tơ tằm nhiều nhất, sớm nhất, có nhiều khung cửi nhất.
Chính bà là người đi tiên phong và đầu tàu phát triển ngành nghề, kỹ nghệ lụa Phú Bông. Để có kén ươm tơ dệt lụa, bà tổ chức trồng dâu nuôi tằm, rồi phát canh cho nông dân trồng mía nấu đường, trồng nếp nấu rượu... tạo hàng trăm, hàng ngàn công ăn việc làm cho dân làng. Nhà nào cũng trở nên khá giả, dân trong làng rất quý trọng bà. Bà ghét tham quan ô lại và luôn thương yêu che chở dân nghèo. Phú Bông là vùng thấp của huyện Điện Bàn xưa, năm nào cũng có lụt lớn, nhân dân bị nhà ngập sâu đều kéo đến ở nhà bà, bà lo cho dân ăn ở, cưu mang cho biết bao gia đình gặp nạn. Tiếng thơm của bà đã đi vào ca dao:
Phú Bông, Hà Mật bao xa
Kìa cổng rộng mở - nhà bà Tú Kinh
Bên cạnh việc kinh doanh, bà Tú Kinh cũng dồn hết yêu thương nuôi bảy người con khôn lớn, hiển đạt. Mỗi khi rảnh rỗi hiếm hoi, bà lại vào thư viện ở nhà chính, ngắm các con học tập say sưa, lúc đó ánh mắt thật tự hào, hạnh phúc. Bà tâm sự với các con: trong mọi xã hội, có hai nghề đem lại phúc đức là dạy người và cứu người, các con nên theo học để vừa phát triển bản thân lại có thể phục vụ dân tình.
Người con trai đầu là Thượng thư Trương Xuân Mai, đậu cử nhân Hán học, làm Tổng đốc Nghệ An, sau ra Hà Nội học Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration) rồi Trường Cao học Đông Dương (Ecole de Hautes Études Indochinois). Sau cách mạng ông về giảng dạy tại Trường Quốc học Huế, và được đánh giá là người biết vận dụng cả tri thức văn hóa dân tộc và tri thức tiến bộ của phương Tây trong giảng dạy nên học trò và đồng nghiệp rất quý trọng. Con trai ông, cháu đích tôn cụ Tú Kinh, là Giáo sư Trương Xuân Đàn - Chủ nhiệm khoa Huyết học, Bệnh viện Trung ương 108.
Người con kế là bác sĩ Trương Đình Ngô, tốt nghiệp Y sĩ Đông Dương, sau du học 2 năm ở Pháp, đỗ bác sĩ về nước mở an dưỡng đường phục vụ công chúng. Sau 1954, ông là giáo sư tại Đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1926 khi Phan Châu Trinh mất, ông là bác sỹ trên Đà lạt đã gửi viếng đôi câu đối:
Đã hai chục mấy năm, lúc diễn thuyết, lúc đầu thư, lời cảnh tỉnh vẫn còn vang mặt đất
Mới năm mươi tư tuổi, kẻ yêu tài, người mến đức, tiếng than van nghe cũng thấu tai trời
Một người con trai là Trương Xuân Nam, sinh năm 1913, là sinh viên Đại học Y Dược Hà Nội 1934 - 1937, sang Pháp học tiếp và tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất (đại học) tại Paris năm 1939, về nước mở Hiệu thuốc tại thị xã Quy Nhơn, Bình Định. Ông tham gia cách mạng từ ngày đầu khởi nghĩa, năm 1947 làm Giám đốc Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương (Bộ Y tế). Ông là Tổng Thư ký Tổng hội Y Dược học Việt Nam, là người mở đường viết nên lịch sử ngành dược Việt Nam với cuốn sách Góp phần xây dựng lịch sử ngành Dược Việt Nam, xuất bản năm 1985.
Một người con trai nữa của ông bà Tú Kinh là Trương Gia Thọ, nổi tiếng là người thông minh và giàu lòng yêu nước. Ông học Quốc học Huế, thân với Phạm Văn Đồng bởi cùng sở thích yêu môn bóng đá, rồi hai người còn học với nhau 2 năm ở Trường Bưởi Hà Nội. Lúc học ở Trường Bưởi, ông là một trong các lãnh đạo những cuộc đấu tranh bãi khóa hăng hái nhất, đòi thực dân Pháp cải cách chính trị, bãi bỏ chế độ cai trị hà khắc. Vì thế ông bị người Pháp đuổi học vĩnh viễn, không cho nhập học lại bất cứ trường nào trên lãnh thổ Đông Dương.
Bấy giờ anh ông là bác sĩ Trương Đình Ngô đang hành nghề ở Đà lạt, bèn viết thư phản kháng tới Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, tại sao các ông bảo khai hóa mà không cho em tôi học? Cuối cùng được trả lời, nếu học ở Đông Dương không trường nào dám nhận, sang Pháp học thì đồng ý. Thế là bà Tú Kinh lo liệu cho cậu Thọ qua Lyon, Pháp học và tốt nghiệp bác sĩ, sau đó học tiếp 2 năm chuyên khoa (interne des hôpitaux - bệnh viện nội trú) tai mũi họng.
Về nước hành nghề y, năm 1943, ông là Giám đốc Bệnh viện Tourane (Đà Nẵng). Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, ông đi theo cách mạng, làm Giám đốc Quân y Quảng Nam, hòa bình lập lại trên miền Bắc, tập kết ra Bắc năm 1957, ông làm Phó rồi Giám đốc Sở Y tế Hà Nội trong nhiều năm liền, nổi tiếng là người sâu sát, có nhiều sáng kiến trong quản lý y tế Thủ đô. Ông cũng là người tham gia thành lập Hội chữ thập đỏ Hà nội. Lịch sử Hội ghi: “Ngày 23/11/1957, Ban chấp hành Chi hội Hồng thập tự đã ra đời tại gác 2 văn phòng Sở Y tế Hà Nội số 10 Lý Thái Tổ. Bác sĩ Trần Duy Hưng đã trực tiếp giới thiệu bác sĩ Trần Văn Lai - Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố làm Hội trưởng chuyên trách công tác Hội, Phó Hội trưởng là bác sĩ Trương Gia Thọ - Phó Giám đốc Sở Y tế cùng 15 vị được giới thiệu vào Ban chấp hành.”
Bác sỹ Trương Gia Thọ có hai người vợ và tổng cộng bảy người con. Người con út là Trương Gia Bình, con bà hai Lê Thị Giáng Châu.
* Tuổi trẻ Trương Gia Bình
“Chị báo cho em biết là chị vừa sinh thêm một cháu trai. Vui thay cháu lại tình cờ được sinh ra đúng vào sinh nhật Bác. Hai mẹ con đều khỏe. Chị đặt tên cháu là Bình, hy vọng hòa bình sẽ sớm được lập lại…” Đó là trích đoạn lá thư bà Châu gửi cho em mình.
Trương Gia Bình sinh ngày 19/5/1956 tại Nghệ An. Hai năm sau, cậu theo bố mẹ về HN, đầu tiên ở Lý Thái Tổ rồi về số nhà 86 Thợ Nhuộm (góc Quang Trung), là các trụ sở của cơ quan bố – Sở Y tế Hà Nội.
Năm 1964 khi Bình đang học lớp 2 ở trường Phương Đông thì Mỹ ném bom miền Bắc, bố mẹ cho Bình vào học trường nội trú của con em cán bộ sơ tán lên Hà Bắc. Nhớ về giai đoạn này, Trương Gia Bình kể: “Hồi máy bay Mỹ ném bom miền Bắc trong chiến tranh, tôi mới 8 tuổi, rời gia đình về nông thôn. Tôi nhớ mãi đó là thời kỳ của đói rét, của những đêm không ngủ được vì nhớ cha mẹ. Nhưng đó lại là những năm giúp tôi trưởng thành nhanh chóng, rèn giũa tính tự lập, là nền móng để trưởng thành về sau".
Hết bắn phá, Bình quay lại Hà Nội học lớp 6 ở trường Dịch Vọng, Từ Liêm, lớp 7 học chuyên toán cấp hai ở trường Trưng Vương Hoàn Kiếm. Ba năm cấp 3 từ 1970-73, Bình học lớp chuyên Toán ở Trường Chu Văn An, thầy chủ nhiệm kiêm dạy toán là thầy Đào Thiện Khải.
Theo lời kể của Bùi Quang Ngọc, bạn học của Bình:
“Trong lớp có nhiều kiểu học, nhiều trường phái khác nhau. Dân chuyên Toán thường ít chú ý đến môn Văn cũng như các môn xã hội. Gia Bình lại là cánh ham mê môn Văn. Mỗi bài luận Bình bỏ rất nhiều thời gian, nghiên cứu hàng đống sách chuyên đề rồi mới bắt tay vào viết. Tôi và nhiều bạn thường sử dụng các tư liệu mà Bình đã mất công tìm kiếm, thậm chí bắt chước cả cách phân tích, bình luận của Bình. Các bài văn của Bình thường được được tham khảo mẫu khi trả bài. Bình hay nói về Triết học, trình bày các vấn đề dưới góc độ hoặc bằng ngôn ngữ Triết. Hồi đấy tôi chỉ thấy hay hay vì nó khác với những suy nghĩ tư duy thuần Toán, mà không biết rằng đó chính là biểu hiện của những phẩm chất lãnh đạo mà sau này Bình mới thể hiện rõ. Bình học toàn diện, thường xếp thứ hạng cao trong lớp.
Năm lớp 10, chúng tôi học tại nơi sơ tán của huyện Thanh Oai, Hà Tây. Dạo ấy ăn cơm tập thể vàng khè vì ngô nhiều hơn gạo. Có bận sau bữa cơm, nhiều bạn đi vắng nên nhà bếp còn thừa rất nhiều. Bình đã biểu diễn sức ăn bằng việc lôi chai xì dầu ra làm 8 bát cơm B52 (loại bát sắt của bộ đội, to gần bằng hai bát sứ) mà không cần tý thức ăn nào khác, trong sự thán phục tròn xoe mắt của cả lớp. Năm ấy Bình sắp 17 tuổi.”
Theo lời kể của một người thân trong gia đình, vào một tối mùa Đông năm 1972, dưới ánh đèn dầu trong ngôi nhà gia đình Bình đang sơ tán tại Quốc Oai (Hà Tây cũ), cha cậu đã có một cuộc đàm đạo với một người bạn về tương quan giữa hai ứng cử viên Nixon và McGovern trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Hai ông già đều mong muốn McGovern của Đảng Dân chủ thắng cử, với hy vọng Mỹ sẽ ngừng ném bom miền Bắc. Bình bất ngờ nhảy vào tranh luận theo chiều hướng Nixon sẽ tái đắc cử khiến hai cụ sững sờ. Họ càng ngạc nhiên hơn khi sau đó mọi chuyện đã diễn ra đúng như Bình dự đoán. Người cha đã không biết rằng cậu con trai của mình thường xuyên nghe trộm đài BBC (lúc đó bị cấm) và càng không ngờ rằng, tuy còn nhỏ tuổi, nhưng khả năng phân tích của cậu rất sâu sắc.
Năm 1974, sau một năm học tiếng Nga tập trung, Bình lên tàu đi Moskva. Anh tốt nghiệp khoa Toán Cơ Đại học TH Moskva (MGU) năm 1979 với tấm bằng đỏ, rồi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ tại đây năm 1982. Sau khi bảo vệ luận án, anh ở lại thêm 2 năm làm cộng tác viên nghiên cứu tại Viện Toán Skelov thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Năm 1985, anh trở về nước và làm việc tại Viện Cơ học thuộc Viện Khoa học Việt Nam.
Trong thời gian làm nghiên cứu sinh, Bình đã lấy vợ và sinh được một con gái. Vợ anh là Võ Hạnh Phúc, con gái của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khi trở về Việt Nam, Bình “chui gầm chạn” ở nhà nhạc phụ Đại tướng.
Chính ở đây, năm 1988 Bình và các cộng sự đã sáng lập Công ty FPT. Khi ấy Bình 32 tuổi.
* Tính cách Trương Gia Bình
Qua việc phân tích tiểu sử TGB chúng ta có thể xác định được các dòng ảnh hưởng đến tính cách của ông (xuất thân, giáo dục, lập nghiệp) và qua đó ảnh hưởng đến toàn bộ văn hóa doanh nghiệp FPT. Phần này xin đón xem trong sách.
Hình: TGB lúc là nghiên cứu sinh ở MGU, cắt từ video phỏng vấn.