NHỮNG BẬC THÁNH SIÊU PHÀM TRONG PHẬT GIÁO
Viết bởi hiendde, 31/10/12 06:57
25 replies to this topic
#16
Gửi vào 20/11/2012 - 12:44
16. Cúng Phật trai tăng
Thái tử cúng dường rõ nhân xưa
Không thỉnh tăng trước làm ăn xin
Phật dạy tân tăng dùng thần lực
Bắc-câu mỹ thực lấy đem về.
Thế Tôn vì chúng nói nhân duyên
Năm trăm đầu bếp hầu thánh hiền
Mệt nhọc lâu ngày sinh ý ác
Khởi tâm sám hối phước tăng theo.
Một thời, đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngự tại tinh xá Kỳ Viên, Ấn Độ giáo hoá chúng sinh. Giáo pháp của Phật là rất bình đẳng. Mỗi ngày đức Thế Tôn đều thực hành pháp khất thực theo thứ lớp, không luận giàu nghèo sang hèn, thảy đều đối xử như nhau, giúp mọi người có cơ hội gieo trồng cội phước.
Mỗi khi Phật và chúng tăng vào thành khất thực, có chừng khoảng 500 người ăn xin theo. Số người ăn xin này nương oai đức của Phật nên cũng được no đủ qua ngày. Nhân đó, nhiều người ăn xin trong thành lại lũ lượt đến nhập đoàn, số tăng đến khoảng 500 người.
Nhiều lần núp bóng Phật và chúng tăng, một hôm người dẫn đầu đoàn ăn xin sinh tâm hổ thẹn, nói với người trong đoàn:
”Chúng ta là những người mang nhiều tội khổ, hiện tại tuy được nương theo oai của đức Phật và chúng tăng nên mới được thí chủ cúng dường thức ăn, mạng sống được kéo dài đến hôm nay. Song, nghiệp khổ của chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chứng thánh chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chư thánh chúng đều là những bậc tu hành có nhiều phước trí, đủ công đức để hồi hướng cho thí chủ tiêu trừ tai hoạn, phát sinh trí huệ. Còn như chúng ta chỉ mỗi ngày ăn suông của thí chủ, thật quá hổ thẹn.
Đoàn người ăn xin nghe nói trong lòng có ít nhiều tỉnh ngộ, sinh tâm hổ thẹn. Khi ấy, có người đưa ra đề nghị:
”Nếu vậy thì chúng ta nên xin phép đức Phật từ bi thu nhận cho chúng ta xuất gia làm Tỳ-kheo để được như pháp tu hành, thế có tốt hơn không?”
Tất cả mọi người đều nhất trí lời đề nghị này, đồng đến xin Phật cho phép xuất gia tu hành. Đức Phật dạy:
“Giáo pháp của ta rất bình đẳng, không phân biệt người trí, kẻ ngu hoặc giàu nghèo sang hèn; giáo pháp của ta rất thanh tịnh, như nước sạch tẩy trừ được hết các cấu uế, bỏ nhơ thành sạch, phục hồi cội chơn mà từ lâu đã bỏ quên”.
Những người ăn xin nghe Phật dạy rồi thảy đều vui mừng, phát tâm bền chắc, thiết tha cầu Phật độ cho xuất gia. Đức Phật đồng ý, lại dạy:
”Chí nguyện xuất gia tu hành của các ông rất tốt, không kể là trước đã tạo tội ác như thế nào, chỉ cần chí tâm sám hối, sửa lỗi làm lành, tuân thủ giới luật, Ta cho phép các ông được xuất gia thành Tỳ-kheo”.
Bấy giờ, 500 người ăn xin được cạo tóc xuất gia mặc pháp phục trở thành Tỳ-kheo. Đức Phật nói pháp khai đạo giúp những vị ấy tinh tấn dụng công diệt trừ cội gốc sinh tử phiền não tham, sân, si, chứng quả thánh, trở thành 500 vị A-la-hán.
Sau khi nhóm người ăn xin xuất gia, dư luận xã hội Ấn Độ lúc ấy xôn xao bàn tán, rất nhiều người sang quí cho đến dân chúng đều khởi tâm khinh khi, họ nói:
”Vì sao Đức Phật lại cho phép những người bần cũng này gia nhập vào tăng đoàn? Như chúng ta muốn tạo phước cúng dường Phật và tăng chúng, làm sao có thể để họ ngồi trên, rồi quì dưới lễ bái cúng dường những người ăn xin này cho được? Thật là việc vô lý!”
Ngày ấy, thái tử Kỳ-đà cung thỉnh Phật và toàn thể thánh chúng đến tư gia thiết trai cúng dường và thưa rõ là không đủ chỗ ngồi nên không thỉnh 500 vị Tỳ-kheo thuộc nhóm ăn xin. Ngày sau, trước khi đến nhà thí chủ thọ trai, đức Phật bảo 500 vị tân Tỳ-kheo A-la-hán:
”Hôm nay Ta cùng chúng tăng thọ trai tại tư gia thái tử Kỳ-đà, song thái tử không mời các ông. Các ông nên vận dụng thần thông đến Bắc-câu-lô-châu lấy gạo chín tự nhiên, rồi trở về nhà thái tử tìm chỗ ngồi phía sau, dùng gạo chín ấy”.
Các Tỳ-kheo y lời Phật dạy, sau khi lấy gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí hiếm có.
Thái tử Kỳ-đà thấy các thánh chúng thần thông quảng đại, oai nghi nghiêm túc, vô cùng hoan hỷ, cung kính hỏi Phật:
”Bạch Thế Tôn! Các đại đức thánh chúng này tướng tốt trang nghiêm, oai thần vời vợi ở phương nào đến đây? Mong Thế Tôn vì chúng con nói rõ nguồn gốc của các vị?”
Phật đáp:
”Thái tử! Ngài lắng nghe kỹ, chúng Tỳ-kheo này là những người ăn xin thuở trước, do vì ngài không mời nên các vị đi đến xứ Bắc-câu-lô-châu đem gạo quí chín tự nhiên về dùng”.
Trong tâm thái tử lúc ấy vô cùng xấu hổ, biết mình có tâm phân biệt sang hèn, cố chấp nặng nề nên tự trách:
”Không biết vì sao tôi lại quá ngu như thế, thật là tội lỗi”.
Thái tử lại khen ngợi đức Phật:
”Công đức của Thế Tôn thật là vô lượng! Những người ăn xin ngày trước cũng được độ thành tựu thánh quả, đạt được niềm an lạc vĩnh hằng. Những chúng sinh nhiều tội khổ, phát tâm quy y tam bảo, tinh tấn tu học Phật pháp, thành tựu được công đức vô lượng vô biên”.
Thái tử lại thưa tiếp:
”Bạch Thế Tôn! 500 vị A-la-hán này đời trước đã gieo nhân gì mà nay được Thế Tôn cứu độ? Và các vị đã tạo tội thế nào mà phải chịu làm kiếp ăn xin nghèo hèn?”
Đức Thế Tôn đáp:
”Vào một kiếp lâu xa ở quá khứ, có 2.000 vị Tỳ-kheo tu hành trong núi, tất cả đều là bậc thánh Duyên giác. Do địa phương ấy bị hạn hán, nên mùa màng thất bát, cuộc sống người dân thật khó khăn. Nơi ấy có một vị trưởng giả giàu có dư dả, phát tâm cúng dường thực phẩm hành ngày cho 2.000 vị Tỳ-kheo. Trưởng giả phái 500 người làm công, mỗi ngày đều phải chuẩn bị thiết trai cúng chư Tỳ-kheo, lo lắng đầy đủ thức ăn uống.
Hàng ngày, trưởng giả hết lòng chuẩn bị món ngon cúng dường. Nhưng 500 người làm công của ông do ngày dài tháng rộng nên mệt mỏi, lần hồi sinh tâm chán ghét, thốt lời không hay tạo nên khẩu nghiệp. Họ thường cất tiếng than oán và khinh dễ các Tỳ-kheo. Hôm ấy, các Tỳ-kheo bảo với trưởng giả:
”Trời hạn hán đã lâu, nên không trồng trọt được thứ gì, nhưng bắt đầu từ hôm nay, xin trưởng giả hãy chuẩn bị hạt giống, sai người cày đất gieo mạ”.
Trưởng giả y theo lời dặn, gieo giống trồng trọt. Quả nhiên, trời tưới mưa khắp nơi, tất cả cây cỏ đều thuận thấm tươi tốt, mọi người vui mừng khôn kể. thế là mùa này trưởng giả được bội thu, chứa đầy cả kho trong ngoài, còn dư đem ra bố thí cho người nghèo. Bấy giờ, 500 người làm công biết đã phạm tội khinh chê người xuất gia nên sinh lòng hối hận. Bọn họ đoán chắc trưởng giả sẽ thiết trai lớn cúng dường như Tỳ-kheo, nên chờ ngày rồi cùng nhau đến trước chư vị thành tâm phát lồ sám hối, cầu xin tha tội. Chư Tỳ-kheo hoan hỷ cho bọn họ sám hối.
Năm trăm người lại thành tâm phát nguyện:
”Nguyện cho chúng tôi sau này được gặp các bậc thánh hiền, thọ ân cứu độ, đồng được giải thoát”.
Bởi do nhân duyên đời trước khinh người như thế nên nhiều đời 500 người làm công phải chịu quả nghèo cùng ăn xin khốn khổ. Song, ngay khi ấy họ biết sám hối, sửa đổi lỗi lầm lại còn phát nguyện xuất gia tu hành thành đạo, do đó mà đời này được xuất gia chứng quả. Thái tử Kỳ-đà! Ông biết không? Trưởng giả khí đó chính là thân ta đời trước. Năm trăm người làm công chính là những người ăn xin bây giờ cũng đã trở thành 500 A-la-hán.”
Bố thí tam luân đều không tịnh
Phát tâm cúng dường Phật và Tăng
Phàm phu không rõ chư hiền thánh
Phân biệt, chấp nê tội càng sanh.
1. Kinh Phật dạy chúng ta thường phải ứng dụng tam luân không tịnh cúng dường bố thí. Như: Người cho, người nhận, vật cho gọi là tam luân. Sau khi bố thí cúng dường, không để cho ba việc này tồn tại trong tâm, không hề chấp trước là ta đã bố thí, người kia đã nhận...nếu đạt được tinh thần ấy thì mới là bố thí tam luân không tịnh.
2. Người phàm phu thông thường trong tâm còn chấp tướng, phân biệt bố thí nên thất bại. người có tâm phân biệt không những tổn phước và nhân đây lại tạo thêm các tội lỗi.
3. Câu chuyện cảnh giác chúng ta biết rằng khẩu nghiệp rất đáng sợ. Mắng chửi người xuất gia phải cảm quả báo 500 đời làm người ăn xin, chịu nhiều đói khổ. Song có điều tốt là sau đó biết nhận lỗi lầm, thành tâm sám hối phát nguyện, nhân đây được phước bảo gặp đức Phật cứu độ. Nếu không sám hối được sửa đổi thì đâu biết đến bao giờ mới được giải thoát.
Thái tử cúng dường rõ nhân xưa
Không thỉnh tăng trước làm ăn xin
Phật dạy tân tăng dùng thần lực
Bắc-câu mỹ thực lấy đem về.
Thế Tôn vì chúng nói nhân duyên
Năm trăm đầu bếp hầu thánh hiền
Mệt nhọc lâu ngày sinh ý ác
Khởi tâm sám hối phước tăng theo.
Một thời, đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngự tại tinh xá Kỳ Viên, Ấn Độ giáo hoá chúng sinh. Giáo pháp của Phật là rất bình đẳng. Mỗi ngày đức Thế Tôn đều thực hành pháp khất thực theo thứ lớp, không luận giàu nghèo sang hèn, thảy đều đối xử như nhau, giúp mọi người có cơ hội gieo trồng cội phước.
Mỗi khi Phật và chúng tăng vào thành khất thực, có chừng khoảng 500 người ăn xin theo. Số người ăn xin này nương oai đức của Phật nên cũng được no đủ qua ngày. Nhân đó, nhiều người ăn xin trong thành lại lũ lượt đến nhập đoàn, số tăng đến khoảng 500 người.
Nhiều lần núp bóng Phật và chúng tăng, một hôm người dẫn đầu đoàn ăn xin sinh tâm hổ thẹn, nói với người trong đoàn:
”Chúng ta là những người mang nhiều tội khổ, hiện tại tuy được nương theo oai của đức Phật và chúng tăng nên mới được thí chủ cúng dường thức ăn, mạng sống được kéo dài đến hôm nay. Song, nghiệp khổ của chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chứng thánh chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chư thánh chúng đều là những bậc tu hành có nhiều phước trí, đủ công đức để hồi hướng cho thí chủ tiêu trừ tai hoạn, phát sinh trí huệ. Còn như chúng ta chỉ mỗi ngày ăn suông của thí chủ, thật quá hổ thẹn.
Đoàn người ăn xin nghe nói trong lòng có ít nhiều tỉnh ngộ, sinh tâm hổ thẹn. Khi ấy, có người đưa ra đề nghị:
”Nếu vậy thì chúng ta nên xin phép đức Phật từ bi thu nhận cho chúng ta xuất gia làm Tỳ-kheo để được như pháp tu hành, thế có tốt hơn không?”
Tất cả mọi người đều nhất trí lời đề nghị này, đồng đến xin Phật cho phép xuất gia tu hành. Đức Phật dạy:
“Giáo pháp của ta rất bình đẳng, không phân biệt người trí, kẻ ngu hoặc giàu nghèo sang hèn; giáo pháp của ta rất thanh tịnh, như nước sạch tẩy trừ được hết các cấu uế, bỏ nhơ thành sạch, phục hồi cội chơn mà từ lâu đã bỏ quên”.
Những người ăn xin nghe Phật dạy rồi thảy đều vui mừng, phát tâm bền chắc, thiết tha cầu Phật độ cho xuất gia. Đức Phật đồng ý, lại dạy:
”Chí nguyện xuất gia tu hành của các ông rất tốt, không kể là trước đã tạo tội ác như thế nào, chỉ cần chí tâm sám hối, sửa lỗi làm lành, tuân thủ giới luật, Ta cho phép các ông được xuất gia thành Tỳ-kheo”.
Bấy giờ, 500 người ăn xin được cạo tóc xuất gia mặc pháp phục trở thành Tỳ-kheo. Đức Phật nói pháp khai đạo giúp những vị ấy tinh tấn dụng công diệt trừ cội gốc sinh tử phiền não tham, sân, si, chứng quả thánh, trở thành 500 vị A-la-hán.
Sau khi nhóm người ăn xin xuất gia, dư luận xã hội Ấn Độ lúc ấy xôn xao bàn tán, rất nhiều người sang quí cho đến dân chúng đều khởi tâm khinh khi, họ nói:
”Vì sao Đức Phật lại cho phép những người bần cũng này gia nhập vào tăng đoàn? Như chúng ta muốn tạo phước cúng dường Phật và tăng chúng, làm sao có thể để họ ngồi trên, rồi quì dưới lễ bái cúng dường những người ăn xin này cho được? Thật là việc vô lý!”
Ngày ấy, thái tử Kỳ-đà cung thỉnh Phật và toàn thể thánh chúng đến tư gia thiết trai cúng dường và thưa rõ là không đủ chỗ ngồi nên không thỉnh 500 vị Tỳ-kheo thuộc nhóm ăn xin. Ngày sau, trước khi đến nhà thí chủ thọ trai, đức Phật bảo 500 vị tân Tỳ-kheo A-la-hán:
”Hôm nay Ta cùng chúng tăng thọ trai tại tư gia thái tử Kỳ-đà, song thái tử không mời các ông. Các ông nên vận dụng thần thông đến Bắc-câu-lô-châu lấy gạo chín tự nhiên, rồi trở về nhà thái tử tìm chỗ ngồi phía sau, dùng gạo chín ấy”.
Các Tỳ-kheo y lời Phật dạy, sau khi lấy gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí hiếm có.
Thái tử Kỳ-đà thấy các thánh chúng thần thông quảng đại, oai nghi nghiêm túc, vô cùng hoan hỷ, cung kính hỏi Phật:
”Bạch Thế Tôn! Các đại đức thánh chúng này tướng tốt trang nghiêm, oai thần vời vợi ở phương nào đến đây? Mong Thế Tôn vì chúng con nói rõ nguồn gốc của các vị?”
Phật đáp:
”Thái tử! Ngài lắng nghe kỹ, chúng Tỳ-kheo này là những người ăn xin thuở trước, do vì ngài không mời nên các vị đi đến xứ Bắc-câu-lô-châu đem gạo quí chín tự nhiên về dùng”.
Trong tâm thái tử lúc ấy vô cùng xấu hổ, biết mình có tâm phân biệt sang hèn, cố chấp nặng nề nên tự trách:
”Không biết vì sao tôi lại quá ngu như thế, thật là tội lỗi”.
Thái tử lại khen ngợi đức Phật:
”Công đức của Thế Tôn thật là vô lượng! Những người ăn xin ngày trước cũng được độ thành tựu thánh quả, đạt được niềm an lạc vĩnh hằng. Những chúng sinh nhiều tội khổ, phát tâm quy y tam bảo, tinh tấn tu học Phật pháp, thành tựu được công đức vô lượng vô biên”.
Thái tử lại thưa tiếp:
”Bạch Thế Tôn! 500 vị A-la-hán này đời trước đã gieo nhân gì mà nay được Thế Tôn cứu độ? Và các vị đã tạo tội thế nào mà phải chịu làm kiếp ăn xin nghèo hèn?”
Đức Thế Tôn đáp:
”Vào một kiếp lâu xa ở quá khứ, có 2.000 vị Tỳ-kheo tu hành trong núi, tất cả đều là bậc thánh Duyên giác. Do địa phương ấy bị hạn hán, nên mùa màng thất bát, cuộc sống người dân thật khó khăn. Nơi ấy có một vị trưởng giả giàu có dư dả, phát tâm cúng dường thực phẩm hành ngày cho 2.000 vị Tỳ-kheo. Trưởng giả phái 500 người làm công, mỗi ngày đều phải chuẩn bị thiết trai cúng chư Tỳ-kheo, lo lắng đầy đủ thức ăn uống.
Hàng ngày, trưởng giả hết lòng chuẩn bị món ngon cúng dường. Nhưng 500 người làm công của ông do ngày dài tháng rộng nên mệt mỏi, lần hồi sinh tâm chán ghét, thốt lời không hay tạo nên khẩu nghiệp. Họ thường cất tiếng than oán và khinh dễ các Tỳ-kheo. Hôm ấy, các Tỳ-kheo bảo với trưởng giả:
”Trời hạn hán đã lâu, nên không trồng trọt được thứ gì, nhưng bắt đầu từ hôm nay, xin trưởng giả hãy chuẩn bị hạt giống, sai người cày đất gieo mạ”.
Trưởng giả y theo lời dặn, gieo giống trồng trọt. Quả nhiên, trời tưới mưa khắp nơi, tất cả cây cỏ đều thuận thấm tươi tốt, mọi người vui mừng khôn kể. thế là mùa này trưởng giả được bội thu, chứa đầy cả kho trong ngoài, còn dư đem ra bố thí cho người nghèo. Bấy giờ, 500 người làm công biết đã phạm tội khinh chê người xuất gia nên sinh lòng hối hận. Bọn họ đoán chắc trưởng giả sẽ thiết trai lớn cúng dường như Tỳ-kheo, nên chờ ngày rồi cùng nhau đến trước chư vị thành tâm phát lồ sám hối, cầu xin tha tội. Chư Tỳ-kheo hoan hỷ cho bọn họ sám hối.
Năm trăm người lại thành tâm phát nguyện:
”Nguyện cho chúng tôi sau này được gặp các bậc thánh hiền, thọ ân cứu độ, đồng được giải thoát”.
Bởi do nhân duyên đời trước khinh người như thế nên nhiều đời 500 người làm công phải chịu quả nghèo cùng ăn xin khốn khổ. Song, ngay khi ấy họ biết sám hối, sửa đổi lỗi lầm lại còn phát nguyện xuất gia tu hành thành đạo, do đó mà đời này được xuất gia chứng quả. Thái tử Kỳ-đà! Ông biết không? Trưởng giả khí đó chính là thân ta đời trước. Năm trăm người làm công chính là những người ăn xin bây giờ cũng đã trở thành 500 A-la-hán.”
Bố thí tam luân đều không tịnh
Phát tâm cúng dường Phật và Tăng
Phàm phu không rõ chư hiền thánh
Phân biệt, chấp nê tội càng sanh.
1. Kinh Phật dạy chúng ta thường phải ứng dụng tam luân không tịnh cúng dường bố thí. Như: Người cho, người nhận, vật cho gọi là tam luân. Sau khi bố thí cúng dường, không để cho ba việc này tồn tại trong tâm, không hề chấp trước là ta đã bố thí, người kia đã nhận...nếu đạt được tinh thần ấy thì mới là bố thí tam luân không tịnh.
2. Người phàm phu thông thường trong tâm còn chấp tướng, phân biệt bố thí nên thất bại. người có tâm phân biệt không những tổn phước và nhân đây lại tạo thêm các tội lỗi.
3. Câu chuyện cảnh giác chúng ta biết rằng khẩu nghiệp rất đáng sợ. Mắng chửi người xuất gia phải cảm quả báo 500 đời làm người ăn xin, chịu nhiều đói khổ. Song có điều tốt là sau đó biết nhận lỗi lầm, thành tâm sám hối phát nguyện, nhân đây được phước bảo gặp đức Phật cứu độ. Nếu không sám hối được sửa đổi thì đâu biết đến bao giờ mới được giải thoát.
|
Thanked by 2 Members:
|
,
|
#17
Gửi vào 24/11/2012 - 00:55
17. Tâm tà thối đạo
Hai trẻ cùng chung quở trách mình
Khiến cho cha mẹ quá hãi kinh
Tìm củi đốt mong trừ dứt hoạ
Phật khuyên dạy rõ độ khổ nàn
Sinh tử bao lần há biết chăng
Nổi chìm cũng bởi niệm sinh thôi
Tâm tà bỏ đạo chiêu ác quả
Tính giác ăn năn đã muộn màng.
Vùng ngoại thành Xá-vệ thuộc nước Kiều-tát-la Ấn Độ có một thôn nhỏ ven núi, độ khoảng năm sáu chục gia đình cư ngụ. Trong thôn có một gia đình nghèo, lại sinh đôi hai cháu trai. Hai đứa bé này trông rất kháu khỉnh, sáng sủa ít có đứa trẻ nào bằng. Cha mẹ chúng rất vui, đặt tên cho cháu lớn là ”Song Đức”, cháu nhỏ là “ Song Phước”.
Thấm thoát, chúng được hai tháng tuổi. Một hôm cha chúng chăn trâu ngoài đồng chưa về, mẹ thì vào núi hái củi nên đem hai bé đặt nằm trên giường. Khi ấy, hai đứa trẻ đều biết nói và tự trách. Một đứa nói:
- Hồi ấy, tôi quyết chí tu hành, lẽ ra sắp được đạo, đáng tiếc vì tâm si mê vọng tưởng ngỡ mạng người dài lâu, nên hoàn tục để hưởng thú vui ngũ dục ít lâu, độ năm, sáu mươi tuổi mới xuất gia tu hành cũng chưa muộn. Đâu biết đời người vô thường nên khi hoàn tục, việc nhà bận rộn không thể nào nhớ chuyện cũ mà lại xuất gia tu hành. Vì tâm lui sụt bỏ đạo mà tôi phải chịu trầm luân trong sinh tử, không được giải thoát.
Nếu như lúc ấy tôi quyết chí tu hành thì nay đâu bị khổ sở, sinh trong nhà nghèo khổ thế này, rau cháo qua ngày, ngủ không được ấm, chỉ đủ duy trì mạng sống mà thôi. Cứ thế trải qua biết bao nhiêu kiếp sống, làm sao biết rõ nỗi sầu khổ của cuộc sống quá khứ như thế nào? Nhưng đau khổ như thế, đều do đời trước ham mê giàu sang, buông lung thân ý để hưởng thọ khoái lạc trong chốc lát, từ đó đến nay phải chịu biết bao đau khổ, tự mình làm tự mình chịu, dẫu có đau buồn, đâu biết trách ai?.
Đứa kia nói tiếp:
- Khi ấy, tôi cũng xuất gia tu hành, nhưng không kham nhẫn được những khó khổ nhỏ cho đời tu, nên bỏ đạo hoàn tục, đến nay đã trải qua không biết bao nhiêu đời, nổi trôi trong sinh tử luân hồi toàn khổ nạn. Nay hồi tưởng lại các thứ đau khổ đã thọ đều do tự mình gây tạo, tự mình ngu si gây hoạ cho mình, nào phải ai khác? Việc đã như thế này rồi, chỉ còn biết nhẫn chịu những nghịch cảnh trái lòng, không biết phải làm sao?
Trong lúc hai đứa bé cùng than thở tự trách với nhau, cha mẹ chúng trở về đứng bên ngoài nghe hết cuộc đối thoại. Cả hai người quá đỗi kinh sợ, khi nghe hai đứa bé này là ma quái đầu thai, cùng thương lượng với nhau:
- Bây giờ nhân lúc chúng còn nhỏ phải sớm bỏ đi để tránh tai hoạ về sau.
Tức thời, người chồng liền vào rừng tim củi khô về, người vợ hỏi:
- Lượm củi để làm gì?
Chồng nói:
- Để thiêu sống hai đứa này trừ hậu hoạn.
Người vợ nghe nói lòng không nỡ, ngăn chồng không nên làm như thế. Ngày hôm sau, hai vợ chồng tiếp tục đi làm, lúc về nghe hai đứa bé tâm sự giống hôm qua, chúng đều tự trách giận bản thân mình rất nhiều. Lúc ấy người chồng quyết tâm lấy củi giết con chất thành đống, bồng hai đứa nhỏ đặt vào đống củi nổi lửa thiêu, cho là ma quỉ đầu thai phá hoại họ.
Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni dùng thiên nhãn xem thấy hai đứa nhỏ sắp bị lửa thiêu chết, liền dùng thần thông bay đến thôn ấy, phóng hào quang sáng chói, đại địa chấn động. Ánh sáng giữa chặn mày của Phật chiếu khắp núi sông, cây cỏ...hết thảy đều biến thành màu bạch kim.
Đức Phật đến trước nhà của hai anh em song sinh, hai đứa trẻ vừa thấy thân sắc vàng chói của đức Phật, hết sức vui mừng. Hai vợ chồng hết sức kinh ngạc, mỗi người bế một đứa đến trước đức Phật kể hết sự việc và thưa hỏi nguyên nhân. Đức Phật đáp:
- Hai đứa trẻ này chẳng phải là ma quỉ mà là hai đứa bé có phước và có đức.
Đức Phật vì gia đình họ nói rõ nguyên nhân quá khứ của hai đứa trẻ.
- Quá khứ, vào thời Phật Ca-diếp, hai đứa trẻ này từ nhỏ đã là bè bạn với nhau, ý đồng tâm nên cùng nhau xuất gia, tinh tấn dụng công tu hành. Khi chúng sắp được đạo, bỗng nhiên tâm tà dấy động, nhân đây bỏ đạo hoàn tục nên bị đoạ lạc không giải thoát, từ đó nhiều kiếp trôi nổi trong vòng sinh tử. Nhiều đời chúng sinh làm anh em song sinh với nhau.
Lần này ra đời, do tội trước đã tiêu hết, lại nhờ đời trước đã từng tu hành cúng dường chư Phật, nên có phước là đời này sinh ra biết được duyên nghiệp đời trước của chúng. Giờ đây chúng sắp được tiêu nghiệp giải thoát, nếu Ta không đến cứu, chúng nó ắt bị lửa thiêu đốt mà chết, Ta nay độ thoát hai đứa bé này.
Tham luyến niềm vui ở thế gian
Trở về cam phận kiếp gian nan
Luân hồi nhiều kiếp trong sinh tử
Đều do động niệm khởi tâm tà.
1. Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu như có nhân duyên được nghe Phật pháp, phải tinh tấn chớ thối chuyển, nỗ lực gìn giữ giới pháp, hẹn ngày giải thoát chứng Thánh quả. Nếu không, nhiều đời sẽ trầm luân trong sinh tử, vĩnh viễn không có ngày ra khỏi.
2. Trên đường tu hành, phải luôn nhớ: ”Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng cũng như đưa ma mẹ”. Nếu tu hành chưa viên mãn, chúng ta không nên ỷ lại, phải luôn cố gắng tiến tu, chớ dần dà qua ngày để vọng tưởng khởi sinh rồi thối tâm bỏ đạo.
3. Trong vòng luân hồi muôn kiếp, được phúc duyên kỳ ngộ với Phật pháp cũng là do những công đức, phúc đức đã gây tạo từ trước. Thế nên, người khéo tu dù một chút phước nhỏ cũng bòn, một niệm lăng xăng cũng sợ, hằng tỉnh giác để đời tu luôn gặt hái nhiều duyên phước tốt.
4. Tăng chúng Phật giáo, lãnh thọ giới luật tu hành nhưng cũng có thể xả giới hoàn tục. Song thân phận người xuất gia cùng người tại gia không giống nhau, chúng ta cần phải biện rõ ràng, không nên lầm nhận. Chúng xuất gia là một bảo trong Tam Bảo, là người cư sĩ ủng hộ Phật giáo.
Người xuất gia tu hành, có chí nguyện làm lợi ích trời người thì chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng, chư Hộ Pháp Long thần thảy đều hoan hỷ, có công đức vô lượng. Nếu như có người bày chuyện thị phi, huỷ báng người xuất gia, sẽ bị chư Hộ pháp Long thần quở trách, phải bị tội nặng khôn tính kể.
Hai trẻ cùng chung quở trách mình
Khiến cho cha mẹ quá hãi kinh
Tìm củi đốt mong trừ dứt hoạ
Phật khuyên dạy rõ độ khổ nàn
Sinh tử bao lần há biết chăng
Nổi chìm cũng bởi niệm sinh thôi
Tâm tà bỏ đạo chiêu ác quả
Tính giác ăn năn đã muộn màng.
Vùng ngoại thành Xá-vệ thuộc nước Kiều-tát-la Ấn Độ có một thôn nhỏ ven núi, độ khoảng năm sáu chục gia đình cư ngụ. Trong thôn có một gia đình nghèo, lại sinh đôi hai cháu trai. Hai đứa bé này trông rất kháu khỉnh, sáng sủa ít có đứa trẻ nào bằng. Cha mẹ chúng rất vui, đặt tên cho cháu lớn là ”Song Đức”, cháu nhỏ là “ Song Phước”.
Thấm thoát, chúng được hai tháng tuổi. Một hôm cha chúng chăn trâu ngoài đồng chưa về, mẹ thì vào núi hái củi nên đem hai bé đặt nằm trên giường. Khi ấy, hai đứa trẻ đều biết nói và tự trách. Một đứa nói:
- Hồi ấy, tôi quyết chí tu hành, lẽ ra sắp được đạo, đáng tiếc vì tâm si mê vọng tưởng ngỡ mạng người dài lâu, nên hoàn tục để hưởng thú vui ngũ dục ít lâu, độ năm, sáu mươi tuổi mới xuất gia tu hành cũng chưa muộn. Đâu biết đời người vô thường nên khi hoàn tục, việc nhà bận rộn không thể nào nhớ chuyện cũ mà lại xuất gia tu hành. Vì tâm lui sụt bỏ đạo mà tôi phải chịu trầm luân trong sinh tử, không được giải thoát.
Nếu như lúc ấy tôi quyết chí tu hành thì nay đâu bị khổ sở, sinh trong nhà nghèo khổ thế này, rau cháo qua ngày, ngủ không được ấm, chỉ đủ duy trì mạng sống mà thôi. Cứ thế trải qua biết bao nhiêu kiếp sống, làm sao biết rõ nỗi sầu khổ của cuộc sống quá khứ như thế nào? Nhưng đau khổ như thế, đều do đời trước ham mê giàu sang, buông lung thân ý để hưởng thọ khoái lạc trong chốc lát, từ đó đến nay phải chịu biết bao đau khổ, tự mình làm tự mình chịu, dẫu có đau buồn, đâu biết trách ai?.
Đứa kia nói tiếp:
- Khi ấy, tôi cũng xuất gia tu hành, nhưng không kham nhẫn được những khó khổ nhỏ cho đời tu, nên bỏ đạo hoàn tục, đến nay đã trải qua không biết bao nhiêu đời, nổi trôi trong sinh tử luân hồi toàn khổ nạn. Nay hồi tưởng lại các thứ đau khổ đã thọ đều do tự mình gây tạo, tự mình ngu si gây hoạ cho mình, nào phải ai khác? Việc đã như thế này rồi, chỉ còn biết nhẫn chịu những nghịch cảnh trái lòng, không biết phải làm sao?
Trong lúc hai đứa bé cùng than thở tự trách với nhau, cha mẹ chúng trở về đứng bên ngoài nghe hết cuộc đối thoại. Cả hai người quá đỗi kinh sợ, khi nghe hai đứa bé này là ma quái đầu thai, cùng thương lượng với nhau:
- Bây giờ nhân lúc chúng còn nhỏ phải sớm bỏ đi để tránh tai hoạ về sau.
Tức thời, người chồng liền vào rừng tim củi khô về, người vợ hỏi:
- Lượm củi để làm gì?
Chồng nói:
- Để thiêu sống hai đứa này trừ hậu hoạn.
Người vợ nghe nói lòng không nỡ, ngăn chồng không nên làm như thế. Ngày hôm sau, hai vợ chồng tiếp tục đi làm, lúc về nghe hai đứa bé tâm sự giống hôm qua, chúng đều tự trách giận bản thân mình rất nhiều. Lúc ấy người chồng quyết tâm lấy củi giết con chất thành đống, bồng hai đứa nhỏ đặt vào đống củi nổi lửa thiêu, cho là ma quỉ đầu thai phá hoại họ.
Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni dùng thiên nhãn xem thấy hai đứa nhỏ sắp bị lửa thiêu chết, liền dùng thần thông bay đến thôn ấy, phóng hào quang sáng chói, đại địa chấn động. Ánh sáng giữa chặn mày của Phật chiếu khắp núi sông, cây cỏ...hết thảy đều biến thành màu bạch kim.
Đức Phật đến trước nhà của hai anh em song sinh, hai đứa trẻ vừa thấy thân sắc vàng chói của đức Phật, hết sức vui mừng. Hai vợ chồng hết sức kinh ngạc, mỗi người bế một đứa đến trước đức Phật kể hết sự việc và thưa hỏi nguyên nhân. Đức Phật đáp:
- Hai đứa trẻ này chẳng phải là ma quỉ mà là hai đứa bé có phước và có đức.
Đức Phật vì gia đình họ nói rõ nguyên nhân quá khứ của hai đứa trẻ.
- Quá khứ, vào thời Phật Ca-diếp, hai đứa trẻ này từ nhỏ đã là bè bạn với nhau, ý đồng tâm nên cùng nhau xuất gia, tinh tấn dụng công tu hành. Khi chúng sắp được đạo, bỗng nhiên tâm tà dấy động, nhân đây bỏ đạo hoàn tục nên bị đoạ lạc không giải thoát, từ đó nhiều kiếp trôi nổi trong vòng sinh tử. Nhiều đời chúng sinh làm anh em song sinh với nhau.
Lần này ra đời, do tội trước đã tiêu hết, lại nhờ đời trước đã từng tu hành cúng dường chư Phật, nên có phước là đời này sinh ra biết được duyên nghiệp đời trước của chúng. Giờ đây chúng sắp được tiêu nghiệp giải thoát, nếu Ta không đến cứu, chúng nó ắt bị lửa thiêu đốt mà chết, Ta nay độ thoát hai đứa bé này.
Tham luyến niềm vui ở thế gian
Trở về cam phận kiếp gian nan
Luân hồi nhiều kiếp trong sinh tử
Đều do động niệm khởi tâm tà.
1. Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu như có nhân duyên được nghe Phật pháp, phải tinh tấn chớ thối chuyển, nỗ lực gìn giữ giới pháp, hẹn ngày giải thoát chứng Thánh quả. Nếu không, nhiều đời sẽ trầm luân trong sinh tử, vĩnh viễn không có ngày ra khỏi.
2. Trên đường tu hành, phải luôn nhớ: ”Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng cũng như đưa ma mẹ”. Nếu tu hành chưa viên mãn, chúng ta không nên ỷ lại, phải luôn cố gắng tiến tu, chớ dần dà qua ngày để vọng tưởng khởi sinh rồi thối tâm bỏ đạo.
3. Trong vòng luân hồi muôn kiếp, được phúc duyên kỳ ngộ với Phật pháp cũng là do những công đức, phúc đức đã gây tạo từ trước. Thế nên, người khéo tu dù một chút phước nhỏ cũng bòn, một niệm lăng xăng cũng sợ, hằng tỉnh giác để đời tu luôn gặt hái nhiều duyên phước tốt.
4. Tăng chúng Phật giáo, lãnh thọ giới luật tu hành nhưng cũng có thể xả giới hoàn tục. Song thân phận người xuất gia cùng người tại gia không giống nhau, chúng ta cần phải biện rõ ràng, không nên lầm nhận. Chúng xuất gia là một bảo trong Tam Bảo, là người cư sĩ ủng hộ Phật giáo.
Người xuất gia tu hành, có chí nguyện làm lợi ích trời người thì chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng, chư Hộ Pháp Long thần thảy đều hoan hỷ, có công đức vô lượng. Nếu như có người bày chuyện thị phi, huỷ báng người xuất gia, sẽ bị chư Hộ pháp Long thần quở trách, phải bị tội nặng khôn tính kể.
Sửa bởi hiendde: 24/11/2012 - 00:59
#18
Gửi vào 24/11/2012 - 09:12
18. Phước cúng dường tăng
Cúng dường Sa-môn một bữa ăn
Tái sinh vương nữ mặt như trăng
Vì chồng rộng nói thân đời trước
Lễ Phật cúng dường phước huệ tăng
Tâm phân mười cõi mặc đến đi
Sáu nẻo xưa nay mãi xuống lên
Học Phật làm lành, vượt ba cõi
Nhân ác đoạ đày tội càng sâu.
Bấy giờ, Phật giáo hình thành tại miền trung Ấn Độ, nơi ấy có một cư sĩ tín thành phát tâm cúng dường tăng chúng mỗi ngày. Trong tăng chúng lúc ấy, có vị Tỳ-kheo đã chứng qủa A-la-hán, ngày ngày đều đến nhà cư sĩ thọ nhận cúng dường.
Trong nhà vị cư sĩ này có một con chó cái, mỗi ngày đến giờ, nó đều đến ngồi bên cạnh, đưa mắt nhìn vị Tỳ-kheo thọ thực, mong được một ít thức ăn ngon. Vị Tỳ-kheo biết tâm mong muốn của con chó, nên luôn để phần cho nó là một nắm cơm. Hàng ngày vị Tỳ-kheo thọ nhận sự cúng dường của thí chủ, con chó kia mỗi ngày được vị Tỳ-kheo cho thức ăn.
Do đó, chó mỗi ngày đều hoan hỷ trông ngóng vị Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo cũng biết được tâm ý của con chó, nên luôn dành phần cho nó, từ đó nó thấy người xuất gia là vẫy đuôi vui mừng quấn quýt. Nhân tâm hoan hỷ cung kính vị Tỳ-kheo, nên chó tiêu trừ được nghiệp chướng cũ, thoát khỏi đường ác súc sinh. Hai năm sau, con chó chết, thần thức đầu thai làm con gái Vua An Tức. Công chúa sinh ra đời, đã biết được đời trước của mình, bèn thưa với vua cha và mẫu hậu:
“Đời trước con đã từng làm con chó ở tại nhà cư sĩ kia thuộc nước Ấn Độ, mỗi ngày con đều được vị Tỳ-kheo dành cho phần thức ăn, nên khi thấy người xuất gia tâm con hoan hỷ, chính nhờ công đức hoan hỷ đó mà con được thoát thân đó lại được sinh làm công chúa”.
Lúc ấy, nước An Tức không có chùa Phật cũng không có người xuất gia. Một hôm, vua nước Nguyệt-thị phải một sứ thần đến nước An Tức giao hảo. Vua An Tức nhìn thấy vị sứ thần này hiền lành thông tuệ, liền gả công chúa cho vị sứ ấy. Công chúa theo chồng về nước Nguyệt Để, thấy trong nước có rất nhiều Tỳ-kheo, tâm vô cùng hoan hỷ. Nàng nhớ lại đời trước...bèn khởi nghĩ: ”Ta nên phát tâm cúng dường tăng chúng, để báo đáp đại ân đại đức đã cứu ta ra khỏi đường khổ súc sinh."
Bấy giờ, nơi đây Phật giáo rất hưng thịnh, nhiều người phát tâm theo Phật xuất gia. Hàng ngày công chúa đều cúng dường từ 400 đến 500 vị Tỳ-kheo, lại còn đích thân sắp xếp thức ăn, quét dọn sau khi mãn tiệc, không để cho người khác phải nhọc sức. Trong gia đình tất cả tôi tớ đều tán thán công hạnh của công chúa, họ nói:
”Nữ chủ nhân là công chúa, mà lại thấp mình bòn phước cúng dường như thế, bọn chúng ta phải bắt chước công chúa tạo ít công đức mới được."
Thế rồi tôi tớ đều giấu hết chổi quét, đến khi công chúa tìm chổi quét dọn không có, liền đi lấy y phục của mình cuộn tròn làm chổi quét. Phò mã thấy vậy nói:
"Tuy nàng cung kính chúng tăng rất tốt, nhưng lấy y phục quét nhà thì có lỗi rồi đó”.
Công chúa đáp:
”Đời trước, thiếp nhờ tâm hoan hỷ, cung kính các vị Tỳ-kheo trong thời gian hai năm, nên đời nay mới được nhiều y phục thế này. Nay lấy y phục làm chổi, cũng đâu có lỗi gì? Đời trước thiếp không có vật gì để bố thí, thì dùng tâm hoan hỷ cung kính các vị Tỳ-kheo mà được phước lành, đời nay thiếp có phước sinh làm công chúa, chưa phải làm các việc khổ nhọc để kiếm tiền mà lại được nhiều y phục”.
Phò mã nói:
”Nàng cung kính Tam-bảo tâm thành cúng dường tăng chúng, song ta không hề thấy các Tỳ-kheo cho nàng đồng bạc nào, y phục của nàng đều do công sức của ta mà có thôi”.
Công chúa liền giải thích:
”Đời trước thiếp vốn sinh trong loài chó, nhân theo đệ tử Phật, được cho thức ăn mỗi ngày, nên tâm sinh cung kính các vị. Do công đức hoan hỉ cung kính đó, nay thân chó được sinh làm công chúa. Thiếp được thoát khỏi thân chó, tất cả phước đức của đời này, hoàn toàn đều do thầy Tỳ-kheo ban tặng”.
Phò mã nói:
Nàng chỉ cung kính các thầy Tỳ-kheo, mà được các công đức, phúc đức lớn như thế, công đức cúng dường tam bảo thật không thể nghĩ bàn.”
Phò mã xưa nay ít phát tâm cúng dường, từ khi nghe công chúa kể chuyện nhân quả đời trước, liền phát tâm cúng dường bố thí rộng lớn. Phò mã xin quy y tam bảo, tinh tấn học Phật, kiến lập chùa tháp, giữ gìn trai giới, hoằng truyền Phật pháp khắp nhân gian.
Kính Tăng phước đức tựa hư không
Huỷ báng khinh chê tội cũng đồng
Phật pháp nếu hay tu phước trí
Phước lành, an lạc mãi theo nhau.
Cúng dường Sa-môn một bữa ăn
Tái sinh vương nữ mặt như trăng
Vì chồng rộng nói thân đời trước
Lễ Phật cúng dường phước huệ tăng
Tâm phân mười cõi mặc đến đi
Sáu nẻo xưa nay mãi xuống lên
Học Phật làm lành, vượt ba cõi
Nhân ác đoạ đày tội càng sâu.
Bấy giờ, Phật giáo hình thành tại miền trung Ấn Độ, nơi ấy có một cư sĩ tín thành phát tâm cúng dường tăng chúng mỗi ngày. Trong tăng chúng lúc ấy, có vị Tỳ-kheo đã chứng qủa A-la-hán, ngày ngày đều đến nhà cư sĩ thọ nhận cúng dường.
Trong nhà vị cư sĩ này có một con chó cái, mỗi ngày đến giờ, nó đều đến ngồi bên cạnh, đưa mắt nhìn vị Tỳ-kheo thọ thực, mong được một ít thức ăn ngon. Vị Tỳ-kheo biết tâm mong muốn của con chó, nên luôn để phần cho nó là một nắm cơm. Hàng ngày vị Tỳ-kheo thọ nhận sự cúng dường của thí chủ, con chó kia mỗi ngày được vị Tỳ-kheo cho thức ăn.
Do đó, chó mỗi ngày đều hoan hỷ trông ngóng vị Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo cũng biết được tâm ý của con chó, nên luôn dành phần cho nó, từ đó nó thấy người xuất gia là vẫy đuôi vui mừng quấn quýt. Nhân tâm hoan hỷ cung kính vị Tỳ-kheo, nên chó tiêu trừ được nghiệp chướng cũ, thoát khỏi đường ác súc sinh. Hai năm sau, con chó chết, thần thức đầu thai làm con gái Vua An Tức. Công chúa sinh ra đời, đã biết được đời trước của mình, bèn thưa với vua cha và mẫu hậu:
“Đời trước con đã từng làm con chó ở tại nhà cư sĩ kia thuộc nước Ấn Độ, mỗi ngày con đều được vị Tỳ-kheo dành cho phần thức ăn, nên khi thấy người xuất gia tâm con hoan hỷ, chính nhờ công đức hoan hỷ đó mà con được thoát thân đó lại được sinh làm công chúa”.
Lúc ấy, nước An Tức không có chùa Phật cũng không có người xuất gia. Một hôm, vua nước Nguyệt-thị phải một sứ thần đến nước An Tức giao hảo. Vua An Tức nhìn thấy vị sứ thần này hiền lành thông tuệ, liền gả công chúa cho vị sứ ấy. Công chúa theo chồng về nước Nguyệt Để, thấy trong nước có rất nhiều Tỳ-kheo, tâm vô cùng hoan hỷ. Nàng nhớ lại đời trước...bèn khởi nghĩ: ”Ta nên phát tâm cúng dường tăng chúng, để báo đáp đại ân đại đức đã cứu ta ra khỏi đường khổ súc sinh."
Bấy giờ, nơi đây Phật giáo rất hưng thịnh, nhiều người phát tâm theo Phật xuất gia. Hàng ngày công chúa đều cúng dường từ 400 đến 500 vị Tỳ-kheo, lại còn đích thân sắp xếp thức ăn, quét dọn sau khi mãn tiệc, không để cho người khác phải nhọc sức. Trong gia đình tất cả tôi tớ đều tán thán công hạnh của công chúa, họ nói:
”Nữ chủ nhân là công chúa, mà lại thấp mình bòn phước cúng dường như thế, bọn chúng ta phải bắt chước công chúa tạo ít công đức mới được."
Thế rồi tôi tớ đều giấu hết chổi quét, đến khi công chúa tìm chổi quét dọn không có, liền đi lấy y phục của mình cuộn tròn làm chổi quét. Phò mã thấy vậy nói:
"Tuy nàng cung kính chúng tăng rất tốt, nhưng lấy y phục quét nhà thì có lỗi rồi đó”.
Công chúa đáp:
”Đời trước, thiếp nhờ tâm hoan hỷ, cung kính các vị Tỳ-kheo trong thời gian hai năm, nên đời nay mới được nhiều y phục thế này. Nay lấy y phục làm chổi, cũng đâu có lỗi gì? Đời trước thiếp không có vật gì để bố thí, thì dùng tâm hoan hỷ cung kính các vị Tỳ-kheo mà được phước lành, đời nay thiếp có phước sinh làm công chúa, chưa phải làm các việc khổ nhọc để kiếm tiền mà lại được nhiều y phục”.
Phò mã nói:
”Nàng cung kính Tam-bảo tâm thành cúng dường tăng chúng, song ta không hề thấy các Tỳ-kheo cho nàng đồng bạc nào, y phục của nàng đều do công sức của ta mà có thôi”.
Công chúa liền giải thích:
”Đời trước thiếp vốn sinh trong loài chó, nhân theo đệ tử Phật, được cho thức ăn mỗi ngày, nên tâm sinh cung kính các vị. Do công đức hoan hỉ cung kính đó, nay thân chó được sinh làm công chúa. Thiếp được thoát khỏi thân chó, tất cả phước đức của đời này, hoàn toàn đều do thầy Tỳ-kheo ban tặng”.
Phò mã nói:
Nàng chỉ cung kính các thầy Tỳ-kheo, mà được các công đức, phúc đức lớn như thế, công đức cúng dường tam bảo thật không thể nghĩ bàn.”
Phò mã xưa nay ít phát tâm cúng dường, từ khi nghe công chúa kể chuyện nhân quả đời trước, liền phát tâm cúng dường bố thí rộng lớn. Phò mã xin quy y tam bảo, tinh tấn học Phật, kiến lập chùa tháp, giữ gìn trai giới, hoằng truyền Phật pháp khắp nhân gian.
Kính Tăng phước đức tựa hư không
Huỷ báng khinh chê tội cũng đồng
Phật pháp nếu hay tu phước trí
Phước lành, an lạc mãi theo nhau.
|
Thanked by 1 Member:
|
|
#19
Gửi vào 24/11/2012 - 09:21
19. Vu báng bị quả báo
Thân ghẻ kêu than xuất năm dài
Khổ sở không ngừng, thật khó phân
Do xưa sàm tấu người lương thiện
Dù cho sám hối nghiệp khó dời.
Xưa tại thành Xá-vệ-Ấn Độ có một gia đình trưởng giả đại phú, cưới con gái của trưởng giả khác là một vị khuê môn vọng tộc hiền đức xinh đẹp, thật là một gia đình trên đời ít có. Nhưng người ấy lại mang bệnh khổ ngồi nằm bất an. Nguyên nhân sau khi kết hôn, lại sinh hạ một hài nhi bất hạnh, tướng mạo của đứa trẻ này không giống như những đứa trẻ khác, nó bị chứng bệnh ngoài da nổi mụn nhọt khắp cả châu thân. Đứa trẻ này bị bệnh ghẻ làm đau đớn, ngày đêm kêu khóc, khó lòng kham nổi! Mọi người nghe tiếng kêu khóc của nó đều thương xót đau lòng.
Tuy trưởng giả đã mời nhiều danh y nổi tiếng trong nước đến chữa trị, nhưng bệnh không hề thuyên giảm. Đứa trẻ kia không ngày nào là không kêu khóc, đời sống của nó ngày đêm lo sầu muộn, mà những người chung quanh cũng bị tiếng kêu khóc của nó làm bứt rứt không yên. Nhân đó, những người chung quanh gọi tên nó là ”Rên Khóc”. Cha mẹ đứa bé cũng gọi thế.
Năm tháng trôi qua, giờ đây đứa trẻ kia đã trở thành một thiếu niên. Nhưng những mụn nhọt trên thân của nó vẫn y nguyên không bớt và chàng thanh niên kia vẫn ngày đêm kêu than thống khổ. Người láng giềng hiền lành thấy thanh niên ” Rên Khóc” đã nhiều năm đau khổ, nên khởi lòng thương xót chân thành, luôn cầu nguyện cho bệnh tình của thanh niên ấy mau chóng khỏi.
Người hiền lành kia nghĩ: ”Chàng thanh niên này từ khi ra đời đã bị bệnh khổ như thế này chắc có nguyên nhân, đây nhất định là bệnh nghiệp”. Người kia dùng lời an ủi thanh niên:
”Tôi nghe nhiều người thường xưng tán vị đại y vương là phật Thích-ca Mâu-ni đang ngự nơi rừng của thái tử Kỳ-đà vườn Cấp-cô-độc, ngài không những trị lành được những vết thương trên thân thể mà còn có khả năng làm tiêu hết những phiền muộn trong lòng người. Diệu được Cam Lồ của Phật có khả năng điều trị muôn bệnh tình của chúng sinh, tôi nghĩ em nên khởi tâm tìm đến yết kiến đức Phật, xin ngài điều trị bệnh đi?”
Chàng thanh niên nghe người mách như thế vui mừng, liền đi đến tinh xá kỳ viên xin diện kiến đức Phật. Khi thanh niên chiêm ngưỡng 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của đức Phật cùng vô lượng ánh sáng chiếu khắp mười phương hơn hẳn ánh sáng của mặt trăng, mặt trời ngay đó tâm liền hoan hỷ không thể tả hết! Những bệnh khổ ưu sầu được giảm hết phân nửa. Anh thanh niên bèn đi đến quỳ trước đức Phật, năm vóc sát đất cung kính đảnh lễ. Đức Phật vì anh thanh niên nói pháp năm ấm hưng thịnh là khổ:
- Chúng sinh mang thân này phải bị sinh, già, bệnh, chết; năm ấm là mụn nhọt vô hình; ba độc tham, sân, si trong lòng là căn rễ của mụn nhọt, giống như tên độc xuyên qua trái tim, nếu không nhổ bỏ thì nguy hiểm rất nhiều.
Chàng thanh niên nghe lời Phật dạy trong lòng hết sức hoan hỉ biết rõ những bệnh nghiệp chướng của thân mình. Anh ở trước đức Phật chí tâm cầu xin sám hối những tội lỗi đã tạo đời trước. Sau khi chân thành sám hối, những mụn nhọt trên thân không còn lở loét nữa. Nỗi đau khổ suốt 20 năm, đến đây đã hoàn toàn không còn.
Chàng thanh niên thấy thế, quá đỗi vui mừng. Cảm tạ ân nặng của đức Phật và cầu xin đức Phật làm đệ tử cho phép xuất gia. Đức Phật hoan hỷ chấp thuận độ cho thanh niên làm Tỳ-kheo. Sau khi thanh niên ấy xuất gia, nỗ lực dụng công tu hành, mỗi ngày tinh tấn thực hành theo lời Phật dạy, không lâu sau chứng quả A-la-hán.
Khi ấy, trong tăng đoàn thắc mắc về chuyện phi thường của Tỳ-kheo "Rên Khóc” cho là việc hy hữu không thể nghĩ bàn. Chúng tăng đồng đến xin Phật nói rõ nhân duyên quá khứ của Tỳ-kheo ”Rên Khóc”. Đức Phật kể:
”Quá khứ tại nước Ma-kiệt-đà có hai đại phú gia, bình thường vì có tỵ hiềm nên thường sinh tâm đố kỵ tranh chấp. Phú gia Giáp xuất ra rất nhiều châu báu đến hiến tặng nhà vua. Sau khi nhà vua thu nhận nhiều châu báu của trưởng giả hiến tặng, đối với trưởng giả đặc biệt ưu ái. Lợi dụng cơ hội này trưởng giả Giáp nói xấu trưởng giả Ất với vua:
"Người kia rất ác độc, bức bách nô tỳ, lại thường bày mưu kế hãm hại tôi. Mong đại vương chóng trị người ác, để bảo hộ cho trăm dân lương thiện”.
Nhà Vua vì bị vàng bạc châu báu che mờ nên không đủ trí quán xét, nhất thời không chịu tra xét minh bạch, hạ lệnh bắt trưởng giả Ất, dùng nhiều cực hình trị tội, dù người kia có biện minh thế nào cũng không nghe. Trưởng giả Ất bị tra đánh toàn thân bầm dập, máu chảy như nước, trăm bề khổ sở, không đứng nổi nữa. Về sau, gia đình trưởng giả Ất đem vàng bạc châu báu đến chuộc tội, trưởng giả mới được thả về.
Trưởng giả Ất sau khi về nhà lòng suy nghĩ: Có thân là có khổ, thân là nguồn gốc của mọi tội lỗi, sinh nhiều tai nạn thật đáng sợ. Ta với người kia vì có ác ý hãm hại khiến cho ta phải đau khổ thế này. Bấy giờ trưởng giả Ất quyết định xuất gia, vào núi sâu tu hành. Do quán lý 12 nhân duyên cùng tất cả sự vật trên cõi đời này đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, tâm trí của vị ấy bừng sáng được lý Không. Chẳng bao lâu, chứng được quả Bích Chi Phật.
Sau khi vị ấy ngộ đạo, khởi lòng từ bi, xem tất cả kẻ oán người thân đều như nhau hết. Ngài nghĩ đến trưởng giả Giáp trước kia đã hãm hại người khác, tạo thành nghiệp ác, sợ trưởng giả Giáp đời sau sẽ bị đoạ vào địa ngục. Lúc ấy, ngài đến nhà của Giáp, bay lên hư không, làm các thứ thần biến, khiến cho người kia tỉnh ngộ.
Trưởng giả Giáp trông thấy người nghịch trước đây của mình có thần thông diệu dụng như thế, sinh tâm khát ngưỡng, kính tin khác thường. Rồi cung kính mời Phật Bích Chi vào nhà, đem tài vật quí giá dâng cúng dường, chân thành xin sám hối lỗi trước.
Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:
- Trưởng giả kia đến quốc vương tấu hãm người hiền lành chính là Tỳ-kheo “Rên Khóc” này đó. Sự khổ đó không chỉ có một đời mà sau khi chết đi, đời đời phải mang thân đau khổ như thế, thầy thuốc bó tay, đây là tội mình làm quả mình chịu, tự thọ quả báo khổ kia. Vị trưởng giả Giáp sau khi hướng trước Phật Bích Chi sám hối, do lòng chí thành và công đức phát tâm quy y Tam Bảo, nên ngày nay có nhân duyên được độ cho xuất gia, được chứng thánh quả.
Yêu ghét đấu tranh tạo nghiệp sầu
Tật đó rèm che vô lượng tội
Quả báo không mất mình tự chịu
Gia tăng gấp bội lợi cho người.
1. Nội dung câu chuyện cũng nói Hoạ từ miệng sinh. Vu cáo hại người, tương lai chắc chắn bị quả khổ như thế, tự mình thọ quả báo mình làm.
2. Tật đó là chướng ngại cho người học Phật. Người có tâm tật đố, sớm muộn cũng tạo thành nghiệp ác, nhiều đời phải thọ quả khổ.
3. Miệng tạo tội huỷ báng, tự mình làm tự mình chịu, ngoài ra còn phải bị khổ báo vô lượng, đây gọi là một vốn ngàn lời. Khi chúng ta tạo tội với một người, dẫn đến muôn người bị tạo nghiệp, tội báo vô lượng vô biên. Người đã từng tạo tội khẩu nghiệp hoặc hoan hỷ nói lỗi trái của người, nếu sớm nhận biết lỗi lầm, hướng về Tam Bảo chí tâm sám hối, nhờ đó sớm thoát khỏi các khổ báo đời vị lai.
Thân ghẻ kêu than xuất năm dài
Khổ sở không ngừng, thật khó phân
Do xưa sàm tấu người lương thiện
Dù cho sám hối nghiệp khó dời.
Xưa tại thành Xá-vệ-Ấn Độ có một gia đình trưởng giả đại phú, cưới con gái của trưởng giả khác là một vị khuê môn vọng tộc hiền đức xinh đẹp, thật là một gia đình trên đời ít có. Nhưng người ấy lại mang bệnh khổ ngồi nằm bất an. Nguyên nhân sau khi kết hôn, lại sinh hạ một hài nhi bất hạnh, tướng mạo của đứa trẻ này không giống như những đứa trẻ khác, nó bị chứng bệnh ngoài da nổi mụn nhọt khắp cả châu thân. Đứa trẻ này bị bệnh ghẻ làm đau đớn, ngày đêm kêu khóc, khó lòng kham nổi! Mọi người nghe tiếng kêu khóc của nó đều thương xót đau lòng.
Tuy trưởng giả đã mời nhiều danh y nổi tiếng trong nước đến chữa trị, nhưng bệnh không hề thuyên giảm. Đứa trẻ kia không ngày nào là không kêu khóc, đời sống của nó ngày đêm lo sầu muộn, mà những người chung quanh cũng bị tiếng kêu khóc của nó làm bứt rứt không yên. Nhân đó, những người chung quanh gọi tên nó là ”Rên Khóc”. Cha mẹ đứa bé cũng gọi thế.
Năm tháng trôi qua, giờ đây đứa trẻ kia đã trở thành một thiếu niên. Nhưng những mụn nhọt trên thân của nó vẫn y nguyên không bớt và chàng thanh niên kia vẫn ngày đêm kêu than thống khổ. Người láng giềng hiền lành thấy thanh niên ” Rên Khóc” đã nhiều năm đau khổ, nên khởi lòng thương xót chân thành, luôn cầu nguyện cho bệnh tình của thanh niên ấy mau chóng khỏi.
Người hiền lành kia nghĩ: ”Chàng thanh niên này từ khi ra đời đã bị bệnh khổ như thế này chắc có nguyên nhân, đây nhất định là bệnh nghiệp”. Người kia dùng lời an ủi thanh niên:
”Tôi nghe nhiều người thường xưng tán vị đại y vương là phật Thích-ca Mâu-ni đang ngự nơi rừng của thái tử Kỳ-đà vườn Cấp-cô-độc, ngài không những trị lành được những vết thương trên thân thể mà còn có khả năng làm tiêu hết những phiền muộn trong lòng người. Diệu được Cam Lồ của Phật có khả năng điều trị muôn bệnh tình của chúng sinh, tôi nghĩ em nên khởi tâm tìm đến yết kiến đức Phật, xin ngài điều trị bệnh đi?”
Chàng thanh niên nghe người mách như thế vui mừng, liền đi đến tinh xá kỳ viên xin diện kiến đức Phật. Khi thanh niên chiêm ngưỡng 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của đức Phật cùng vô lượng ánh sáng chiếu khắp mười phương hơn hẳn ánh sáng của mặt trăng, mặt trời ngay đó tâm liền hoan hỷ không thể tả hết! Những bệnh khổ ưu sầu được giảm hết phân nửa. Anh thanh niên bèn đi đến quỳ trước đức Phật, năm vóc sát đất cung kính đảnh lễ. Đức Phật vì anh thanh niên nói pháp năm ấm hưng thịnh là khổ:
- Chúng sinh mang thân này phải bị sinh, già, bệnh, chết; năm ấm là mụn nhọt vô hình; ba độc tham, sân, si trong lòng là căn rễ của mụn nhọt, giống như tên độc xuyên qua trái tim, nếu không nhổ bỏ thì nguy hiểm rất nhiều.
Chàng thanh niên nghe lời Phật dạy trong lòng hết sức hoan hỉ biết rõ những bệnh nghiệp chướng của thân mình. Anh ở trước đức Phật chí tâm cầu xin sám hối những tội lỗi đã tạo đời trước. Sau khi chân thành sám hối, những mụn nhọt trên thân không còn lở loét nữa. Nỗi đau khổ suốt 20 năm, đến đây đã hoàn toàn không còn.
Chàng thanh niên thấy thế, quá đỗi vui mừng. Cảm tạ ân nặng của đức Phật và cầu xin đức Phật làm đệ tử cho phép xuất gia. Đức Phật hoan hỷ chấp thuận độ cho thanh niên làm Tỳ-kheo. Sau khi thanh niên ấy xuất gia, nỗ lực dụng công tu hành, mỗi ngày tinh tấn thực hành theo lời Phật dạy, không lâu sau chứng quả A-la-hán.
Khi ấy, trong tăng đoàn thắc mắc về chuyện phi thường của Tỳ-kheo "Rên Khóc” cho là việc hy hữu không thể nghĩ bàn. Chúng tăng đồng đến xin Phật nói rõ nhân duyên quá khứ của Tỳ-kheo ”Rên Khóc”. Đức Phật kể:
”Quá khứ tại nước Ma-kiệt-đà có hai đại phú gia, bình thường vì có tỵ hiềm nên thường sinh tâm đố kỵ tranh chấp. Phú gia Giáp xuất ra rất nhiều châu báu đến hiến tặng nhà vua. Sau khi nhà vua thu nhận nhiều châu báu của trưởng giả hiến tặng, đối với trưởng giả đặc biệt ưu ái. Lợi dụng cơ hội này trưởng giả Giáp nói xấu trưởng giả Ất với vua:
"Người kia rất ác độc, bức bách nô tỳ, lại thường bày mưu kế hãm hại tôi. Mong đại vương chóng trị người ác, để bảo hộ cho trăm dân lương thiện”.
Nhà Vua vì bị vàng bạc châu báu che mờ nên không đủ trí quán xét, nhất thời không chịu tra xét minh bạch, hạ lệnh bắt trưởng giả Ất, dùng nhiều cực hình trị tội, dù người kia có biện minh thế nào cũng không nghe. Trưởng giả Ất bị tra đánh toàn thân bầm dập, máu chảy như nước, trăm bề khổ sở, không đứng nổi nữa. Về sau, gia đình trưởng giả Ất đem vàng bạc châu báu đến chuộc tội, trưởng giả mới được thả về.
Trưởng giả Ất sau khi về nhà lòng suy nghĩ: Có thân là có khổ, thân là nguồn gốc của mọi tội lỗi, sinh nhiều tai nạn thật đáng sợ. Ta với người kia vì có ác ý hãm hại khiến cho ta phải đau khổ thế này. Bấy giờ trưởng giả Ất quyết định xuất gia, vào núi sâu tu hành. Do quán lý 12 nhân duyên cùng tất cả sự vật trên cõi đời này đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, tâm trí của vị ấy bừng sáng được lý Không. Chẳng bao lâu, chứng được quả Bích Chi Phật.
Sau khi vị ấy ngộ đạo, khởi lòng từ bi, xem tất cả kẻ oán người thân đều như nhau hết. Ngài nghĩ đến trưởng giả Giáp trước kia đã hãm hại người khác, tạo thành nghiệp ác, sợ trưởng giả Giáp đời sau sẽ bị đoạ vào địa ngục. Lúc ấy, ngài đến nhà của Giáp, bay lên hư không, làm các thứ thần biến, khiến cho người kia tỉnh ngộ.
Trưởng giả Giáp trông thấy người nghịch trước đây của mình có thần thông diệu dụng như thế, sinh tâm khát ngưỡng, kính tin khác thường. Rồi cung kính mời Phật Bích Chi vào nhà, đem tài vật quí giá dâng cúng dường, chân thành xin sám hối lỗi trước.
Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:
- Trưởng giả kia đến quốc vương tấu hãm người hiền lành chính là Tỳ-kheo “Rên Khóc” này đó. Sự khổ đó không chỉ có một đời mà sau khi chết đi, đời đời phải mang thân đau khổ như thế, thầy thuốc bó tay, đây là tội mình làm quả mình chịu, tự thọ quả báo khổ kia. Vị trưởng giả Giáp sau khi hướng trước Phật Bích Chi sám hối, do lòng chí thành và công đức phát tâm quy y Tam Bảo, nên ngày nay có nhân duyên được độ cho xuất gia, được chứng thánh quả.
Yêu ghét đấu tranh tạo nghiệp sầu
Tật đó rèm che vô lượng tội
Quả báo không mất mình tự chịu
Gia tăng gấp bội lợi cho người.
1. Nội dung câu chuyện cũng nói Hoạ từ miệng sinh. Vu cáo hại người, tương lai chắc chắn bị quả khổ như thế, tự mình thọ quả báo mình làm.
2. Tật đó là chướng ngại cho người học Phật. Người có tâm tật đố, sớm muộn cũng tạo thành nghiệp ác, nhiều đời phải thọ quả khổ.
3. Miệng tạo tội huỷ báng, tự mình làm tự mình chịu, ngoài ra còn phải bị khổ báo vô lượng, đây gọi là một vốn ngàn lời. Khi chúng ta tạo tội với một người, dẫn đến muôn người bị tạo nghiệp, tội báo vô lượng vô biên. Người đã từng tạo tội khẩu nghiệp hoặc hoan hỷ nói lỗi trái của người, nếu sớm nhận biết lỗi lầm, hướng về Tam Bảo chí tâm sám hối, nhờ đó sớm thoát khỏi các khổ báo đời vị lai.
|
Thanked by 1 Member:
|
|
#20
Gửi vào 24/11/2012 - 09:26
20. Tôn sư trọng đạo
Phật nói pháp âm vang khắp nơi
Mười phương thế giới thảy nghe đồng
Phật dạy tâm thành, ân luôn nhớ
Tôn sư trọng đạo sẽ được về.
Pháp âm thuyết pháp của đức Thế Tôn vang khắp các cõi, khiến cho loài chúng sinh đồng nghe được pháp âm của Phật. Cho nên, mỗi lần đức Thế Tôn thuyết pháp, âm thanh vang khắp mười phương.
Tôn giả Mục-kiền-liên là một trong những đại đệ tử của đức Thế Tôn, là bậc thần thông đệ nhất. Một hôm, tôn giả suy nghĩ: Mỗi khi đức Thế Tôn sắp nói Pháp thì thân Thế Tôn liền phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp cả mười phương, chúng Bồ-tát vây quanh nhiều vô kể, nghe nhận pháp âm. Ánh sáng ấy thì chiếu khắp mười phương, nhưng còn âm thanh của Thế Tôn ó được diệu dụng như thế không?”.
Khi ấy tôn giả Mục-kiền-liên lập tức dùng thần thông bay lên không trung, chỉ trong khoảng tích tắc đã đứng trên đỉnh cõi trời Đao-lợi, và nghe pháp âm của Thế Tôn vang vang bên tai. Ngài lại bay lên xa hơn nữa, vượt qua ba ngàn thế giới và các châu: Tây-ngưu-hoá châu, Đông-Thắng-thần châu, Bắc-câu-lô châu...vẫn nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thế Tôn vang bên tai.
Đức Thế Tôn sớm biết được ý nghĩ của tôn giả mà muốn đo lường công đức giáo hoá qua âm thanh của Như Lai xa và cao đến bao nhiêu? Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng thần lực hỗ trợ cho tôn giả Mục-kiền-liên, giúp ngài bay về hướng Tây của cõi Ta-bà. Nơi ấy có một cõi nước tên Quang Minh Tràng, hiện có Phật Quang Minh Vương Như Lai là giáo chủ đảng thuyết pháp giáo hoá chúng sinh.
Khi tôn giả Mục-kiền-liên đến cõi ấy, chú ý lắng nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thích-ca, ngài cũng nghe như là đang nói bên tai, từng tiếng rõ ràng. Cõi này, thân Phật rất cao lớn, Ngài ngồi trên toà sư tử cao đến ngàn sáu trăm dặm, dưới toà liên hoa toàn là chúng Bồ-tát, thân hình cũng rất cao lớn.
Tôn giả Mục-kiền-liên dùng thần thông bay lên đứng trên núi cao để chiêm ngưỡng toà báu và nghe Phật Quang Minh thuyết pháp. Bất chợt có âm thanh như điện rót vào bên tai:
”Lạ thay! Có một con kiến không biết từ nơi nào đến, thân tướng là Tỳ-kheo, đang nhảy trên bát của chúng ta?”
Đức Phật Quang Minh bảo với Bồ-tát:
”Các ngươi không nên sinh tâm khinh khi, người đó là đại đệ tử của Phật Thích-ca đang giáo hoá cõi nước ở về phương đông của cõi chúng ta, chính tôn giả Mục-kiền-liên, thần thông đệ nhất."
Khi ấy, đức Phật Thích-xa dùng thần thông bảo với tôn giả Mục-liên:
”Mục liên! Các Bồ-tát nơi cõi Quang Minh Tràng thân tướng cao lớn, trong khi người thân của ông quá bé nhỏ, họ bảo ông là con kiến. Ông hãy dùng sức thần biến để lay chuyển tâm khinh mạn của các Bồ-tát ấy đi”.
Tôn giả Mục-kiền-liên liền đến trước toà của Phật Quang Minh Vương, thành kính đảnh lễ và nhiễu quanh Phật bảy vòng, sau đó y lời dạy của Phật Thích-ca vươn thân cao đến hư không thật quá sức tưởng tượng, còn phóng ánh sáng chiếu khắp, trong ánh sáng có vô lượng đài sen báu, mỗi đài sen đều có đức Thích-ca ngồi diễn nói diệu pháp.
Chúng Bồ-tát cõi ấy sau khi xem thấy sức thần thông của tôn giả rồi, vô cùng kinh ngạc, tất cả đồng chắp tay cung kính, đều sinh tâm hoan hỷ và bạch với đức Phật Quang Minhh:
”Vị tôn giả này làm sao lại đến được cõi nước của chúng ta?”
Phật Quang Miunh Vương đáp:
”Tôn giả Mục-kiền-liên do vì muốn đo lường âm thanh thuyết pháp của Phật Thích-ca vang bao xa, nên mới đến đây”.
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch với Phật Quanh Minh rằng:
”Tôi từ thế giới phương xa đến, bây giờ không biết làm sao để trở về, cúi mong ngài từ bi giúp tôi nhanh chóng trở lại thế giới Ta-bà.”
Phật Quang Minh nói:
”Nếu đem hết sức thần thông của ông cũng không thể trở về được. Song, có một điều hay là nếu ông không quên mất nguồn gốc, chí tâm nhớ tưởng vị thầy của ông, không quên lời dạy của thầy, một lòng đảnh lễ, xưng hiệu danh hiệu đức bổn sư là Phật Thích-ca thì sẽ được an ổn trở về”.
Tôn giả y theo lời dạy, mặt hướng về phương đông và thành tâm thực hành, lập tức trở về thế giới Ta-bà.
Trong đạo tôn sư Hiển-Mật đồng
Mười phương chư Phật thảy như đây
Đệ tử ngu si quên ơn lớn
Đoạ khổ muôn đời đoạ ngục sâu.
1. Câu chuyện này được chép ra từ “Kinh Mật Ngữ”. Nội dung khuyên tất cả người tu hành học Phật, không được quên ân giáo dường của thầy tổ, tức phải ”Tôn sư trọng đạo”.
2. Tất cả những Phật sự thành tựu của người đệ tử toàn bộ đều do thầy tổ truyền trao. Sự truyền dạy của thầy tổ giống như mối quan hệ của những ngọn đèn mồi ánh sáng với nhau. Nếu người đệ tử không kính trọng thầy tổ, thì những gì đã học đã mở tức sẽ bị quên, bị đóng, không thể đưa đến sự thành tựu viên mãn.
3. Quên ân, tức là người không kính trọng sư trưởng, không giữ giới luật, cho dù họ có nghe nhận hiểu Phật pháp ít nhiều, song hiện đời vẫn không được đạo, đời sau phải thọ quả khổ, nghiệp báo sâu nặng.
Phật nói pháp âm vang khắp nơi
Mười phương thế giới thảy nghe đồng
Phật dạy tâm thành, ân luôn nhớ
Tôn sư trọng đạo sẽ được về.
Pháp âm thuyết pháp của đức Thế Tôn vang khắp các cõi, khiến cho loài chúng sinh đồng nghe được pháp âm của Phật. Cho nên, mỗi lần đức Thế Tôn thuyết pháp, âm thanh vang khắp mười phương.
Tôn giả Mục-kiền-liên là một trong những đại đệ tử của đức Thế Tôn, là bậc thần thông đệ nhất. Một hôm, tôn giả suy nghĩ: Mỗi khi đức Thế Tôn sắp nói Pháp thì thân Thế Tôn liền phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp cả mười phương, chúng Bồ-tát vây quanh nhiều vô kể, nghe nhận pháp âm. Ánh sáng ấy thì chiếu khắp mười phương, nhưng còn âm thanh của Thế Tôn ó được diệu dụng như thế không?”.
Khi ấy tôn giả Mục-kiền-liên lập tức dùng thần thông bay lên không trung, chỉ trong khoảng tích tắc đã đứng trên đỉnh cõi trời Đao-lợi, và nghe pháp âm của Thế Tôn vang vang bên tai. Ngài lại bay lên xa hơn nữa, vượt qua ba ngàn thế giới và các châu: Tây-ngưu-hoá châu, Đông-Thắng-thần châu, Bắc-câu-lô châu...vẫn nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thế Tôn vang bên tai.
Đức Thế Tôn sớm biết được ý nghĩ của tôn giả mà muốn đo lường công đức giáo hoá qua âm thanh của Như Lai xa và cao đến bao nhiêu? Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng thần lực hỗ trợ cho tôn giả Mục-kiền-liên, giúp ngài bay về hướng Tây của cõi Ta-bà. Nơi ấy có một cõi nước tên Quang Minh Tràng, hiện có Phật Quang Minh Vương Như Lai là giáo chủ đảng thuyết pháp giáo hoá chúng sinh.
Khi tôn giả Mục-kiền-liên đến cõi ấy, chú ý lắng nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thích-ca, ngài cũng nghe như là đang nói bên tai, từng tiếng rõ ràng. Cõi này, thân Phật rất cao lớn, Ngài ngồi trên toà sư tử cao đến ngàn sáu trăm dặm, dưới toà liên hoa toàn là chúng Bồ-tát, thân hình cũng rất cao lớn.
Tôn giả Mục-kiền-liên dùng thần thông bay lên đứng trên núi cao để chiêm ngưỡng toà báu và nghe Phật Quang Minh thuyết pháp. Bất chợt có âm thanh như điện rót vào bên tai:
”Lạ thay! Có một con kiến không biết từ nơi nào đến, thân tướng là Tỳ-kheo, đang nhảy trên bát của chúng ta?”
Đức Phật Quang Minh bảo với Bồ-tát:
”Các ngươi không nên sinh tâm khinh khi, người đó là đại đệ tử của Phật Thích-ca đang giáo hoá cõi nước ở về phương đông của cõi chúng ta, chính tôn giả Mục-kiền-liên, thần thông đệ nhất."
Khi ấy, đức Phật Thích-xa dùng thần thông bảo với tôn giả Mục-liên:
”Mục liên! Các Bồ-tát nơi cõi Quang Minh Tràng thân tướng cao lớn, trong khi người thân của ông quá bé nhỏ, họ bảo ông là con kiến. Ông hãy dùng sức thần biến để lay chuyển tâm khinh mạn của các Bồ-tát ấy đi”.
Tôn giả Mục-kiền-liên liền đến trước toà của Phật Quang Minh Vương, thành kính đảnh lễ và nhiễu quanh Phật bảy vòng, sau đó y lời dạy của Phật Thích-ca vươn thân cao đến hư không thật quá sức tưởng tượng, còn phóng ánh sáng chiếu khắp, trong ánh sáng có vô lượng đài sen báu, mỗi đài sen đều có đức Thích-ca ngồi diễn nói diệu pháp.
Chúng Bồ-tát cõi ấy sau khi xem thấy sức thần thông của tôn giả rồi, vô cùng kinh ngạc, tất cả đồng chắp tay cung kính, đều sinh tâm hoan hỷ và bạch với đức Phật Quang Minhh:
”Vị tôn giả này làm sao lại đến được cõi nước của chúng ta?”
Phật Quang Miunh Vương đáp:
”Tôn giả Mục-kiền-liên do vì muốn đo lường âm thanh thuyết pháp của Phật Thích-ca vang bao xa, nên mới đến đây”.
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch với Phật Quanh Minh rằng:
”Tôi từ thế giới phương xa đến, bây giờ không biết làm sao để trở về, cúi mong ngài từ bi giúp tôi nhanh chóng trở lại thế giới Ta-bà.”
Phật Quang Minh nói:
”Nếu đem hết sức thần thông của ông cũng không thể trở về được. Song, có một điều hay là nếu ông không quên mất nguồn gốc, chí tâm nhớ tưởng vị thầy của ông, không quên lời dạy của thầy, một lòng đảnh lễ, xưng hiệu danh hiệu đức bổn sư là Phật Thích-ca thì sẽ được an ổn trở về”.
Tôn giả y theo lời dạy, mặt hướng về phương đông và thành tâm thực hành, lập tức trở về thế giới Ta-bà.
Trong đạo tôn sư Hiển-Mật đồng
Mười phương chư Phật thảy như đây
Đệ tử ngu si quên ơn lớn
Đoạ khổ muôn đời đoạ ngục sâu.
1. Câu chuyện này được chép ra từ “Kinh Mật Ngữ”. Nội dung khuyên tất cả người tu hành học Phật, không được quên ân giáo dường của thầy tổ, tức phải ”Tôn sư trọng đạo”.
2. Tất cả những Phật sự thành tựu của người đệ tử toàn bộ đều do thầy tổ truyền trao. Sự truyền dạy của thầy tổ giống như mối quan hệ của những ngọn đèn mồi ánh sáng với nhau. Nếu người đệ tử không kính trọng thầy tổ, thì những gì đã học đã mở tức sẽ bị quên, bị đóng, không thể đưa đến sự thành tựu viên mãn.
3. Quên ân, tức là người không kính trọng sư trưởng, không giữ giới luật, cho dù họ có nghe nhận hiểu Phật pháp ít nhiều, song hiện đời vẫn không được đạo, đời sau phải thọ quả khổ, nghiệp báo sâu nặng.
|
Thanked by 1 Member:
|
|
#21
Gửi vào 24/11/2012 - 09:37
21. Nhúm muối thành núi
Mượn muối chút ít không hoàn trả
Nợ ấy sau tăng dần thành núi
Một vốn ngàn lời sinh sinh mãi
Ngăn tâm quyết chẳng khởi lòng tham.
Trước kia, Tây Hồ thuộc Hàng Châu, tỉnh Triết Giang là thánh địa của Phật giáo Trung Quốc, không những Chùa Phật cất san sát lại thêm rất đông người tại gia tin học Phật pháp. Tại Hàng Châu, có một giai thoại đặc biệt lưu truyền về người cư sĩ tinh chuyên giữ giới. Đây là chuyện thật, chúng ta có thể lấy đó làm khuôn thước trên đường tu hành.
Theo lời kể, thời ấy có một nam cư sĩ tu tại gia, tánh tình điềm đạm, khí chất thanh cao, lại chuyên tâm tu học Phật pháp. Vị cư sĩ ấy lập một am tranh gần Tây Hồ-Hàng Châu tịnh tu. Mỗi ngày, trừ thời gian chuẩn bị cho bữa ăn ngọ, thời gian còn lại vị ấy dành hết để tu hành.
Có hôm, thấy trời đã trưa, vị ấy vội vã ra sau bếp nấu ăn. Khi trộn rau cải nấu thành một nồi kho đạm bạc để dành ăn trong nhiều ngày, nhưng khi coi lại thì muối đã hết. trong lúc gấp, vị ấy vội đi sang nhà bên cạnh mượn muỗng muối về dùng tạm. Nhưng vắng chủ nhà lại đi vắng, vị ấy nghĩ nếu không có muối thì nồi kho không ngon, thôi mượn tạm muống muối trước, sau rồi hãy tính. Nghĩ rồi, vị ấy liền tự tìm muối lấy đem về thất nấu ăn.
Theo lệ thường ai cũng nghĩ muối là vật rẻ tiền không đáng giá bao nhiêu nên vị ấy cũng không chú trọng đến việc mượn muối và cũng quên đem trả cho nhà bên cạnh. Song, muỗng muối truy nhỏ nhưng đây chính là của không cho mà lấy, theo luật nhân quả lại là việc quan trọng. Đức Phật dạy: ”Trong ba độc, tham là đứng đầu”. Trong luật cũng dạy: ”Phàm một bông hoa, một ngọn cỏ không cho mà lấy là phạm tội trộm cắp”.
Một năm sau, khi đang hành thiền, vị ấy bỗng thấy một bóng đen to lớn như đồi núi che trước mặt, và từ đó mỗi ngày hành thiền đều thấy như vậy. Vị ấy để tâm quan sát kỹ bóng đen ấy, hoá ra lại là đồi muối. Cố suy xét cho kỹ hơn nữa, cuối cùng vị ấy cũng nghĩ ra là do năm trước đã mượn một muỗng muối của nhà bên cạnh chưa trả, đến nay nợ muối chồng chất cao đáng sợ.
Vị ấy sợ hãi vô cùng, nghĩ: ”Chí lấy của người một đồng tiền đến năm sau, không biết tiền lãi sẽ sinh như thế nào đây? Thiếu nợ người không trả thì một vốn sinh ra muôn lời. Ôi! Thật đáng sợ”.
Vị ấy đem rất nhiều tiền ra chợ mua cả ngàn bao muối. Sau khi trả tiền muối, tiền vận chuyển xong xuôi, vị ấy dặn người bán chở đến sau vườn ngôi nhà mà người ấy đã mượn muối và bảo với chủ nhà là lúc trước vì thiếu nên nay đem trả.
Từ đó, mỗi khi hành thiền, vị ấy không còn thấy núi muối hiện ra nữa. Cư sĩ ấy đã thấu tột được lý nhân quả nghiệp báo, nên thường cảnh giác bản thân và khuyên bảo mọi người nên tin sâu nhân quả. Nói rằng:
Chớ bảo khe nhỏ dễ đi qua
Phòng bị đá ngầm làm trở ngại.
Kinh Phật dạy: ”Nghiệp báo nhân quả, như bóng với hình” một điểm cũng không sai chạy. Vị ấy kể lại cho người nghe:
”Chỉ sang nhà bên cạnh lấy muỗng muối quên không trả, một năm sau nợ muối cao như núi, một vốn ngàn lời, làm tôi sợ vỡ mật. May mà muối là vật thường dễ tìm, dễ mua mà còn phải tăng nhiều nợ như thế, nếu lấy vàng bạc, châu báu của người thật không biết tính sao đây?”
Vị cư sĩ trịnh trọng khuyên bảo mọi người: ”Lấy một nhúm muối của người thế tục còn nghiêm trọng như thế, nếu như trộm của Tam Bảo thì tội nghiệp còn nặng như thế nào?”
Bồ-tát Địa Tạng Vương nói: ”Nếu có chúng sinh xâm phạm hoặc làm hư hao của thường trụ (khu vực chùa hay tăng chúng thường trụ, trộm cắp tài vật, thức ăn, y phục...) sẽ bị đoạ vào địa ngục Vô gián ngàn muôn ức kiếp, không ngày thoát khỏi”.
Vì sao lấy của thường trụ tội lại nặng như thế? Bởi vì tài vật của chùa hay của tăng chúng đều do tín thí, nếu người lấy tài vật của người tu đem làm của riêng, thì tội này rất nặng, xâm phạm đến của cải của chúng sinh ở mười phương nên không thể sám hối. Sau khi chết, người này nhất định đoạ vào địa ngục vô gián, đau khổ khôn cùng, ngàn muôn ức kiếp mới được sinh vào loài súc sinh, làm thân trâu để đền trả nợ thiếu.
Tài vật tăng chúng thuộc mười phương
Tham lam chiếm đoạt khổ vô cùng
Địa ngục mãn rồi còn nghiệp cũ
Làm trâu muôn kiếp chịu sầu đau.
1. Không luận là người xuất gia hay cư sĩ tại gia, nếu tham cắp vật của Tam Bảo, theo luật cử tội là phạm tội khắp mười phương. Tội này phạm đến nhiều người. Bởi vì vật của Tam Bảo là vật của tín thí mười phương chúng cúng dường. Nếu phạm tội với một người thì có thể sám hối dễ dàng, nếu quấy nhiễu đến chúng khắp mười phương, thì không pháp sám hối, và nhất định rơi vào địa ngục.
Kinh Bảo Nhiễm chép: ”Thà tự ăn thịt mình, không nên phạm vật của Tam Bảo”.
Thông thường, con người chúng ta do vô ý nên rất dễ phạm lỗi lầm lớn. Khi đến chùa, tinh xá, Phật đường…lạm dụng tài vật thường trụ hoặc lấy bừa hoa quả, nước… hoặc ở trong chùa…tự ý quay điện thoại do thường trụ trả chi phí. Những việc trên đều là phạm tội lấy dùng vật Tam Bảo.
2. Ngày xưa có một người không xét kỹ, bởi do tổ tiên, cha mẹ…là những vị đại họ pháp của chùa, những đại thí chủ cúng dường ruộng đất, tứ sự cho tăng chúng rất nhiều. Nhưng con cháu của họ lấy liêu chùa để làm nhà thờ tổ tiên, thậm chí còn tính chiếm đoạt của cải trong chùa. Lại sai người giữ cất tiền và tài vật do thiện tín cúng dường, chỉ cho người xuất gia làm thuê trong chùa…Tội này rất lớn.
Nên biết rằng: Sau khi cúng tài vật của mình cho chùa rồi thì đã thuộc về của thường trụ, không ai có thể dành lấy lại cho gia đình mình; nếu như tổ tiên đã cúng rồi mà con cháu giành lấy lại thì phạm tội rất nặng. Tại sao? Vì đây là công đức của tổ tiên tạo ra, còn con cháu thì không quan hệ gì. Người trước ăn cơm, người sau không thể no.
3. Trường hợp như có người nữ trung niên xuất gia, sau thời gian vị ấy làm ni sư trụ trì rồi chết. Con gái của ni sư lầm nhận của cải tài vật của chùa là tài vật kỷ niệm của mẹ để lại cho mình, giành lấy gây phiền não bất an cho mọi người đang tu trong chùa.
Thật ra, di vật của người xuất gia đều thuộc về vật của Tam bảo, người tại gia ở ngoài không được chiếm hữu, chiếm hữu là phạm tội nặng. Hơn nữa, đời người vô thường, một khi nhắm mắt xuôi tay thì tất cả không thể đem theo được, cần gì chỉ một phút hưởng lạc rồi phải bị quả báo đau khổ đến muôn năm, đâu thể không suy ngẫm!?
Mượn muối chút ít không hoàn trả
Nợ ấy sau tăng dần thành núi
Một vốn ngàn lời sinh sinh mãi
Ngăn tâm quyết chẳng khởi lòng tham.
Trước kia, Tây Hồ thuộc Hàng Châu, tỉnh Triết Giang là thánh địa của Phật giáo Trung Quốc, không những Chùa Phật cất san sát lại thêm rất đông người tại gia tin học Phật pháp. Tại Hàng Châu, có một giai thoại đặc biệt lưu truyền về người cư sĩ tinh chuyên giữ giới. Đây là chuyện thật, chúng ta có thể lấy đó làm khuôn thước trên đường tu hành.
Theo lời kể, thời ấy có một nam cư sĩ tu tại gia, tánh tình điềm đạm, khí chất thanh cao, lại chuyên tâm tu học Phật pháp. Vị cư sĩ ấy lập một am tranh gần Tây Hồ-Hàng Châu tịnh tu. Mỗi ngày, trừ thời gian chuẩn bị cho bữa ăn ngọ, thời gian còn lại vị ấy dành hết để tu hành.
Có hôm, thấy trời đã trưa, vị ấy vội vã ra sau bếp nấu ăn. Khi trộn rau cải nấu thành một nồi kho đạm bạc để dành ăn trong nhiều ngày, nhưng khi coi lại thì muối đã hết. trong lúc gấp, vị ấy vội đi sang nhà bên cạnh mượn muỗng muối về dùng tạm. Nhưng vắng chủ nhà lại đi vắng, vị ấy nghĩ nếu không có muối thì nồi kho không ngon, thôi mượn tạm muống muối trước, sau rồi hãy tính. Nghĩ rồi, vị ấy liền tự tìm muối lấy đem về thất nấu ăn.
Theo lệ thường ai cũng nghĩ muối là vật rẻ tiền không đáng giá bao nhiêu nên vị ấy cũng không chú trọng đến việc mượn muối và cũng quên đem trả cho nhà bên cạnh. Song, muỗng muối truy nhỏ nhưng đây chính là của không cho mà lấy, theo luật nhân quả lại là việc quan trọng. Đức Phật dạy: ”Trong ba độc, tham là đứng đầu”. Trong luật cũng dạy: ”Phàm một bông hoa, một ngọn cỏ không cho mà lấy là phạm tội trộm cắp”.
Một năm sau, khi đang hành thiền, vị ấy bỗng thấy một bóng đen to lớn như đồi núi che trước mặt, và từ đó mỗi ngày hành thiền đều thấy như vậy. Vị ấy để tâm quan sát kỹ bóng đen ấy, hoá ra lại là đồi muối. Cố suy xét cho kỹ hơn nữa, cuối cùng vị ấy cũng nghĩ ra là do năm trước đã mượn một muỗng muối của nhà bên cạnh chưa trả, đến nay nợ muối chồng chất cao đáng sợ.
Vị ấy sợ hãi vô cùng, nghĩ: ”Chí lấy của người một đồng tiền đến năm sau, không biết tiền lãi sẽ sinh như thế nào đây? Thiếu nợ người không trả thì một vốn sinh ra muôn lời. Ôi! Thật đáng sợ”.
Vị ấy đem rất nhiều tiền ra chợ mua cả ngàn bao muối. Sau khi trả tiền muối, tiền vận chuyển xong xuôi, vị ấy dặn người bán chở đến sau vườn ngôi nhà mà người ấy đã mượn muối và bảo với chủ nhà là lúc trước vì thiếu nên nay đem trả.
Từ đó, mỗi khi hành thiền, vị ấy không còn thấy núi muối hiện ra nữa. Cư sĩ ấy đã thấu tột được lý nhân quả nghiệp báo, nên thường cảnh giác bản thân và khuyên bảo mọi người nên tin sâu nhân quả. Nói rằng:
Chớ bảo khe nhỏ dễ đi qua
Phòng bị đá ngầm làm trở ngại.
Kinh Phật dạy: ”Nghiệp báo nhân quả, như bóng với hình” một điểm cũng không sai chạy. Vị ấy kể lại cho người nghe:
”Chỉ sang nhà bên cạnh lấy muỗng muối quên không trả, một năm sau nợ muối cao như núi, một vốn ngàn lời, làm tôi sợ vỡ mật. May mà muối là vật thường dễ tìm, dễ mua mà còn phải tăng nhiều nợ như thế, nếu lấy vàng bạc, châu báu của người thật không biết tính sao đây?”
Vị cư sĩ trịnh trọng khuyên bảo mọi người: ”Lấy một nhúm muối của người thế tục còn nghiêm trọng như thế, nếu như trộm của Tam Bảo thì tội nghiệp còn nặng như thế nào?”
Bồ-tát Địa Tạng Vương nói: ”Nếu có chúng sinh xâm phạm hoặc làm hư hao của thường trụ (khu vực chùa hay tăng chúng thường trụ, trộm cắp tài vật, thức ăn, y phục...) sẽ bị đoạ vào địa ngục Vô gián ngàn muôn ức kiếp, không ngày thoát khỏi”.
Vì sao lấy của thường trụ tội lại nặng như thế? Bởi vì tài vật của chùa hay của tăng chúng đều do tín thí, nếu người lấy tài vật của người tu đem làm của riêng, thì tội này rất nặng, xâm phạm đến của cải của chúng sinh ở mười phương nên không thể sám hối. Sau khi chết, người này nhất định đoạ vào địa ngục vô gián, đau khổ khôn cùng, ngàn muôn ức kiếp mới được sinh vào loài súc sinh, làm thân trâu để đền trả nợ thiếu.
Tài vật tăng chúng thuộc mười phương
Tham lam chiếm đoạt khổ vô cùng
Địa ngục mãn rồi còn nghiệp cũ
Làm trâu muôn kiếp chịu sầu đau.
1. Không luận là người xuất gia hay cư sĩ tại gia, nếu tham cắp vật của Tam Bảo, theo luật cử tội là phạm tội khắp mười phương. Tội này phạm đến nhiều người. Bởi vì vật của Tam Bảo là vật của tín thí mười phương chúng cúng dường. Nếu phạm tội với một người thì có thể sám hối dễ dàng, nếu quấy nhiễu đến chúng khắp mười phương, thì không pháp sám hối, và nhất định rơi vào địa ngục.
Kinh Bảo Nhiễm chép: ”Thà tự ăn thịt mình, không nên phạm vật của Tam Bảo”.
Thông thường, con người chúng ta do vô ý nên rất dễ phạm lỗi lầm lớn. Khi đến chùa, tinh xá, Phật đường…lạm dụng tài vật thường trụ hoặc lấy bừa hoa quả, nước… hoặc ở trong chùa…tự ý quay điện thoại do thường trụ trả chi phí. Những việc trên đều là phạm tội lấy dùng vật Tam Bảo.
2. Ngày xưa có một người không xét kỹ, bởi do tổ tiên, cha mẹ…là những vị đại họ pháp của chùa, những đại thí chủ cúng dường ruộng đất, tứ sự cho tăng chúng rất nhiều. Nhưng con cháu của họ lấy liêu chùa để làm nhà thờ tổ tiên, thậm chí còn tính chiếm đoạt của cải trong chùa. Lại sai người giữ cất tiền và tài vật do thiện tín cúng dường, chỉ cho người xuất gia làm thuê trong chùa…Tội này rất lớn.
Nên biết rằng: Sau khi cúng tài vật của mình cho chùa rồi thì đã thuộc về của thường trụ, không ai có thể dành lấy lại cho gia đình mình; nếu như tổ tiên đã cúng rồi mà con cháu giành lấy lại thì phạm tội rất nặng. Tại sao? Vì đây là công đức của tổ tiên tạo ra, còn con cháu thì không quan hệ gì. Người trước ăn cơm, người sau không thể no.
3. Trường hợp như có người nữ trung niên xuất gia, sau thời gian vị ấy làm ni sư trụ trì rồi chết. Con gái của ni sư lầm nhận của cải tài vật của chùa là tài vật kỷ niệm của mẹ để lại cho mình, giành lấy gây phiền não bất an cho mọi người đang tu trong chùa.
Thật ra, di vật của người xuất gia đều thuộc về vật của Tam bảo, người tại gia ở ngoài không được chiếm hữu, chiếm hữu là phạm tội nặng. Hơn nữa, đời người vô thường, một khi nhắm mắt xuôi tay thì tất cả không thể đem theo được, cần gì chỉ một phút hưởng lạc rồi phải bị quả báo đau khổ đến muôn năm, đâu thể không suy ngẫm!?
|
Thanked by 2 Members:
|
,
|
#22
Gửi vào 24/11/2012 - 09:43
22. Lòng thành cúng Phật
Chí thành cúng Phật sinh bốn con
Thương, nông học quả đều viên thành
Giàu sang, phú quý đồng thành đạt
Phát nguyện xuất gia độ hữu tình.
Tin Phật và học Phật, thì điều quan trọng là cần phải hành trì ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện của Phật đã dạy.
1. Cần phải đầy đủ lòng tin kiên cố. Tin giáo pháp Phật đã nói chân thật không hư dối; tin Phật, Pháp, Tăng là ruộng phước vô lượng của chúng sinh; tin nghiệp báo nhân quả thiện ác, như bóng theo hình; tin học Phật tu hành, có thể thoát khỏi sự thống khổ trong luân hồi sinh tử, vĩnh viễn được niềm vui an lạc thanh tịnh Niết-bàn.
2. Phát thệ nguyện lâu dài không lui sụt. Phát nguyện tu học, hoằng dương Phật pháp; chí cầu thành tựu quả Phật, thệ nguyện rộng độ tất cả chúng sinh, đồng được thành Phật.
3. Tinh tấn hành trì giáo pháp của Phật. Phải là người thật tu thật học, thường gần gũi thầy sáng bạn lành, tu học theo sự hưỡng dẫn của bậc thiện tri thức theo chánh pháp.
Đoạn chuyện nhân duyên được truyền ghi sau đây, là câu chuyện có thật. Chuyện về người có tín tâm với Tam Bảo, khéo thực hành đúng lời Phật dạy về ba môn giải thoát: Tín Hạnh, Nguyện.
Cách nay khoảng 2500 năm khi ấy đức Phật Thích-ca đang giáo hoá khắp mọi khu vực vùng Trung Ấn Độ, Địa phương ấy có một tín nữ hết sức kính tín Phật pháp. Hàng ngày, cô thường đến cúng dường Phật và chúng tăng, không sót ngày nào. Đức Phật biết rõ nguyện vọng trong tâm của cô ấy, một hôm Ngài cố ý hỏi:
”Này nữ cư sĩ, con chân thành cúng dường Tam Bảo, có nguyện cầu nào không?”
Cô ấy cung kính quỳ lễ thưa:
”Bạch Thế Tôn, nếu như việc làm của con được phước báo, thì con nguyện cho con sinh được bốn người con trai”.
Phật hỏi:
”Vì sao con lại mong cầu như thế?”
Cô đáp:
”Bạch Thế Tôn, nếu con có được bốn người con trai, con sẽ nuôi dưỡng chúng khôn lớn. Đứa con cả con sẽ cho nó đi buôn bán để kiếm được nhiều tiền; đứa thứ hai cho học cách làm ruộng, sản xuất lúa gạo và các thứ hoa mầu cần thiết; dạy đứa thứ ba dụng tâm cầu học đỗ quan, sau này có thể che chở cho dòng họ; còn đứa út, con sẽ hướng dẫn cho nó xuất gia tu hành học Phật pháp, sau khi đắc đạo sẽ cứu độ cha mẹ và tất cả chúng sinh. Đó là ước nguyện của con.
Đức Phật nói:
”Tốt lắm, con sẽ được toại nguyện”.
Cô cư sĩ vui mừng khôn kể, lễ tạ Phật xong liền trở về nhà. Không lâu sau, cô có thai và sinh được một bé trai. Cậu bé thông minh lanh lợi, hơn hẳn những đứa trẻ đồng trang lứa. Khi câu trai khôn lớn, một hôm hỏi mẹ:
”Vì sao mẹ lại yêu thương con nhiều quá như thế?”
Người mẹ đáp:
”Mẹ vốn mong muốn sinh được bốn đứa con trai cho mỗi đứa học một nghề. Nhưng bây giờ chỉ có mình con, nên tình thương của mẹ dành hết cho con”.
Rồi người mẹ kể về niềm mong ước của mình nếu sinh được bốn đứa con. Người con trai nghe tâm sự của mẹ, ghi nhớ trong lòng không quên. Trước hết, cậu ấy đi học nghề buôn bán để có tiền nuôi sống gia đình. Nhờ thông minh lanh lẹ mà chỉ trong vòng một năm, cậu kiếm được nhiều tiền và trở thành người giàu có.
Tiếp đó, cậu lại đổi sang làm nghề ruộng, trồng trọt nhiều cây nông nghiệp, do thông minh làm việc đúng pháp nên kết quả thu hoặch rất cao, mọi người đều hâm mộ và thán phục cậu ấy. Nhưng rồi cậu lại chuyển sang con đường chữ nghĩa, tiến thân bằng con đường quan chức, và cũng được thành tựu ước nguyện.
Về sau, cậu trai ấy cưới vợ, không lâu sau sinh được một bé trai kháu khỉnh, gia đình hạnh phúc, phúc lộc thọ đầy đủ, giàu sang nổi tiếng một thời. Thời gian trôi qua, người con trai thưa với mẹ:
”Mẹ mong có bốn người con trai để làm đủ các việc. Nhưng nay chỉ có một mình con mà con đã thành tựu được ba nguyện rồi, nếu bây giờ con xuất gia tu hành thì bốn nguyện của mẹ đều được thành tựu cả”.
Người mẹ nghĩ: ”Ta vốn muốn như vậy, nhưng nay tất cả việc làm của con đều vượt ra ngoài nguyện vọng của mẹ, bây giờ con hãy xuất gia học đạo, thế là nguyện vọng của mẹ được tràn đầy”.
Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ, người con trai vô cùng hoan hỷ thắng đến xin phép Phật được học xuất gia. Đức Phật cho phép người con trai xuất gia và nói pháp giáo hoá. Sau khi được nghe lời giảng dạy của Phật, người ấy tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.
Sau đó, vị Tỳ-kheo liền trở về nhà vì cha mẹ nói pháp, độ song thân ra khỏi biển khổ. Thầy Tỳ-kheo lại còn vì mọi người rộng nói pháp phật, khiến mọi người đều có tín tâm với Phật pháp. Ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện là đảnh báu đẹp có ba chân, thiếu một chân không thể.
Tất cả các bậc hiền thánh hay người đời đều do ba môn giải thoát này được thành tựu đạo quả. Sự tu học Phật pháp hoặc phát nguyện thành phước thành tựu hay không đều do tâm chí mà ra. Ý CHÍ là kim chỉ nam, người có chí thì được thành tựu.
Phật giáo có ba môn Tín Hạnh Nguyện
Tự, tha thánh quả đều trọn thành
Vô biên phước huệ do đây được
Tinh tấn tu hành tuệ giác sinh.
Chí thành cúng Phật sinh bốn con
Thương, nông học quả đều viên thành
Giàu sang, phú quý đồng thành đạt
Phát nguyện xuất gia độ hữu tình.
Tin Phật và học Phật, thì điều quan trọng là cần phải hành trì ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện của Phật đã dạy.
1. Cần phải đầy đủ lòng tin kiên cố. Tin giáo pháp Phật đã nói chân thật không hư dối; tin Phật, Pháp, Tăng là ruộng phước vô lượng của chúng sinh; tin nghiệp báo nhân quả thiện ác, như bóng theo hình; tin học Phật tu hành, có thể thoát khỏi sự thống khổ trong luân hồi sinh tử, vĩnh viễn được niềm vui an lạc thanh tịnh Niết-bàn.
2. Phát thệ nguyện lâu dài không lui sụt. Phát nguyện tu học, hoằng dương Phật pháp; chí cầu thành tựu quả Phật, thệ nguyện rộng độ tất cả chúng sinh, đồng được thành Phật.
3. Tinh tấn hành trì giáo pháp của Phật. Phải là người thật tu thật học, thường gần gũi thầy sáng bạn lành, tu học theo sự hưỡng dẫn của bậc thiện tri thức theo chánh pháp.
Đoạn chuyện nhân duyên được truyền ghi sau đây, là câu chuyện có thật. Chuyện về người có tín tâm với Tam Bảo, khéo thực hành đúng lời Phật dạy về ba môn giải thoát: Tín Hạnh, Nguyện.
Cách nay khoảng 2500 năm khi ấy đức Phật Thích-ca đang giáo hoá khắp mọi khu vực vùng Trung Ấn Độ, Địa phương ấy có một tín nữ hết sức kính tín Phật pháp. Hàng ngày, cô thường đến cúng dường Phật và chúng tăng, không sót ngày nào. Đức Phật biết rõ nguyện vọng trong tâm của cô ấy, một hôm Ngài cố ý hỏi:
”Này nữ cư sĩ, con chân thành cúng dường Tam Bảo, có nguyện cầu nào không?”
Cô ấy cung kính quỳ lễ thưa:
”Bạch Thế Tôn, nếu như việc làm của con được phước báo, thì con nguyện cho con sinh được bốn người con trai”.
Phật hỏi:
”Vì sao con lại mong cầu như thế?”
Cô đáp:
”Bạch Thế Tôn, nếu con có được bốn người con trai, con sẽ nuôi dưỡng chúng khôn lớn. Đứa con cả con sẽ cho nó đi buôn bán để kiếm được nhiều tiền; đứa thứ hai cho học cách làm ruộng, sản xuất lúa gạo và các thứ hoa mầu cần thiết; dạy đứa thứ ba dụng tâm cầu học đỗ quan, sau này có thể che chở cho dòng họ; còn đứa út, con sẽ hướng dẫn cho nó xuất gia tu hành học Phật pháp, sau khi đắc đạo sẽ cứu độ cha mẹ và tất cả chúng sinh. Đó là ước nguyện của con.
Đức Phật nói:
”Tốt lắm, con sẽ được toại nguyện”.
Cô cư sĩ vui mừng khôn kể, lễ tạ Phật xong liền trở về nhà. Không lâu sau, cô có thai và sinh được một bé trai. Cậu bé thông minh lanh lợi, hơn hẳn những đứa trẻ đồng trang lứa. Khi câu trai khôn lớn, một hôm hỏi mẹ:
”Vì sao mẹ lại yêu thương con nhiều quá như thế?”
Người mẹ đáp:
”Mẹ vốn mong muốn sinh được bốn đứa con trai cho mỗi đứa học một nghề. Nhưng bây giờ chỉ có mình con, nên tình thương của mẹ dành hết cho con”.
Rồi người mẹ kể về niềm mong ước của mình nếu sinh được bốn đứa con. Người con trai nghe tâm sự của mẹ, ghi nhớ trong lòng không quên. Trước hết, cậu ấy đi học nghề buôn bán để có tiền nuôi sống gia đình. Nhờ thông minh lanh lẹ mà chỉ trong vòng một năm, cậu kiếm được nhiều tiền và trở thành người giàu có.
Tiếp đó, cậu lại đổi sang làm nghề ruộng, trồng trọt nhiều cây nông nghiệp, do thông minh làm việc đúng pháp nên kết quả thu hoặch rất cao, mọi người đều hâm mộ và thán phục cậu ấy. Nhưng rồi cậu lại chuyển sang con đường chữ nghĩa, tiến thân bằng con đường quan chức, và cũng được thành tựu ước nguyện.
Về sau, cậu trai ấy cưới vợ, không lâu sau sinh được một bé trai kháu khỉnh, gia đình hạnh phúc, phúc lộc thọ đầy đủ, giàu sang nổi tiếng một thời. Thời gian trôi qua, người con trai thưa với mẹ:
”Mẹ mong có bốn người con trai để làm đủ các việc. Nhưng nay chỉ có một mình con mà con đã thành tựu được ba nguyện rồi, nếu bây giờ con xuất gia tu hành thì bốn nguyện của mẹ đều được thành tựu cả”.
Người mẹ nghĩ: ”Ta vốn muốn như vậy, nhưng nay tất cả việc làm của con đều vượt ra ngoài nguyện vọng của mẹ, bây giờ con hãy xuất gia học đạo, thế là nguyện vọng của mẹ được tràn đầy”.
Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ, người con trai vô cùng hoan hỷ thắng đến xin phép Phật được học xuất gia. Đức Phật cho phép người con trai xuất gia và nói pháp giáo hoá. Sau khi được nghe lời giảng dạy của Phật, người ấy tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.
Sau đó, vị Tỳ-kheo liền trở về nhà vì cha mẹ nói pháp, độ song thân ra khỏi biển khổ. Thầy Tỳ-kheo lại còn vì mọi người rộng nói pháp phật, khiến mọi người đều có tín tâm với Phật pháp. Ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện là đảnh báu đẹp có ba chân, thiếu một chân không thể.
Tất cả các bậc hiền thánh hay người đời đều do ba môn giải thoát này được thành tựu đạo quả. Sự tu học Phật pháp hoặc phát nguyện thành phước thành tựu hay không đều do tâm chí mà ra. Ý CHÍ là kim chỉ nam, người có chí thì được thành tựu.
Phật giáo có ba môn Tín Hạnh Nguyện
Tự, tha thánh quả đều trọn thành
Vô biên phước huệ do đây được
Tinh tấn tu hành tuệ giác sinh.
|
Thanked by 2 Members:
|
,
|
#23
Gửi vào 24/11/2012 - 09:49
23. Ác ý khinh tăng
Ngạ quỷ bụng to, thân bị thiêu cháy
Muôn kiếp ngàn đời, sống rất khổ đau
Vợ dốt, keo tham bày mưu kế độc
Cúng tăng vật uế, chịu khổ khôn lường.
Vua Tần-bà-sa-la quốc vương nước Ma-kiệt-đà ở miền nam nước Ấn Độ là vị đại hộ pháp của Phật giáo thời bấy giờ. Vua thường cung thỉnh đức Phật thuyết pháp, đặc biệt xây dựng giảng đường rộng lớn ở ngoại thành Vương Xá, đó là Tịnh xá Trúc Lâm. Tịnh xá này là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất thế giới, đức Phật thường ngự ở đây nói pháp độ sinh.
Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là hai đệ tử thuộc hàng thượng thủ của đức Phật. Mỗi ngày trước khi thọ thực, hai vị thường khởi lòng từ bi dùng thần thông quán xét chúng sinh có nhân duyên cứu độ đang chịu khổ trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sau đó ngài mới thọ thực.
Một hôm, tôn giả Mục-kiền-liên quán xem thấy một ngạ quỷ bị nghiệp lực hành hạ rất đáng thương. Thân của nữ ngạ quỷ ấy giống như cây cột bị thiêu cháy, cái bụng giống như gò núi, cổ họng nhỏ như cây kim, không thể nuốt vật gì vào được. Do nghiệp lực nên bất cứ ăn thức ăn nào đưa đến miệng đều biến thành lửa than. Trong miệng lại luôn phát ra lửa đỏ, thiết đốt mặt mày cả ngày lẫn đêm. Tóc trên đầu sắc bén như dao kiếm cắt thân thể làm máu luôn chảy mãi, tứ chi đều phát lửa tự đốt, thật thống khổ không thể nào tả hết.
Tôn giả thấy cảnh ngạ quỷ thọ khổ kia, khởi tâm thương xót, dùng thần thông đến trước mặt quỷ ấy hỏi:
”Trước kia bà tạo tội gì, mà nay phải chịu quả báo thảm thương như thế?”
Nữ ngạ quỷ đáp:
”Nay tôi bị hành hạ khổ sở thế này, không còn chút khí lực nào để đáp lời hỏi của tôn giả, hiện nay có đức Phật ra đời, vì chúng sinh nói pháp giải thoát, trí của Ngài sáng như mặt trời, đối với tất cả nghiệp lành dữ phát xuất từ ba nghiệp thân khẩu ý của chúng sinh trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, Phật đều biết rõ, xin tôn giả hãy đến hỏi đức Phật”.
Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên trở về tinh xá nơi đức Phật đang ngự, thưa hỏi nguyên do nào mà ngạ quỷ kia lại bị tội khổ như thế? Khi ấy, sau khi thuyết pháp xong, đức Thế Tôn nhìn thấy tôn giả Mục-kiền-liên đang có mặt trong pháp hội và đảnh lễ Phật, nên hỏi:
“Mục-Liên, hôm nay ông phát hiện ra điều gì mới lạ chăng?”
Tôn giả kể lại sự việc đã thấy nghe và thưa:
”Bạch Thế Tôn, khi còn sống ngạ quỷ ấy đã tạo tội gì mà nay phải chịu vô vàn thống khổ như thế, cúi xin Thế Tôn từ bi nói rõ cho con cùng tất cả hội chúng đây biết rõ mà ngăn ngừa lỗi lầm về sau”.
Đức Thế Tôn nói:
” rước kia, trong thành Xá-vệ có một người giàu có nhiều phước đức, trong nhà mướn rất nhiều người làm công phụ giúp việc mua bán nước mía, nên trở thành người giàu có. Lúc ấy, có vị xuất gia tu hành chứng quả Bích-Chi-Phật, rộng độ chúng sinh. Vị Bích Chi Phật đang mang bệnh nên thân thể mệt nhọc bất an, cần nước uống cho đỡ nhiệt.
Có người mách chỉ, nên Vị Bích Chi mang bát đến trước cửa nhà phú gia bán nước mía, xin khất thực nước ấy. Vị chủ nhà đạo đức thấy vị xuất gia rất hoan hỉ và cung kính. Nhưng khi ấy, ông có việc phải đi gấp nên không kịp lấy nước mía cúng dường cho vị tăng, nên ân cần dặn vợ:
”Phú-na-kỳ, bà thay tôi ép nước mía cúng dường vị sư này”.
Người vợ trả lời:
”Ông an tâm, tôi sẽ cúng dường thay ông”.
Sau khi chồng đi rồi, người vợ nghĩ thầm:
Nước mía nhà ta trước nay chỉ bán, nếu hôm nay phá lệ cho không thì e rằng sau này sẽ có nhiều người đến xin, lúc đó đâu không phải là phiền não sao!”
Vì tâm bỏn xẻn, nên khi ấy người vợ sinh niệm xấu, đến lấy bát của vị sư đem ra sau tiểu vào đó rồi đổ một ít nước mía đem ra đưa cho vị sư. Riêng vị sư khi nhận ra bát nước nhơ uế ấy đi xa xa đổ ra đất trống và tẩy rửa bát thật sạch, rồi trở về chỗ ở. Còn người vợ bỏn xẻn kia không lâu sau thì qua đời đoạ vào loài ngạ quỷ chịu đói khổ như đã thấy.
Chúng sinh sa vào đường ác
Do tâm bỏn sẻn phải mất thân người
Quả báo muôn đời nếu hết
Làm người hèn mọn, lại nghèo xác xơ.
Kinh ghi: ”Nếu người đối với Tam bảo sinh lòng cung kính thì phước đức vô lượng vô biên, ngược lại, nếu ai có tâm không cung kính thì tội báo cũng vô lượng vô biên”.
Có người nói: ”Do không biết nên không có tội”, câu nói này sai lầm. Bà Phú-na-kỳ vì không biết kính trọng người tu, ham tiền khinh người nên tạo nghiệp ác xấu, phải chịu quả khổ đến thế”.
Cổ đức nói: ”Có thể làm những việc khó như khiến cho muôn ngàn ánh trăng dưới mặt sông lay động, không những không nên khuấy nhiễu đạo tâm của người xuất gia, vì tội kia rất nặng”.
Ngạ quỷ bụng to, thân bị thiêu cháy
Muôn kiếp ngàn đời, sống rất khổ đau
Vợ dốt, keo tham bày mưu kế độc
Cúng tăng vật uế, chịu khổ khôn lường.
Vua Tần-bà-sa-la quốc vương nước Ma-kiệt-đà ở miền nam nước Ấn Độ là vị đại hộ pháp của Phật giáo thời bấy giờ. Vua thường cung thỉnh đức Phật thuyết pháp, đặc biệt xây dựng giảng đường rộng lớn ở ngoại thành Vương Xá, đó là Tịnh xá Trúc Lâm. Tịnh xá này là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất thế giới, đức Phật thường ngự ở đây nói pháp độ sinh.
Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là hai đệ tử thuộc hàng thượng thủ của đức Phật. Mỗi ngày trước khi thọ thực, hai vị thường khởi lòng từ bi dùng thần thông quán xét chúng sinh có nhân duyên cứu độ đang chịu khổ trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sau đó ngài mới thọ thực.
Một hôm, tôn giả Mục-kiền-liên quán xem thấy một ngạ quỷ bị nghiệp lực hành hạ rất đáng thương. Thân của nữ ngạ quỷ ấy giống như cây cột bị thiêu cháy, cái bụng giống như gò núi, cổ họng nhỏ như cây kim, không thể nuốt vật gì vào được. Do nghiệp lực nên bất cứ ăn thức ăn nào đưa đến miệng đều biến thành lửa than. Trong miệng lại luôn phát ra lửa đỏ, thiết đốt mặt mày cả ngày lẫn đêm. Tóc trên đầu sắc bén như dao kiếm cắt thân thể làm máu luôn chảy mãi, tứ chi đều phát lửa tự đốt, thật thống khổ không thể nào tả hết.
Tôn giả thấy cảnh ngạ quỷ thọ khổ kia, khởi tâm thương xót, dùng thần thông đến trước mặt quỷ ấy hỏi:
”Trước kia bà tạo tội gì, mà nay phải chịu quả báo thảm thương như thế?”
Nữ ngạ quỷ đáp:
”Nay tôi bị hành hạ khổ sở thế này, không còn chút khí lực nào để đáp lời hỏi của tôn giả, hiện nay có đức Phật ra đời, vì chúng sinh nói pháp giải thoát, trí của Ngài sáng như mặt trời, đối với tất cả nghiệp lành dữ phát xuất từ ba nghiệp thân khẩu ý của chúng sinh trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, Phật đều biết rõ, xin tôn giả hãy đến hỏi đức Phật”.
Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên trở về tinh xá nơi đức Phật đang ngự, thưa hỏi nguyên do nào mà ngạ quỷ kia lại bị tội khổ như thế? Khi ấy, sau khi thuyết pháp xong, đức Thế Tôn nhìn thấy tôn giả Mục-kiền-liên đang có mặt trong pháp hội và đảnh lễ Phật, nên hỏi:
“Mục-Liên, hôm nay ông phát hiện ra điều gì mới lạ chăng?”
Tôn giả kể lại sự việc đã thấy nghe và thưa:
”Bạch Thế Tôn, khi còn sống ngạ quỷ ấy đã tạo tội gì mà nay phải chịu vô vàn thống khổ như thế, cúi xin Thế Tôn từ bi nói rõ cho con cùng tất cả hội chúng đây biết rõ mà ngăn ngừa lỗi lầm về sau”.
Đức Thế Tôn nói:
” rước kia, trong thành Xá-vệ có một người giàu có nhiều phước đức, trong nhà mướn rất nhiều người làm công phụ giúp việc mua bán nước mía, nên trở thành người giàu có. Lúc ấy, có vị xuất gia tu hành chứng quả Bích-Chi-Phật, rộng độ chúng sinh. Vị Bích Chi Phật đang mang bệnh nên thân thể mệt nhọc bất an, cần nước uống cho đỡ nhiệt.
Có người mách chỉ, nên Vị Bích Chi mang bát đến trước cửa nhà phú gia bán nước mía, xin khất thực nước ấy. Vị chủ nhà đạo đức thấy vị xuất gia rất hoan hỉ và cung kính. Nhưng khi ấy, ông có việc phải đi gấp nên không kịp lấy nước mía cúng dường cho vị tăng, nên ân cần dặn vợ:
”Phú-na-kỳ, bà thay tôi ép nước mía cúng dường vị sư này”.
Người vợ trả lời:
”Ông an tâm, tôi sẽ cúng dường thay ông”.
Sau khi chồng đi rồi, người vợ nghĩ thầm:
Nước mía nhà ta trước nay chỉ bán, nếu hôm nay phá lệ cho không thì e rằng sau này sẽ có nhiều người đến xin, lúc đó đâu không phải là phiền não sao!”
Vì tâm bỏn xẻn, nên khi ấy người vợ sinh niệm xấu, đến lấy bát của vị sư đem ra sau tiểu vào đó rồi đổ một ít nước mía đem ra đưa cho vị sư. Riêng vị sư khi nhận ra bát nước nhơ uế ấy đi xa xa đổ ra đất trống và tẩy rửa bát thật sạch, rồi trở về chỗ ở. Còn người vợ bỏn xẻn kia không lâu sau thì qua đời đoạ vào loài ngạ quỷ chịu đói khổ như đã thấy.
Chúng sinh sa vào đường ác
Do tâm bỏn sẻn phải mất thân người
Quả báo muôn đời nếu hết
Làm người hèn mọn, lại nghèo xác xơ.
Kinh ghi: ”Nếu người đối với Tam bảo sinh lòng cung kính thì phước đức vô lượng vô biên, ngược lại, nếu ai có tâm không cung kính thì tội báo cũng vô lượng vô biên”.
Có người nói: ”Do không biết nên không có tội”, câu nói này sai lầm. Bà Phú-na-kỳ vì không biết kính trọng người tu, ham tiền khinh người nên tạo nghiệp ác xấu, phải chịu quả khổ đến thế”.
Cổ đức nói: ”Có thể làm những việc khó như khiến cho muôn ngàn ánh trăng dưới mặt sông lay động, không những không nên khuấy nhiễu đạo tâm của người xuất gia, vì tội kia rất nặng”.
|
Thanked by 2 Members:
|
,
|
#24
Gửi vào 24/11/2012 - 09:55
24. Nghiệp cũ khó tiêu
Đời trước ác tâm huỷ báng người
Tội kia trả gấp tám ngàn lần
Tâm miệng xấu xa gieo tai hoạ
Chẳng nên kết oán với người tu
Ba đường chịu khổ không ngừng dứt
Đời sau trả nợ chồng chất thêm
Ngày nay chứng quả A-la-hán
Đền trả nghiệp xưa mười hai năm
Thuở xưa, tại nước Kế Tâm thuộc miền bắc Ấn Độ có một vị thánh tên Ly-việt vang danh là bậc tu hành chứng qủa. Khi tuổi còn thơ, ngài đã biết được mạng sống mong manh tạm bợ, cuộc đời vô thường, khổ, không, vô ngã nên xin xuất gia học đạo. Khi trưởng thành, lại tìm vào núi sâu ẩn mình tu tập khổ hạnh, chẳng bao lâu chứng được quả A-la-hán, đủ sáu phép thần thông.
Tuy chứng đạo, song ngài vẫn ẩn tu nơi núi rừng, nhiều người hay biết tìm đến cầu xin học đạo. Ngài thường quán xét căn cơ đệ tử rồi tuỳ bệnh cho thuốc. Hàng trăm đệ tử của ngài cũng chứng quả A-la-hán và đi khắp nơi để giáo hoá độ sinh; chỉ còn ngài, vị A-la-hán già ẩn tu trong núi.
Một hôm, vị A-la-hán Ly-việt làm vệ sinh nơi khu hang động, thấy chiếc y-bá-nạp của mình đã bạc màu trắng. Ngài vào núi tìm vỏ cây, lá cỏ về để nhuộm chiếc y màu xám trước, sau đó đem y bỏ vào nồi nấu nhuộm. Giây lát lão La-hán mở nồi dùng hai cành cây nhỏ trở chiếc y cho đều, hoá ra y ấy đã trở thành da trâu; rễ cây, lá cỏ lại biến thành thịt trâu; nước nhuộm trở thành máu; thịt trâu phát ra mùi vị lạ lùng.
Lão la-hán thấy vậy thở dài: ”Nghiệp chướng của ta đã tới rồi! Luật nhân quả không thể nghĩ bàn. Người sống để thân khẩu ý buông lung tạo ác, nhân quả báo ứng đuổi theo không bao giờ mất."
Bất chợt, lúc ấy có người nông dân dưới núi chạy đến la lối quát tháo:
”Này lão hoà thượng! Ông là người xuất gia sao lại phạm giới sát? Trong núi có nhiều chó, heo rừng ăn không đủ sao mà lại giết con trâu cày của ta nữa? Mới sáng nay, ta vừa dắt con trâu nhà lên đây ăn cỏ, chốc lát lại không thấy đâu, tìm khắp nơi, thì ra ông đã bắt giết nó để làm thịt ăn”.
Nông dân kia mang nồi thịt trâu đi và bắt buộc lão Tỳ-kheo phải theo ông đến trình diện với vua.(Ngày xưa, đời sống con người chưa đủ tiện nghi nên chưa có quan đường như sau này, nếu ai cần minh oan điều gì thì đến cầu xin thỉnh vua xét xử).
Vua nước Kế Tân hỏi nguyên nhân sự việc thưa kiện. Người nông dân trình bày việc mất trâu. Nhà vua hỏi lão Tỳ-kheo có đúng là bắt trâu của người giết ăn thịt không? Lão Tỳ-kheo thưa:
”Đại vương! Đây là oan khúc của tôi, thật khó dùng lời biện minh cho được”.
Nhà vua phán quyết:
”Bị cáo không biện minh, lại thêm chứng cớ rõ ràng, tội trộm khó tha. Đã là người xuất gia mà còn tạo tội sát sinh lại thêm phạm giới trộm cắp, cả hai đều là giới căn bản của đạo. Đứng về mặt pháp luật cũng như giới luật đều không cho phép, nên tội này nhất định không tha”.
Cuối cùng, lão Tỳ-kheo Ly-việt bị xử án ngồi tù 12 năm. Mười hai năm trôi qua, tính ra cả thảy 4.380 ngày. Trong nhà giam, lão Tỳ-kheo luôn an ổn, siêng năng lao tác và tinh tấn tu hành. Sự khoan hoà, nhẫn nhục và định lực do công phu tu hành toả ra từ âm thanh tịnh của người đạt đạo đã khiến cho quân lính cai ngục đều khâm phục và hết lời tán thán.
Ngày mãn hạn đã đến, tất cả các đệ tử trước kia đồng tưởng nhớ đến sư phụ. Một trăm vị đệ tử La-hán nhờ sức thần thông nhận biết ân sư vì nghiệp quả nên đã ngồi tù suốt 12 năm, giờ đây cả thảy dùng thần thông bay đến cung vua, đứng trên không đánh trống chờ đón sư phụ.
Nhà vua thấy có nhiều người thần thông quảng đại đứng trên không phía trước nhà lao, nên trong lòng kinh sợ, vội đến ngục thả lão Tỳ-kheo ra. Sau khi ra khỏi ngục, lão Tỳ-kheo bay lên hư không, phóng ra ánh sáng lớn cùng các thứ thần biến một thân biến thành nhiều thân… Lúc đó, ai nấy đều trách nhà vua xét xử không rõ ràng, song lão Tỳ-kheo ngăn cản:
”Không nên oán trách như thế, đây chính là nghiệp báo mà ta phải trả cho xong”.
Lão Tỳ-kheo Ly-việt liền kể lại nhân duyên tạo nghiệp của mình cho đại chúng nghe:” Thời quá khứ, một kiếp tôi sinh làm nông dân. Ngày kia tôi bị mất trâu nên tìm kiếm khắp nơi. Khi ấy, trong rừng không có ai ngoài một người xuất gia đang ẩn tu. Tôi vì mất trâu nên cũng mất khôn, cứ đổ thừa đại cho người bắt trâu của mình dẫn đi dấu.
Do tâm ngu khởi nên tôi đã dùng nhiều lời ác độc quấy nhiễu người tu kia trong 12 giờ liền, rồi đánh đuổi vị ấy ra khỏi núi, đem giao cho nhà vua giam cầm trong ngục. Thuở trước tôi tạo nghiệp 12 giờ, nay phải ngồi tù 12 năm, giống như mượn tiền sinh lãi, để càng lâu thì càng lãi tăng. Ngày nay tôi phải trả nợ nhiều gấp tám ngàn lần. Nếu như có ai hết lòng tu thiện tạo công đức, nên nhớ là tuy mất một nhưng lại được muôn ngàn phước báo và nếu buông lung tâm ý chỉ cần một chút sai lầm thôi, khi hội đủ duyên phải chịu đền nợ trước”.
Mắng người tội ấy ngày càng tăng
Tâm ác ngu si điên đảo sanh
Một vốn ngàn lời sinh sôi mãi
Hối hận đến đâu, tội phải đền.
1. Dùng lời huỷ báng, hoặc dùng giấy bút mắng chửi người xuất gia, quyết định người này phải đoạ địa ngục Vô Gián. Nếu tạo một khẩu nghiệp thì quả khổ gấp đôi, chúng ta không nên tạo nghiệp để phải thiếu nợ mọi người như thế.
2. Khẩu nghiệp là một nghiệp ác trong thập ác, tội này thật không gì sánh bằng. Rất nhiều kinh Phật được nói về tội ác khẩu. Nếu người đối với Phật, pháp, tăng tạo khẩu nghiệp, nên phải mau chí hướng tâm về Tam bảo thành tâm sám hối, bằng không về sau tội nặng không tính được.
3. Con người rất dễ gây tạo khẩu nghiệp, tạo nhiều nghiệp miệng như núi lớn, chúng sinh ngu si thường đùa giỡn với khẩu nghiệp. Người tin học Phật pháp, hiểu lẽ thật ấy, đâu thể tạo nghiệp rồi chuốc hoạ vào thân.
Đời trước ác tâm huỷ báng người
Tội kia trả gấp tám ngàn lần
Tâm miệng xấu xa gieo tai hoạ
Chẳng nên kết oán với người tu
Ba đường chịu khổ không ngừng dứt
Đời sau trả nợ chồng chất thêm
Ngày nay chứng quả A-la-hán
Đền trả nghiệp xưa mười hai năm
Thuở xưa, tại nước Kế Tâm thuộc miền bắc Ấn Độ có một vị thánh tên Ly-việt vang danh là bậc tu hành chứng qủa. Khi tuổi còn thơ, ngài đã biết được mạng sống mong manh tạm bợ, cuộc đời vô thường, khổ, không, vô ngã nên xin xuất gia học đạo. Khi trưởng thành, lại tìm vào núi sâu ẩn mình tu tập khổ hạnh, chẳng bao lâu chứng được quả A-la-hán, đủ sáu phép thần thông.
Tuy chứng đạo, song ngài vẫn ẩn tu nơi núi rừng, nhiều người hay biết tìm đến cầu xin học đạo. Ngài thường quán xét căn cơ đệ tử rồi tuỳ bệnh cho thuốc. Hàng trăm đệ tử của ngài cũng chứng quả A-la-hán và đi khắp nơi để giáo hoá độ sinh; chỉ còn ngài, vị A-la-hán già ẩn tu trong núi.
Một hôm, vị A-la-hán Ly-việt làm vệ sinh nơi khu hang động, thấy chiếc y-bá-nạp của mình đã bạc màu trắng. Ngài vào núi tìm vỏ cây, lá cỏ về để nhuộm chiếc y màu xám trước, sau đó đem y bỏ vào nồi nấu nhuộm. Giây lát lão La-hán mở nồi dùng hai cành cây nhỏ trở chiếc y cho đều, hoá ra y ấy đã trở thành da trâu; rễ cây, lá cỏ lại biến thành thịt trâu; nước nhuộm trở thành máu; thịt trâu phát ra mùi vị lạ lùng.
Lão la-hán thấy vậy thở dài: ”Nghiệp chướng của ta đã tới rồi! Luật nhân quả không thể nghĩ bàn. Người sống để thân khẩu ý buông lung tạo ác, nhân quả báo ứng đuổi theo không bao giờ mất."
Bất chợt, lúc ấy có người nông dân dưới núi chạy đến la lối quát tháo:
”Này lão hoà thượng! Ông là người xuất gia sao lại phạm giới sát? Trong núi có nhiều chó, heo rừng ăn không đủ sao mà lại giết con trâu cày của ta nữa? Mới sáng nay, ta vừa dắt con trâu nhà lên đây ăn cỏ, chốc lát lại không thấy đâu, tìm khắp nơi, thì ra ông đã bắt giết nó để làm thịt ăn”.
Nông dân kia mang nồi thịt trâu đi và bắt buộc lão Tỳ-kheo phải theo ông đến trình diện với vua.(Ngày xưa, đời sống con người chưa đủ tiện nghi nên chưa có quan đường như sau này, nếu ai cần minh oan điều gì thì đến cầu xin thỉnh vua xét xử).
Vua nước Kế Tân hỏi nguyên nhân sự việc thưa kiện. Người nông dân trình bày việc mất trâu. Nhà vua hỏi lão Tỳ-kheo có đúng là bắt trâu của người giết ăn thịt không? Lão Tỳ-kheo thưa:
”Đại vương! Đây là oan khúc của tôi, thật khó dùng lời biện minh cho được”.
Nhà vua phán quyết:
”Bị cáo không biện minh, lại thêm chứng cớ rõ ràng, tội trộm khó tha. Đã là người xuất gia mà còn tạo tội sát sinh lại thêm phạm giới trộm cắp, cả hai đều là giới căn bản của đạo. Đứng về mặt pháp luật cũng như giới luật đều không cho phép, nên tội này nhất định không tha”.
Cuối cùng, lão Tỳ-kheo Ly-việt bị xử án ngồi tù 12 năm. Mười hai năm trôi qua, tính ra cả thảy 4.380 ngày. Trong nhà giam, lão Tỳ-kheo luôn an ổn, siêng năng lao tác và tinh tấn tu hành. Sự khoan hoà, nhẫn nhục và định lực do công phu tu hành toả ra từ âm thanh tịnh của người đạt đạo đã khiến cho quân lính cai ngục đều khâm phục và hết lời tán thán.
Ngày mãn hạn đã đến, tất cả các đệ tử trước kia đồng tưởng nhớ đến sư phụ. Một trăm vị đệ tử La-hán nhờ sức thần thông nhận biết ân sư vì nghiệp quả nên đã ngồi tù suốt 12 năm, giờ đây cả thảy dùng thần thông bay đến cung vua, đứng trên không đánh trống chờ đón sư phụ.
Nhà vua thấy có nhiều người thần thông quảng đại đứng trên không phía trước nhà lao, nên trong lòng kinh sợ, vội đến ngục thả lão Tỳ-kheo ra. Sau khi ra khỏi ngục, lão Tỳ-kheo bay lên hư không, phóng ra ánh sáng lớn cùng các thứ thần biến một thân biến thành nhiều thân… Lúc đó, ai nấy đều trách nhà vua xét xử không rõ ràng, song lão Tỳ-kheo ngăn cản:
”Không nên oán trách như thế, đây chính là nghiệp báo mà ta phải trả cho xong”.
Lão Tỳ-kheo Ly-việt liền kể lại nhân duyên tạo nghiệp của mình cho đại chúng nghe:” Thời quá khứ, một kiếp tôi sinh làm nông dân. Ngày kia tôi bị mất trâu nên tìm kiếm khắp nơi. Khi ấy, trong rừng không có ai ngoài một người xuất gia đang ẩn tu. Tôi vì mất trâu nên cũng mất khôn, cứ đổ thừa đại cho người bắt trâu của mình dẫn đi dấu.
Do tâm ngu khởi nên tôi đã dùng nhiều lời ác độc quấy nhiễu người tu kia trong 12 giờ liền, rồi đánh đuổi vị ấy ra khỏi núi, đem giao cho nhà vua giam cầm trong ngục. Thuở trước tôi tạo nghiệp 12 giờ, nay phải ngồi tù 12 năm, giống như mượn tiền sinh lãi, để càng lâu thì càng lãi tăng. Ngày nay tôi phải trả nợ nhiều gấp tám ngàn lần. Nếu như có ai hết lòng tu thiện tạo công đức, nên nhớ là tuy mất một nhưng lại được muôn ngàn phước báo và nếu buông lung tâm ý chỉ cần một chút sai lầm thôi, khi hội đủ duyên phải chịu đền nợ trước”.
Mắng người tội ấy ngày càng tăng
Tâm ác ngu si điên đảo sanh
Một vốn ngàn lời sinh sôi mãi
Hối hận đến đâu, tội phải đền.
1. Dùng lời huỷ báng, hoặc dùng giấy bút mắng chửi người xuất gia, quyết định người này phải đoạ địa ngục Vô Gián. Nếu tạo một khẩu nghiệp thì quả khổ gấp đôi, chúng ta không nên tạo nghiệp để phải thiếu nợ mọi người như thế.
2. Khẩu nghiệp là một nghiệp ác trong thập ác, tội này thật không gì sánh bằng. Rất nhiều kinh Phật được nói về tội ác khẩu. Nếu người đối với Phật, pháp, tăng tạo khẩu nghiệp, nên phải mau chí hướng tâm về Tam bảo thành tâm sám hối, bằng không về sau tội nặng không tính được.
3. Con người rất dễ gây tạo khẩu nghiệp, tạo nhiều nghiệp miệng như núi lớn, chúng sinh ngu si thường đùa giỡn với khẩu nghiệp. Người tin học Phật pháp, hiểu lẽ thật ấy, đâu thể tạo nghiệp rồi chuốc hoạ vào thân.
|
Thanked by 1 Member:
|
|
#25
Gửi vào 24/11/2012 - 10:05
25. Quốc vương được đạo
Đắc đạo sinh thiên nhớ ước giao
Vì nhau nói rõ đời vô thường
Xuất gia học Phật nơi núi báu
Thành bậc ứng cúng thoát luân hồi.
Vua Ưu-đạt là quốc vương nước Bàn-đề Ấn Độ, đã từng xuất gia học Phật vào thời Phật Ca-diếp, do phúc duyên ấy mà đời nay được sinh làm vua. Đến nay lại được sự giáo hoá của đức Phật Thích-ca, tu hành chứng quả.
Vua Ưu-đạt có vị vương phi Nguyệt Minh, tài năng và phẩm hạnh đều rất tốt nên vua đặc biệt yêu mến. Thời gian sau, tướng suy hiện trên gương mặt của phu nhân Nguyệt Minh, ứng điềm tuổi thọ sắp hết, trong lòng vua hết sức buồn rầu. Phu nhân thưa:
”Đại vương! Vì sao đại vương buồn rầu quá vậy?”
Vua nói:
”Tuổi thọ của hậu sắp hết, ta nghĩ đến mạng người vô thường, đau khổ vì biệt ly nên không tránh khỏi sầu muộn”.
Phu nhân đáp lời:
”Đức Phật từng dạy: “Cao ắt phải rớt, có đó rồi mất đó, hợp rồi phải ly tan, sinh rồi phải chết”. Đây là đạo lý nhất định, chết là việc mà mỗi người chúng ta đều không thể tránh khỏi. Thân người cũng giống như toà nhà, chết rồi cũng như toà nhà cũ hoại, nên phải tìm xây nhà mới, chỉ cần của cải thì có thể xây cất nhà mới. Nếu đại vương có tâm thương tưởng thiếp như vậy, thì xin hãy cho phép thiếp xuất gia tu hành, giúp thiếp sớm chuẩn bị được vốn liếng để cất nhà mới đẹp hơn.”
Quốc vương nói:
”Nếu khanh xuất gia thì rất khó chứng đạo ngay, cũng không thể được sinh cõi trời, vì tu muộn. Nhưng khanh nhất quyết xuất gia thì trẫm cũng tuỳ hỷ, song nếu được sinh lên trời thì phải về cho ta biết. Nếu khanh làm được như vậy, ta sẽ cho khanh xuất gia tu hành”.
Phu nhân Nguyệt Minh ưng thuận lời yêu cầu của Vua. Khi ấy, phu nhân lập một tịnh xá trong cung, thỉnh quý đại đức Tỳ-kheo ni vào trong cung làm lễ phát truyền trao giới tướng Tỳ-kheo ni. Nhưng người xuất gia ở trong vương cung nên còn rất nhiều phiền toái, cung nhân lai vãng viếng an, hầu hạ...khiến khó bề tinh tấn tu học, cho nên bà quyết định đến tịnh xá ở xa để tu học.
Sau khi lìa vương cung, Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh tinh tấn khổ hạnh, trải qua sáu tháng dụng công chứng được quả A-na-hàm. Không lâu sau, trong giờ tĩnh toạ Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh đã viên tịch, lai sinh làm thiên nữ ở cõi trời sắc giới. Sau khi được sinh thiên, thiên nữ dùng thiên nhãn quan sát nhân duyên đời quá khứ, biết mình có ước hẹn với vua Ưu-đạt liền trở về như lời hẹn.
Khi ấy, thiên nữ thấy vua đắm say ngũ dục, khó lòng hoá độ, nghĩ cách trước tiên phải làm cho vua sợ hãi, bằng không chẳng còn cách nào làm cho vua tỉnh ngộ. Tức thời, thiên nữ biến thành Vua Dạ-xoa tay cầm đao sáng ngời, giữa đêm vào ngự phòng đứng bên vua Ưu-đạt. Khi vua nhìn thấy con quỷ hung dữ kinh hồn kêu cầu cứu. Quỷ nói:
”Dầu có ngàn vạn quân lính hùng mạnh đến đây cũng không thể cứu được ông, giờ chết đã đến, ông làm sao đây?”
Vua nói:
”Tôi không có làm việc gì ác đức, luôn giữ đúng phép của một vua hiền, tâm ngay thẳng, vậy sâu khi chết tôi sẽ đầu thai vào chỗ nào?”
Quỷ vương đáp:
”Nếu ngươi giữ tâm thanh tịnh là điều thiện, đúng như nguyện mà làm thì sẽ chuyển sinh đến nơi tốt đẹp. Còn ông thì không được như vậy?”
Khi đó, vua thấy lời kỳ lạ, tại sao mình làm thiện mà không được sinh cõi lảnh? Chắc là quỷ này muốn chọc ta, nhưng quỷ là ai mà lại oán thù ta như vậy? Vua hỏi:
”Rốt cuộc ngài là ai? Sao lại dám đến đây để khủng bố ta?”.
Đáp:
”Tôi chính là phu nhân Nguyệt Minh, nhờ xuất gia tinh tấn tu hành nên được sinh lên cõi trời sắc giới, nay giữ đúng hẹn trở về báo cho đại vương hay”.
Vua nói:
”Trông khanh thật đáng sợ nên ta không tin. Nếu thật là ái phi của ta lúc trước thì phải hiện nguyên hình ta mới tin”.
Tức thời quỷ vương hiện lại nguyên hình của phu nhân Nguyệt Minh ngày trước. Vua Ưu đạt thấy rồi khởi niệm ái luyến với người vợ cũ. Thiên nữ tức thời bay lên hư không nói pháp cho vua nghe:
- Đại vương! Sắc thân con người là vô thường tạm bợ. Phật dạy: Mạng người chỉ sống trong hơi thở, một khi thở ra không trở lại là đã qua đời khác; giống như hạt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời lên thì tan mất không còn. Đại vương! Ngài đã từng chính mắt thấy những trang tuyệt sắc giai nhân, thoáng chốc đã trở thành người mặt nhăn chân yếu.
Khi tuổi già thì thêm nhiều nỗi khổ, như hai mắt lòa tối thấy không rõ ràng, tai cũng không nghe rõ, bụng đau lưng khòm, tay chân run rẩy, muốn đi tới lui phải nhờ phương tiện. Thân người giống như bình rượu, lấy hết rượu rồi thì bình không chỗ dùng. Tướng già yếu như thế thì ngày chết cũng gần kề đâu có đáng tham luyến? Con người từ sinh đến tử, tất cả đều là vô thường.
Đại vương! Ngài đã thấy đời người vô thường, đâu phải chỉ có người già mới chết, tử thần không hẹn với bất cứ lứa tuổi trẻ thơ, thanh niên, tráng niên nào cả, và trên thế gian này không ai mà không phải chết. Một mai giờ chết đến, tất cả tài sản đều không thể mang theo, đến như thân mạng quý giá của con người còn phải bỏ, huống chi là tài vật? Ngài là người có trí, thấy rõ đời người vô thường nhiều đau khổ, thì tại sao không phát tâm xuất gia học đạo?”
Vua Ưu-đạt nghe những lời khuyên thống thiết của vợ cũ liền tỉnh giác phát tâm xuất gia tu hành. Thiên nữ còn ân cần khuyên nhủ:
“Đại vương! Nếu xuất gia rồi phải tha thiết cầu chánh pháp; được chánh pháp rồi thì ngày đêm chuyên cần tu niệm, chớ có giải đãi, luống uổng thời gian quý báu còn lại”.
Nói xong, thiên nữ tức thời biến mất. Vua Ưu-đạt nhường ngôi cho con, bái tôn giả Ca-chiên-diên làm thầy, quyết tâm xuất gia học đạo. Việc xuất gia của nhà vua đã làm ảnh hưởng lớn đến quan dân trong nước, tất cả đều phát tâm cúng dường thừa sự. Vì ngại thương tổn đến đạo nghiệp, nên vua lánh tu trên núi Linh Thứu, tham gia pháp hội Linh Sơn nghe đức Phật thuyết pháp. Chỉ thời gian ngắn, vua Ưu-đạt đã chứng được đạo quả A-la-hán đủ sáu phép thần thông.
Một hôm, ngài vào thành khất thực, khi trở về đến bên bìa rừng để thọ trai. Lúc đó, có vua Bình Sa đang du ngoạn đến bên bìa rừng, thấy vị tăng tướng hảo nên đến cùng vua trao đổi:
“Ngài vốn là bậc đế vương cao sang, lại đi xuất gia thọ nhận những vật thừa của thí chủ. Tôi thấy ngài thật đáng thương! Nếu ngài bỏ đạo hoàn tục, tôi sẽ đem phân nửa nước của tôi cho ngài cai trị, ngài thấy thế nào?”
Tỳ-kheo đáp:
”Cảm ơn ý tốt của đại vương! Sau khi tôi xuất gia, trong lòng thảnh thơi an lạc. Tôi từng bị ngũ dục sai xử như con tằm nhả tơ rồi chết; chết trong dục lạc, thật là đáng thương!
Vua Bình Sa nghe Tỳ-kheo nói thế im lặng trở về.
Vạn vật trên đời đều vô thường
Mạng sống như sương chẳng bền lâu
Dòn bở, khổ, không mau xả bỏ
Gấp tu Phật pháp góp tư lương.
1. Mục đích xuất gia học Phật là giải thoát mọi phiền não trói buộc, sinh tử vô thường của đời người, chóng thoát khỏi sáu đường luân hồi, chứng quả an lạc Niết-bàn.
2. Sinh thiên. Còn ở trong thiên tử nên chưa giải thoát, vẫn luân hồi trong sáu đường. Chứng được quả thánh A-la-hán mới thật là giải thoát hết khổ đau, được đến được bờ an lạc vĩnh cửu.
Ngô Trọng Đức
Đắc đạo sinh thiên nhớ ước giao
Vì nhau nói rõ đời vô thường
Xuất gia học Phật nơi núi báu
Thành bậc ứng cúng thoát luân hồi.
Vua Ưu-đạt là quốc vương nước Bàn-đề Ấn Độ, đã từng xuất gia học Phật vào thời Phật Ca-diếp, do phúc duyên ấy mà đời nay được sinh làm vua. Đến nay lại được sự giáo hoá của đức Phật Thích-ca, tu hành chứng quả.
Vua Ưu-đạt có vị vương phi Nguyệt Minh, tài năng và phẩm hạnh đều rất tốt nên vua đặc biệt yêu mến. Thời gian sau, tướng suy hiện trên gương mặt của phu nhân Nguyệt Minh, ứng điềm tuổi thọ sắp hết, trong lòng vua hết sức buồn rầu. Phu nhân thưa:
”Đại vương! Vì sao đại vương buồn rầu quá vậy?”
Vua nói:
”Tuổi thọ của hậu sắp hết, ta nghĩ đến mạng người vô thường, đau khổ vì biệt ly nên không tránh khỏi sầu muộn”.
Phu nhân đáp lời:
”Đức Phật từng dạy: “Cao ắt phải rớt, có đó rồi mất đó, hợp rồi phải ly tan, sinh rồi phải chết”. Đây là đạo lý nhất định, chết là việc mà mỗi người chúng ta đều không thể tránh khỏi. Thân người cũng giống như toà nhà, chết rồi cũng như toà nhà cũ hoại, nên phải tìm xây nhà mới, chỉ cần của cải thì có thể xây cất nhà mới. Nếu đại vương có tâm thương tưởng thiếp như vậy, thì xin hãy cho phép thiếp xuất gia tu hành, giúp thiếp sớm chuẩn bị được vốn liếng để cất nhà mới đẹp hơn.”
Quốc vương nói:
”Nếu khanh xuất gia thì rất khó chứng đạo ngay, cũng không thể được sinh cõi trời, vì tu muộn. Nhưng khanh nhất quyết xuất gia thì trẫm cũng tuỳ hỷ, song nếu được sinh lên trời thì phải về cho ta biết. Nếu khanh làm được như vậy, ta sẽ cho khanh xuất gia tu hành”.
Phu nhân Nguyệt Minh ưng thuận lời yêu cầu của Vua. Khi ấy, phu nhân lập một tịnh xá trong cung, thỉnh quý đại đức Tỳ-kheo ni vào trong cung làm lễ phát truyền trao giới tướng Tỳ-kheo ni. Nhưng người xuất gia ở trong vương cung nên còn rất nhiều phiền toái, cung nhân lai vãng viếng an, hầu hạ...khiến khó bề tinh tấn tu học, cho nên bà quyết định đến tịnh xá ở xa để tu học.
Sau khi lìa vương cung, Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh tinh tấn khổ hạnh, trải qua sáu tháng dụng công chứng được quả A-na-hàm. Không lâu sau, trong giờ tĩnh toạ Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh đã viên tịch, lai sinh làm thiên nữ ở cõi trời sắc giới. Sau khi được sinh thiên, thiên nữ dùng thiên nhãn quan sát nhân duyên đời quá khứ, biết mình có ước hẹn với vua Ưu-đạt liền trở về như lời hẹn.
Khi ấy, thiên nữ thấy vua đắm say ngũ dục, khó lòng hoá độ, nghĩ cách trước tiên phải làm cho vua sợ hãi, bằng không chẳng còn cách nào làm cho vua tỉnh ngộ. Tức thời, thiên nữ biến thành Vua Dạ-xoa tay cầm đao sáng ngời, giữa đêm vào ngự phòng đứng bên vua Ưu-đạt. Khi vua nhìn thấy con quỷ hung dữ kinh hồn kêu cầu cứu. Quỷ nói:
”Dầu có ngàn vạn quân lính hùng mạnh đến đây cũng không thể cứu được ông, giờ chết đã đến, ông làm sao đây?”
Vua nói:
”Tôi không có làm việc gì ác đức, luôn giữ đúng phép của một vua hiền, tâm ngay thẳng, vậy sâu khi chết tôi sẽ đầu thai vào chỗ nào?”
Quỷ vương đáp:
”Nếu ngươi giữ tâm thanh tịnh là điều thiện, đúng như nguyện mà làm thì sẽ chuyển sinh đến nơi tốt đẹp. Còn ông thì không được như vậy?”
Khi đó, vua thấy lời kỳ lạ, tại sao mình làm thiện mà không được sinh cõi lảnh? Chắc là quỷ này muốn chọc ta, nhưng quỷ là ai mà lại oán thù ta như vậy? Vua hỏi:
”Rốt cuộc ngài là ai? Sao lại dám đến đây để khủng bố ta?”.
Đáp:
”Tôi chính là phu nhân Nguyệt Minh, nhờ xuất gia tinh tấn tu hành nên được sinh lên cõi trời sắc giới, nay giữ đúng hẹn trở về báo cho đại vương hay”.
Vua nói:
”Trông khanh thật đáng sợ nên ta không tin. Nếu thật là ái phi của ta lúc trước thì phải hiện nguyên hình ta mới tin”.
Tức thời quỷ vương hiện lại nguyên hình của phu nhân Nguyệt Minh ngày trước. Vua Ưu đạt thấy rồi khởi niệm ái luyến với người vợ cũ. Thiên nữ tức thời bay lên hư không nói pháp cho vua nghe:
- Đại vương! Sắc thân con người là vô thường tạm bợ. Phật dạy: Mạng người chỉ sống trong hơi thở, một khi thở ra không trở lại là đã qua đời khác; giống như hạt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời lên thì tan mất không còn. Đại vương! Ngài đã từng chính mắt thấy những trang tuyệt sắc giai nhân, thoáng chốc đã trở thành người mặt nhăn chân yếu.
Khi tuổi già thì thêm nhiều nỗi khổ, như hai mắt lòa tối thấy không rõ ràng, tai cũng không nghe rõ, bụng đau lưng khòm, tay chân run rẩy, muốn đi tới lui phải nhờ phương tiện. Thân người giống như bình rượu, lấy hết rượu rồi thì bình không chỗ dùng. Tướng già yếu như thế thì ngày chết cũng gần kề đâu có đáng tham luyến? Con người từ sinh đến tử, tất cả đều là vô thường.
Đại vương! Ngài đã thấy đời người vô thường, đâu phải chỉ có người già mới chết, tử thần không hẹn với bất cứ lứa tuổi trẻ thơ, thanh niên, tráng niên nào cả, và trên thế gian này không ai mà không phải chết. Một mai giờ chết đến, tất cả tài sản đều không thể mang theo, đến như thân mạng quý giá của con người còn phải bỏ, huống chi là tài vật? Ngài là người có trí, thấy rõ đời người vô thường nhiều đau khổ, thì tại sao không phát tâm xuất gia học đạo?”
Vua Ưu-đạt nghe những lời khuyên thống thiết của vợ cũ liền tỉnh giác phát tâm xuất gia tu hành. Thiên nữ còn ân cần khuyên nhủ:
“Đại vương! Nếu xuất gia rồi phải tha thiết cầu chánh pháp; được chánh pháp rồi thì ngày đêm chuyên cần tu niệm, chớ có giải đãi, luống uổng thời gian quý báu còn lại”.
Nói xong, thiên nữ tức thời biến mất. Vua Ưu-đạt nhường ngôi cho con, bái tôn giả Ca-chiên-diên làm thầy, quyết tâm xuất gia học đạo. Việc xuất gia của nhà vua đã làm ảnh hưởng lớn đến quan dân trong nước, tất cả đều phát tâm cúng dường thừa sự. Vì ngại thương tổn đến đạo nghiệp, nên vua lánh tu trên núi Linh Thứu, tham gia pháp hội Linh Sơn nghe đức Phật thuyết pháp. Chỉ thời gian ngắn, vua Ưu-đạt đã chứng được đạo quả A-la-hán đủ sáu phép thần thông.
Một hôm, ngài vào thành khất thực, khi trở về đến bên bìa rừng để thọ trai. Lúc đó, có vua Bình Sa đang du ngoạn đến bên bìa rừng, thấy vị tăng tướng hảo nên đến cùng vua trao đổi:
“Ngài vốn là bậc đế vương cao sang, lại đi xuất gia thọ nhận những vật thừa của thí chủ. Tôi thấy ngài thật đáng thương! Nếu ngài bỏ đạo hoàn tục, tôi sẽ đem phân nửa nước của tôi cho ngài cai trị, ngài thấy thế nào?”
Tỳ-kheo đáp:
”Cảm ơn ý tốt của đại vương! Sau khi tôi xuất gia, trong lòng thảnh thơi an lạc. Tôi từng bị ngũ dục sai xử như con tằm nhả tơ rồi chết; chết trong dục lạc, thật là đáng thương!
Vua Bình Sa nghe Tỳ-kheo nói thế im lặng trở về.
Vạn vật trên đời đều vô thường
Mạng sống như sương chẳng bền lâu
Dòn bở, khổ, không mau xả bỏ
Gấp tu Phật pháp góp tư lương.
1. Mục đích xuất gia học Phật là giải thoát mọi phiền não trói buộc, sinh tử vô thường của đời người, chóng thoát khỏi sáu đường luân hồi, chứng quả an lạc Niết-bàn.
2. Sinh thiên. Còn ở trong thiên tử nên chưa giải thoát, vẫn luân hồi trong sáu đường. Chứng được quả thánh A-la-hán mới thật là giải thoát hết khổ đau, được đến được bờ an lạc vĩnh cửu.
Ngô Trọng Đức
|
Thanked by 1 Member:
|
|
#26
Gửi vào 24/11/2012 - 19:19
hiendde, on 04/11/2012 - 09:56, said:
6. NHÂN QUẢ THEO NHAU NHƯ BÓNG VỚI HÌNH
Thôn làng có một vị xuất gia đã đắc đạo, ôm bát khất thực ngang nhà của ba anh em. Hai người anh chân thành cúng dường thánh tăng, sau khi cúng dường xong, người em gái lại cầu nguyện:
”Đời này, tôi bị người phỉ báng khốn khổ, nếu đời sau được sinh làm người, xin nguyện xuất gia tu hành và tôi nhất định đòi lại nợ ác mà người đã làm tôi đau khổ”.
Hai người anh đồng tình nói:
”Nếu lúc đó, tôi gặp người đã làm cho em đau khổ, tôi sẵn sàng làm chứng”.
Đức Thế Tôn nói:
”Các Tỳ kheo, do đó mà những người này đời đời oan oan tương báo không dứt. Thật Ngữ nay chính là Tỳ kheo Thật Lực, còn mẹ kế là Tỳ kheo... hai anh là Tỳ kheo... Tỳ kheo Thật Lực do đời quá khứ đã phỉ báng mẹ kế mà phải chịu tội đoạ địa ngục thiêu đốt đến ngàn năm, chịu vô lượng thống khổ.
Thôn làng có một vị xuất gia đã đắc đạo, ôm bát khất thực ngang nhà của ba anh em. Hai người anh chân thành cúng dường thánh tăng, sau khi cúng dường xong, người em gái lại cầu nguyện:
”Đời này, tôi bị người phỉ báng khốn khổ, nếu đời sau được sinh làm người, xin nguyện xuất gia tu hành và tôi nhất định đòi lại nợ ác mà người đã làm tôi đau khổ”.
Hai người anh đồng tình nói:
”Nếu lúc đó, tôi gặp người đã làm cho em đau khổ, tôi sẵn sàng làm chứng”.
Đức Thế Tôn nói:
”Các Tỳ kheo, do đó mà những người này đời đời oan oan tương báo không dứt. Thật Ngữ nay chính là Tỳ kheo Thật Lực, còn mẹ kế là Tỳ kheo... hai anh là Tỳ kheo... Tỳ kheo Thật Lực do đời quá khứ đã phỉ báng mẹ kế mà phải chịu tội đoạ địa ngục thiêu đốt đến ngàn năm, chịu vô lượng thống khổ.
Nếu không biết đau giống nhau thì không thể hiểu được nhau. Con người oan oan tương báo suy cho cùng cũng chỉ muốn kẻ khác cảm nhận được nỗi đau bản thân mình đang chịu đựng. Thôi thì cái nợ có vay có trả, biết đâu mai này thác xuống 18 tầng địa ngục, gặp lại các vị oan gia, oán chủ ngày nào, san sẻ cho nhau nuốt từng cục than hồng đỏ rực, tắm chung một chảo dầu sôi sùng sục đêm ngày, cùng chung cảnh ngộ sẽ biết cảm thông cho nhau hơn. hic.
Similar Topics
| Chủ Đề | Name | Viết bởi | Thống kê | Bài Cuối | |
|---|---|---|---|---|---|
Quẻ dịch được 1 thầy trong Viện nghiên cứu kiến trúc và Văn hóa phương Đông luận. Bản thân tôi thấy có phần không đúng |
Kinh Dịch - Bốc Dịch - Lục Hào | DuVan |
|
|
|
Những năm tháng tuổi trẻ |
Vài Dòng Tản Mạn... | Tre |
|
|
|
những góc nhìn khác nhau về chuyện cưới xin, xung - hợp vợ chồng |
Tử Bình | hieuthuyloi |
|
|
|
Mệnh nào là Cừu và mệnh nào là Sói trong Tử Vi ? |
Linh Tinh | htruongdinh |
|
|
|
Nhật ký thành tỷ phú |
Vài Dòng Tản Mạn... | kyvibach |
|
|
|
CHIẾN TRANH UKRAINE: BIẾT TRƯỚC NHƯNG VẪN LÀM NGƠ |
Linh Tinh | FM_daubac |
|
|
1 người đang đọc chủ đề này
0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn
Liên kết nhanh
Tử Vi | Tử Bình | Kinh Dịch | Quái Tượng Huyền Cơ | Mai Hoa Dịch Số | Quỷ Cốc Toán Mệnh | Địa Lý Phong Thủy | Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp | Bát Tự Hà Lạc | Nhân Tướng Học | Mệnh Lý Tổng Quát | Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số | Khoa Học Huyền Bí | Y Học Thường Thức | Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian | Thiên Văn - Lịch Pháp | Tử Vi Nghiệm Lý | TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
Coi Tử Vi | Coi Tử Bình - Tứ Trụ | Coi Bát Tự Hà Lạc | Coi Địa Lý Phong Thủy | Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh | Coi Nhân Tướng Mệnh | Nhờ Coi Quẻ | Nhờ Coi Ngày |
Bảo Trợ & Hoạt Động | Thông Báo | Báo Tin | Liên Lạc Ban Điều Hành | Góp Ý |
Ghi Danh Học | Lớp Học Tử Vi Đẩu Số | Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý | Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở | Sách Dịch Lý | Sách Tử Vi | Sách Tướng Học | Sách Phong Thuỷ | Sách Tam Thức | Sách Tử Bình - Bát Tự | Sách Huyền Thuật |
Linh Tinh | Gặp Gỡ - Giao Lưu | Giải Trí | Vườn Thơ | Vài Dòng Tản Mạn... | Nguồn Sống Tươi Đẹp | Trưng bày - Giới thiệu |
Trình ứng dụng hỗ trợ:
An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |
Quỷ Cốc Toán Mệnh |
Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |
Quẻ Mai Hoa Dịch Số |
Bát Tự Hà Lạc |
Thái Ât Thần Số |
Căn Duyên Tiền Định |
Cao Ly Đầu Hình |
Âm Lịch |
Xem Ngày |
Lịch Vạn Niên |
So Tuổi Vợ Chồng |
Bát Trạch |
Coi Tử Vi | Coi Tử Bình - Tứ Trụ | Coi Bát Tự Hà Lạc | Coi Địa Lý Phong Thủy | Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh | Coi Nhân Tướng Mệnh | Nhờ Coi Quẻ | Nhờ Coi Ngày |
Bảo Trợ & Hoạt Động | Thông Báo | Báo Tin | Liên Lạc Ban Điều Hành | Góp Ý |
Ghi Danh Học | Lớp Học Tử Vi Đẩu Số | Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý | Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở | Sách Dịch Lý | Sách Tử Vi | Sách Tướng Học | Sách Phong Thuỷ | Sách Tam Thức | Sách Tử Bình - Bát Tự | Sách Huyền Thuật |
Linh Tinh | Gặp Gỡ - Giao Lưu | Giải Trí | Vườn Thơ | Vài Dòng Tản Mạn... | Nguồn Sống Tươi Đẹp | Trưng bày - Giới thiệu |
Trình ứng dụng hỗ trợ:















