Xem mỗi Cung như 1 lò nướng, với phương pháp khảo cứu là 2 động - 1 tĩnh, có nghĩa là vòng Thái tuế và Lộc tồn động, còn vòng Trường sinh tĩnh. Tổng 36 sao này, xét theo ngũ hành và hàm nghĩa ước lệ của nó, ta thấy:
Xét Tương quan Ngũ Hành:
- Nếu hành của Sao Động tương sinh cho hành của Sao Tĩnh thì Sự việc diễn ra thuận lợi, khí được hấp thu.
- Nếu Sao Động Khắc Sao Tĩnh (Ví dụ: Bạch Hổ hành Kim khắc Mộc Dục hành Thủy tại cung Mộc) thì "Nhân" bị tổn thương. Môi trường (Tĩnh) bị tàn phá bởi hoàn cảnh (Động).
Xét Tương quan Hàm Nghĩa:
Công thức: Nếu Nhân = 0 (Tuyệt/Tử): Mọi tác động của Thiên/Địa đều vô nghĩa hoặc gây họa (vì không có sức chứa).Ví dụ: Lộc Tồn + Thái Tuế rơi vào đất Tuyệt (Nhân - Hết khí) thì có tiền có danh nhưng chết yểu, hoặc tiền đến rồi trôi đi sạch vì không có "Căn" để giữ.
Thân Tý Thìn - Dần Ngọ Tuất - Tị Dậu Sửu - Hợi Mão Mùi là 4 tam hợp cục có cùng 1 mối quan hệ "thuộc" hỏa, thuộc Kim... Khi có sự kết nối phù hợp, thì thành quan hệ tam hợp, từ đó ta biết được độ vượng suy của cách cục hình tài từ tam hợp đó. VD:
1. Thân - Tý - Thìn (Thuộc Thủy).Nhưng tại Thìn (Mộ khố): Có sao Trực Phù (Sao xấu vòng Thái Tuế - hành Kim/Thủy) + Đại Hao (Vòng Lộc - Phá tán) gặp Tử (VTS), lúc này, Thìn không còn là "Kho nước" để Tý và Thân đổ về nữa. Nó là cái hố tử thần. Tam giác Thân-Tý-Thìn lúc này bị gãy. Đại vận đi đến đây không gọi là đắc Tam Hợp Thái Tuế được, mà chỉ là "Tam Thuộc" (có tiếng mà không có miếng).
2. Thiên Địa nghịch - Nhân vượng.Thiên: Gặp Đại Hao/Tiểu Hao (Trời làm hao tán).Địa: Gặp Tuế Phá/Điếu Khách (Xã hội chống đối, làm việc trái khoáy).Nhân: Gặp Đế Vượng hoặc Trường Sinh (Sức sống mãnh liệt). Luận: "Anh hùng tạo thời thế". Dù hoàn cảnh khó khăn, tốn kém (Thiên/Địa xấu) nhưng bản thân đương số đủ bản lĩnh và sức lực (Nhân Vượng) để xoay chuyển, biến cái hao tán thành sự đầu tư, biến sự chống đối thành động lực.
Sửa bởi nahtlee: 06/01/2026 - 11:24



Chủ đề này đã được khóa













