Jump to content

Advertisements




Tử Bình Tạp Lục


4 replies to this topic

#1 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1135 Bài viết:
  • 1789 thanks

Gửi vào 19/01/2019 - 19:59

Chủ đề này tôi dành để đăng lại những tài liệu ngắn hoặc rất ngắn về Tử Bình mà tôi thấy thú vị trong lúc lướt các trang Web tiếng Trung. Do là tài liệu trên mạng nên mong người đọc tự gan đục khơi trong.

-----

Bài 1: Bảng Xếp Hạng Đại Sư Toán Mệnh Trung Quốc

Nguồn:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Ghi chú: Hình của các vị tiên sinh, nữ sĩ có ở link trên. Tôi không đăng lại ở đây vì thao tác phức tạp. Tôi có để sẵn tên tiếng Hoa để thuận tiện cho vị nào muốn Google thêm thông tin.

BẢNG XẾP HẠNG ĐẠI SƯ TOÁN MỆNH TRUNG QUỐC

Bảng xếp hạng đại sư toán mệnh Trung Quốc được trích từ trang tạp chí điện tử Dịch Học Thiên Địa. Bởi vì quá dài, giới thiệu quá nhiều, nên trang Toán mệnh đại sư chỉ trích một phần danh sách, diễn đạt ngắn gọn nhưng cũng cố gắng giữ lại trọn vẹn nguyên ý. Bản quyền của Bảng x61p hạng đại sư toán mệnh Trung Quốc hoàn toàn thuộc về Dịch Học Thiên Địa.

Hạng nhất: Lâm Thanh Tuyền (林清泉). Lâm Thanh Tuyền tiên sinh nghiên cứu Dịch học, đạo học, hệ thống tư duy đặc dị. Bản thân là một đại hành gia về Dịch học. Ông có cống hiến to lớn đối với nền học thuật Dịch học và cả phương châm chỉ đạo xã hội. Lâm Thanh Tuyền tiên sinh không ham danh, cũng không ham lợi, thật là tấm gương mẫu mực của giới Dịch học. Tính đến nay, những án lệ (Thiên Khánh: những trường hợp đoán mệnh hoặc làm phong thuỷ được chính người giải đoán ghi lại và trình bày công khai) do Lâm lão trình bày chưa một lệ nào sai lầm. Đối với sự phức tạp của học thuật Dịch học, cùng với những nhân tố bên ngoài vốn có thể ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng như thế, thì thành tích này kỳ tích khó được. Bởi vậy Lâm Thanh Tuyền tiên sinh được vinh dự xếp ở đầu bảng.

Hạng nhì: Bạch Xuân Như (白春茹). Bạch Xuân Như nữ sĩ nghiên cứu Dịch học, và thiền học, là một đại hành gia về Dịch học. Bạch Xuân Như nữ sĩ là nhân vật thuộc hàng đầu về Dịch học quốc nội. Thành tích đến ngày nay là 200 án lệ các xí nghiệp thành công nhờ sự tư vấn của bà, và hơn 3,000 án lệ đoán cho cá nhân. Bà chú trọng giao lưu, văn hoá. Cho nên xét về truyền bá Dịch học, Bạch Xuân Như nữ sĩ xếp hàng thứ hai.

Hạng ba: Trương Diên Sinh (张延生). Đại sư khí công, soán mệnh, và Dịch Kinh. Trương Diên Sinh tiên sinh là người đầu tiên phổ biến khái niệm Khí Dịch. Ông chú thích và có cống hiến trác tuyệt trong lĩnh vực trường thái bát quái. Có án lệ giúp công ty Tom thành công. Bởi vì học thuật của Trương Diên Sinh tiên sinh chưa hình thành hệ thống, cho nên chỉ đứng hạng ba. (Trang mạng Soán Mệnh Đại Sư chú: Theo như xếp hạng 10 năm về trước, không phải thứ nhất cũng là thứ hai, nhưng những năm gần đây Trương tiên sinh đình chỉ luyện công, nên đối với trường thái cảm ứng có chỗ không bằng khi trước.)

Hạng bốn: Vương Đình Chi (王亭之). Nhân sĩ Hương Cảng, có cống hiến khá lớn đối với Tử Vi Đẩu Số, cũng là danh gia Dịch học Hồng Kông. Những năm gần đây lại dung hội thêm Dịch học và Đạo học, cũng có góp phần truyền bá văn hoá Trung Quốc. Từng chất vấn tính chân thực của Thiết Bản Thần Số, đồng thời cũng đưa ra những luận chứng tương ứng.

Hạng năm: Lý Cư Minh (李居明). Danh gia phong thuỷ đoán mệnh Hồng Kông. Từng tư vấn cho tổng giám đốc Coca Cola. Từng dùng Phong thuỷ huyền không thành công định vị, tìm ra mỏ quặng ở Châu Mỹ mà nổi tiếng. Sau đó hàng năm đều xuất bản cầm tinh vận trình và dự đoán thị trường chứng khoán, trở thành Đoán mệnh đại sư vô cùng nổi tiếng và quyền lực Hồng Kông. (Trang Đoán Mệnh Đại Sư chú: Tại Trung Quốc đại lục, nhiều người cũng có thể dùng quẻ tượng tìm quặng mỏ, nhưng vì sao Lý Cư Minh tiên sinh lại có thể công thành danh toại? Không thể không nói đều là do vận mệnh cả!)

Hạng sáu: Liễu Tương Sĩ (柳相士). Đại sư toán mệnh trứ danh người Đài Loan, danh tiếng 30 năm không suy, mỗi ngày đều xem quẻ đoán mệnh. Nhân xưng “Liễu Tương Sĩ” tương đương với “Bạch Long Vương” bản thổ của Đài Loan. Liễu Tương Sĩ là người mù, không viết sách toán mệnh, nhưng danh tiếng lại tung hoành khắp Nam Bắc Đài Loan, có thể thấy được tu vi thâm hậu.

Hạng bảy: Hứa Dịch Bình (许易萍). Đại sư toán mệnh nhanh trứ danh Trung Quốc, nổi tiếng sử dụng Manh Phái toánh mệnh nhanh. Sau khi xếp xong bát tự, trong vòng 2 phút là có câu trả lời, một bên hỏi một bên trả lời, xác suất trúng lại khá cao. Những phần luận của ông đều là tài liệu lưu hành nội bộ tham khảo, ngoài thị trường vô cùng khó tìm.

Hạng tám: Hoàng Giám (黄鉴). Người truyền bá bát quái tượng số, giỏi về thôi diễn 64 quẻ Dịch. Vào những năm đầu thập niên 1980 học tập từ những lần luận giảng của Trương Diên Sinh, và căn cứ bản thân thể ngộ mà sáng chế ra Hoàng Giám Bát Quái Tượng Số, có đặc điểm là dễ học dễ hiểu, giải thích hàm nghĩa bát quái từ góc độ đơn thuần nhất.

Hạng chín: Thiệu Vỹ Hoa (邵伟华). Đại sư dự trắc bát tự tứ trụ nổi tiếng Trung Quốc. Thập niên 1980 bắt đầu phiên dịch Uyên Hải Tử Bình, Trích Thiên Tuỷ, chỉnh lý ra hệ thống bát tự dự trắc học, cho nên được gọi là Tứ Trụ Thái Đẩu. Những tài liệu do ông chỉnh lý có ảnh hưởng to lớn và tạo động lực mới trong lĩnh vực tứ trụ dự đoán học ở Trung Quốc đại lục.

Hạng mười: A Lý Bất Đạt (阿里不达). Sở trường chiêm tinh thuật phương Tây, đoán việc ít có khi nào khôngg chuẩn, dự đoán thành công một số sự kiện lớn của nền chính trị Đài Loan lẫn nước ngoài. Ngoài ra còn chủ trì chương trình có liên quan đến chiêm tinh, phát sóng truyền hình trực tiếp. Á Lý Bất Đạt thuộc loại người văn lý toàn thông.

Giải thích về bảng xếp hạng Đại sư toán mệnh Trung Quốc: bởi vì đây là phiên bản đăng lại, trang web chúng tôi cũng có tiến hành nhất định nghiên cứu và so sánh đối với bảng xếp hạng này. Qua đó, phát hiện bảng xếp hạng này phần lớn lấy trình độ thực chiến, bình luận, uy tín, và cống hiến làm tiêu chuẩn xếp hạng; đồng thời xếp hạng không quá liên quan đến danh tiếng. Ví dụ như Mạch Linh Linh ở Hồng Kông danh tiếng rất lớn, nhưng lại không được xếp hạng trong bảng này. Tình hình cụ thể Tiểu Biên cũng không tự đoán bừa, quá hao phí tâm thần.

#2 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1135 Bài viết:
  • 1789 thanks

Gửi vào 06/03/2019 - 01:25

Bài 2: Khâu Bình Sách - Bát Tự Cửu Cung Phi Tinh Quyết
Link:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thiên Khánh đánh giá nhanh:

Điểm tốt:

(1) Đề cao "cung tinh đồng tham"
(2) Đề cao cung vị
(3) Có đề cập đến bản cung, tha cung, lạc vị, nội cung, ngoại cung

Điểm chưa tốt:
(1) Đóng gọi lại kĩ thuật cung - tinh, vốn là một kĩ thuật cơ bản của Tử Bình, gọi bằng mỹ danh "cung tinh đồng tham"
(2) Đề cập không đủ các trường hợp của "cung tinh đồng tham"
(3) Từ (2): nghi án giấu nghề để bán sách hoặc không biết thật sự (có dịp sẽ mua sách này xem thử)
(4) Đánh đồng "nội cung, ngoại cung" với "cung tinh đồng tham". Nội cung, ngoại cung là tượng thuộc hệ thống "tiểu thời không định vị", không thuộc "cung tinh đồng tham". Tuy nhiên, có thể kết hợp "tiểu thời không định vị" với "cung tinh đồng tham" để đoán số.

Thiên Khánh chú: Vui lòng tự gạn đục khơi trong.

-----

(Dịch thô)

Bát tự cửu cung phi tinh quyết, cũng là khẩu quyết bát tự luận đoán sắc nét về cát hung lục thân, càng là bí quyết mệnh lý dân gian có thể giải quyết một trong những vấn đề trọng đại là làm sao luận đoán lục thân nếu không xuất hiện trong mệnh cục.

Lời dẫn: Từ năm 2003, sau khi Tân Phái lần đầu công khai giới thiệu “Bách Thần Luận”, giới mệnh lý “loạn tượng” bắt đầu hiện, về sau còn có các trường phái Manh Phái, phủ định truyền thống, manh luận bát tự, dẫn đến mệnh lý giới đầy rẫy nguỵ pháp, “loạn tượng” từ đó mà sinh ra. Hồ ngôn loạn ngữ luận bách thần, loạn biến lục thân, trong giới mệnh lý thường thường xảy ra. Về nguỵ pháp “loạn biến lục thân”, không chỉ có làm lẫn lộn tôn chỉ mệnh lý “lấy nhật làm chủ”, qua đó mà an định lục thân, vốn được Tử Bình Tổ Sư cách tân từ thời Tống, càng làm cho hậu học hoa mắt loạn thần, không biết lối ra. Càng có rất nhiều phái mệnh lý tại trong loạn tượng thừa nước đục thả câu, mệnh lý giang hồ càng thêm hiểm ác, chỉ trích nhau nổi lên bốn phía, tạp gia hoành hành. Vì bình hỗn loạn, lập lại trật tự, Khâu Bình Sách tiên sinh, người sáng tạo ra Bình Phái Mệnh Lý, đem Cửu Cung Phi Tinh Quyết của Bình Phái vô tư công khai, để trợ chúng duyên.
Bình Phái “Bát tự Cửu Cung Phi Tinh Quyết” là khấu quyết bát tự trọng yếu để luận đoán cát sắc nét cát hung lục thân, càng là bí quyết mệnh lý dân gian có thể giải quyết một trong những vấn đề trọng đại là làm sao luận đoán lục thân nếu không xuất hiện trong mệnh cục. Việc công khai Bình Phái “Cửu Cung Phi Tinh Quyết”, không phải chỉ là lần đầu giới thiệu khái niệm “nội cung, ngoại cung”, “bản cung, tha cung”, “phi cung, lạc cung, “bát cung, cửu cung” và các khái niệm trọng yếu khác trong mệnh lý học bát tự Bình Môn, mà còn đem nội dung “Tinh Cung Đồng Tham” trong sách “Bình Sách Mệnh Lý Bí Tung” xuất bản đầu năm 2003 cùng một chỗ giảng giải. Sau này các nhà các phái, khi bàn đến Cửu cung phi tinh, đều khó vượt qua nội dung đề cập tại đây.

Khâu Bình Sách “Bát tự cửu cung phi tinh quyết”

Một, nội cung ngoại cung
Bình môn phi cung có chính luận, lấy nhật làm chủ biện lục thân
Tứ trụ bát tự phân nội ngoại, nội ngoại không thấy, tìm tại cửu cung.


Hai, bản cung tha cung
Lục thân phi tinh lạc chỗ nào, bản cung tha cung cẩn thận tính
Phi tinh định vị lạc cung chuẩn, liền biết thập thần không bay loạn.


Ba, phi cung lạc cung
Lục thân chủ tinh có khắc ứng, thuỳ tượng đều tại trong lạc cung
Nguyên cục lục thân tinh không thấy, liền tìm phi cung định cát hung.


Bốn, bát tự cửu cung
Lục thân cát hung làm sao tính, tinh cung đồng tham phải hiểu rõ
Bát cung hỷ kỵ có thật giả, cửu cung phân minh, thiên địa tỏ


Giải thích các danh từ dùng trong Bát Tự Cửu Cung Phi Tinh của Khâu Bình Sách:

1. Phi tinh: chỉ lục thân chủ tinh không tại bát cung tứ trụ, mà là phi nhập trong “cửu cung”.
2. Chủ tinh: là lục thân chủ tinh, chỉ thập thần đại biểu lục thân trong mệnh lý học. Ví dụ như nam mệnh, Thiên Tài là chủ tinh của cha, Chính Ấn là chủ tinh của mẹ, Chính tài là chủ tinh của vợ.
3. Bản cung: chỉ cung vị sở tại của bản thân lục thân. Như niên trụ là phụ mẫu cung, thì niên can, niên chi phân biệt là bản cung của cha và mẹ. Tương tự, nguyệt trụ là huynh đệ tỷ muội cung, nhật trụ là phu thê cung, thời trụ là tử nữ cung.
4. Tha cung: chỉ cung vị khác, ngoài bản cung của một lục thân
5. Nội cung: chỉ lục thân tại nội cung của nguyên cục tứ trụ. Trong nguyên cục, niên trụ và nguyệt trụ đại biểu nội cung.
6. Ngoại cung: chỉ lục thân tại ngoại cung của nguyên cục tứ trụ. Trong nguyên cục, nhật trụ và thời trụ đại biểu ngoại cung.
7. Phi cung: chỉ lục thân chủ tinh không tại bản cung, mà phi tại một cung nào đó bên ngoài bản cung trong bát tự, hoặc phi tại cửu cung.
8. Lạc cung: chỉ cung vị mà lục thân chủ tinh toạ lạc. Lạc cung của lục thân chủ tinh có thể là tại bản cung, có thể là tại tha cung, cũng có thể là tại cửu cung.
9. Bát cung: chỉ tám can chi của tứ trụ bát tự, đại biểu tám cung.

10. Cửu cung: chỉ cung vị thứ chín, ngoài tám cung trong nguyên cục tứ trụ.

Bình Sách chú: Khi Bình môn tiên sinh Bàn Long Chân Nhân truyền quyết có đem “Cửu Cung” xung là “Cửu Tiêu Cung”, nói rằng bát tự “Cửu cung” giống như Dụng Hào trong hai qủe Càn Khôn trong Dịch Kinh, vốn tồn tại siêu việt sáu hào còn lại. “Cửu cung” trong Bình Môn bát tự sở dĩ còn được gọi là “Cửu Tiêu Cung”, áp đảo vượt qua bát cung, vị trí tại chín tầng mây, trong ngân hà.

“Tinh cung đồng tham” ý chỉ khi phê đoán cát hung một lục thân nào đó, cùng với những sự việc liên quan đến lục thân đó, nhất định phải tổng hợp thông tin cát hung của cả chủ tinh và cung vị của lục thân đó thì mới có thể luận đoán chính xác. Nếu như chỉ xem vượng suy hỷ kỵ của “lục thân tinh” mà không quan tâm đến cung vị, hoặc chỉ xem cung vị của lục thân mà k hông nhìn tác dụng cát hung của “lục thân tinh”, như vậy kết quả phê đoán nào đều sẽ không toàn diện.

Ngoài ra, Bình Phái bát tự “Cửu cung phi tinh quyết” còn có cách vận dụng cụ thể kĩ thuật “Tinh cung đồng tham”. Khâu Bình Sách tiên sinh đã sớm công khai kĩ thuật này vào năm 2003 khi xuất bản “Bình Sách Mệnh Lý Bí Tung”. Trong sách, chương Hôn Nhân, vận dụng Phối ngẫu tinh và Phối ngẫu cung, tinh cung đồng tham phương pháp để đoán tinh chuẩn ứng kì hôn nhân. Giảng giải như sau:
Trong bát tự, hôn kỳ mệnh lý bao quát hai phương diện phía dưới:

Một, nguyên cục có phối ngẫu tinh (nữ xem Quan tinh, nam xem Tài tinh) vốn có bệnh lại gặp được thuốc mà ứng thời điểm. Cụ thể giải thích, bất luận mệnh nam nữ, nguyên cục có phối ngẫu tinh là kỵ, hôn kỳ ứng tại năm có tác dụng chế hoá kỵ thần. Nguyên cục có phối ngẫu tinh là hỷ dụng, hôn kỳ ứng tại năm sinh vượng hoặc năm trợ giúp hỷ dụng.

Hai, nguyên cục có phối ngẫu cung (nhật chi trong nguyên cục) là kỵ, tuế vận nếu chế phục là đắc nghi. Nguyên cục có phối ngẫu cung là hỷ dụng thần, tuế vận nghi sinh trợ.

Ví dụ một: Lai Thành khu, Bắc phụ, tiểu Tào
Càn tạo: Đinh Tỵ - Quý Sửu – Quý Dậu – Mậu Ngọ
Đại vận: Nhâm Tý, Tân Hợi, Canh Tuất, Kỷ Dậu, Mậu Thân, Đinh Mùi, Bính Ngọ


Phân tích mệnh cục: Bát tự này nguyên cục thân vượng kỵ Ấn Tỷ. Đại vận Canh Tuất, năm Canh Thìn, Thìn xung Tuất mà kích hoả, càng lại hợp trói hôn nhân cung Dậu kim toạ dưới Nhật chủ, kết hôn.

Ví dụ hai: Lai Thành khu, đường Bắc Thản, một ông chủ
Càn tạo: Giáp Dần – Kỷ Tỵ - Đinh Mùi – Bính Ngọ
Đại vận: Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu


Phân tích mệnh cục: Bát tự này tòng cường, Tài tinh là kỵ không hiện, hôn nhân cung táo thổ trợ thân, hôn nhân tất nhiên tốt mà lại sớm. Đại vận Tân Mùi, lưu niên Bính Tý, vận can Tân kim hợp trói Bính hoả, vận chi Mùi thổ khắc tuế chi Tý thuỷ, Tý thuỷ không khắc Tỵ Ngọ hoả, ứng cát mà kết hôn.

Ví dụ ba: Lai Thành khu, một người nữ
Khôn tạo: Quý Sửu – Kỷ Mùi – Bính Dần – Quý Tỵ

Đại vận: Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu

Phân tích mệnh cục: Nhật nguyên Bính hoả sinh tại tháng Mùi, vượng. Toạ dưới có Dần mộc tương sinh, lại khí quán thời trụ, thế vượng cực. Niên can Quý thuỷ bị Kỷ thổ khắc thương mà không thể chế hoả. Sửu thổ là căn của Quý cũng bị nguyệt lệnh xung tổn thương, cho nên thời can Quý thuỷ cũng không có lực. Hoả vượng cực không hỷ khắc chế, phản cục tòng cường, dụng kỷ thổ Thương Quan chế thuỷ là sáng suốt. Vận Nhâm Tuất, lưu niên Mậu Dần, Tuất thổ khắc Nhâm hợp Quý, kết hôn. Lưu niên Canh Thìn, Canh sinh Nhâm, Sát công thân mà ngoại tình. Năm Quý Mùi ly hôn.

Sửa bởi ThienKhanh: 06/03/2019 - 01:33


Thanked by 3 Members:

#3 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1135 Bài viết:
  • 1789 thanks

Gửi vào 04/06/2019 - 23:59


Bài 3: Một lần đi xem thầy Manh Phái

Link:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


(Ghi chú: Link này không còn hoạt động)


Thiên Khánh đánh giá nhanh: đọc chơi cho vui

-----

(Dịch thô)

Trong một lĩnh vực đặc thù, sẽ có một ít đặc thù tồn tại. Nói đến bát tự, rất nhiều người đều sẽ liên tưởng đến khi còn nhỏ có một ông lão thầy bói mù đi vào thôn, chỉ là khi đó tuổi còn nhỏ, chi nghe được rất nhiều người lớn miệng nói vâng vâng, dạ dạ, đại sư nói đúng, nói thật là chuẩn, nghe mà cảm thấy hiếu kỳ ông lão xấu xí này có lợi hại như vậy hay sao.

Lớn lên tiếp xúc nhiều tri thức hơn, liền cảm thấy hứng thú với bát tự. Trong lĩnh vực bát tự thì thanh danh Manh Phái là nửa xấu nửa tốt, cho nên càng gợi cho tôi tò mò. Thẳng đến một ngày tôi gặp được một vị cao nhân.

Cùng người thân tổng cộng hơn 20 cái mệnh lệ lấy ra khảo nghiệm, sơ bộ tổng kết được vài đặc điểm đoán mệnh của Manh Phái cao nhân:
  • Tuyệt đối không thu phí cao. Khoảng 5 tệ. Thật bất ngờ, bởi vì muốn gia nhập Manh Phái phải lập lời thề. An bần lạc đạo cũng là một loại khảo nghiệm phẩm đức.
  • Người đến coi mệnh một bên báo ra bát tự, một bên cao nhân Manh Phái đã bắt đầu giảng giải vận mệnh. Bài xong bát tự tối đa 3 giây là bắt đầu giải, tuyệt không có ngưng lại để suy nghĩ. Một khi giải mệnh liền là thao thao bất tuyệt, không để cho người đến xem mệnh xen vào.
  • Câu nói đầu tiên là đoán đương số còn sống hay đã mất. Câu thứ hai đoán người này có hay không công ăn việc làm ổn định, cùng với trình độ cao hay thấp. Cao nhân Manh phái khi giải mệnh em trai tôi, làm cho nó muốn hồ đồ rồi: Đứa nhỏ này 16 tuổi việc học muốn đứt đoạn, vì sao lại có đến học vị tiến sĩ? Tôi đáp: Nó 16 tuổi đi nước ngoài, việc học bị đứt đoạn, sau lại tiếp tục đi học. Cao nhân Manh phái: ra là vậy.
  • Câu thứ ba hỏi cầm tinh của cha mẹ. Câu thứ tư nói lúc cha hay mẹ tạ thế, em tôi có ở bên cạnh tống chung hay không.
  • Câu thứ sáu nói về số lượng anh em và thứ bậc trong nhà. 27 bát tự chỉ đoán sai một cái. Vợ tôi chỉ có hai chị em gái, là chị; cao nhân Manh phái lại nói là chỉ có hai chị em gái, là vai em.
  • Câu thứ bảy đoán đương số kết hôn hay chưa, năm nào kết hôn, năm nào ly hôn. Nếu chưa kết hôn thì năm nào có Hồng Loan. Nói rất chắc chắn rõ ràng, không mập mờ. Em trai thứ chín của tôi từ Bắc Kinh xuống hỏi bát tự, cao nhân nhàn nhạt một câu: Ông vợ chính thức 3 bà, ngầm thì ít nhất 6 người. Đoán đến xém chút em tôi muốn quỳ xuống. Nó hiện tại ba vợ, còn tình nhân theo tôi biết có 4 người.
  • Câu thứ tám đoán mệnh chủ đã có con cái hay chưa, đã có mấy con, sẽ còn có mấy đứa. Có bát tự nữ mệnh, cao nhân đoán cô đã sinh 4 đứa con gái, hiện tại lại có thai, hẳn là mang thai vào tháng 7, sang năm nhất định sinh con trai, mẹ con bình an; đừng đi siêu âm làm gì cho tốn tiền, lại không tốt đối với sức khoẻ; như sang năm sinh con không đúng như vậy, có thể quay lại đập bảng hiệu. (Cao nhân Manh phái đã ở chỗ nào treo bảng đoán mệnh hơn 40 năm.)
  • Tiếp theo đoán vận. Cao nhân Manh Phái chỉ đoán 5 năm quá khứ và 5 năm tương lai, không đoán nhiều. Những năm khác trừ khi có hạn lớn hoặc hỷ sự lớn thì mới đặc biệt nói ra. Gặp phải bát tự có cha mẹ lớn tuổi, như trong 10 năm tới cha mẹ tạ thế, sẽ nói thẳng năm nào có tang sự, là tang nam hay là tang nữ, tuyệt không mập mờ.
  • Cao nhân Manh Phái có qui tắc: đương số 13 tuổi trở xuống không coi mệnh, 65 tuổi trở lên có hỏi mới nói cho biết thọ hạn.
  • Sau đó đoán năm nay cát hung thế nào. Tháng 11 có một người bà con xa của tôi có đến xem mệnh, cao nhân bảo năm nay lái xe cẩn thận. Hơn 10 ngày sau lái xe nâng trong công trình bị lật xe, bà vợ giả trang đến hỏi mệnh, cao nhân câu đầu tiên đã nói: “Đứa bè này, nếu như hiện tại bình yên vô sự, vậy thì năm nay tai hoạ gì cũng sẽ không có, nhưng tiền tài hao thì đã hao rồi.
  • Kế tiếp đoán đương số năm nay có thể phát tài ở phương nào, không thể phát tài ở phương nào.
  • Từ đầu đến đây là đoán một mạch, lúc này mới xem như đoán xong, mới để cho đương số xen vao, có việc thì hỏi, có sai lệch thì nói ra, cao nhân lại giúp cân nhắc.
  • Lúc này cao nhân mù sẽ nói 1 câu: “Đương số có thể hỏi một sự kiện, có việc thì hỏi, không có việc thì có thể đi”.
  • Từ lúc báo ngày sinh đến lúc hỏi xong khoảng 8-10 phút. Cao nhân mù thu phí 5 tệ.
  • Cao nhân mù tính tình thoải mái, mỗi hút một cữ thuốc, liền xem 5 bát tự. Có khi cao hứng còn hát lên ca quyết, gieo vần êm tai, vừa hát vừa dùng chân nhịp.


Thanked by 4 Members:

#4 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1135 Bài viết:
  • 1789 thanks

Gửi vào 20/06/2019 - 15:02

Xin lỗi, bài phía trên có nhiều lỗi sai nên mình đăng lại bài này. Nếu Ban Điều Hành có thời gian, kính nhờ xóa giúp TK bài đăng số 4 và số 5 trong mục này. TK cám ơn.

-----

Bài 4: Đoán cát hung qua số điện thoại

Phần đăng này không phải là dịch từ tài liệu lượm lặt trên mạng, mà là kinh nghiệm cá nhân của riêng mình về việc chọn số điện thoại hợp phong thuỷ. Do trên Facebook có người đề cập đến vấn đề này, sẵn tiện mình đăng lại ở đây luôn. Một công đôi việc.

Chú ý là đây chỉ là kinh nghiệm cá nhân, còn việc chọn số điện thoại có rất nhiều phương pháp khác nhau, do đó sẽ cho ra nhiều kết quả cát hung khác nhau. Cùng một số điện thoại nhưng có phương pháp cho ra cát, có phương pháp lại cho ra hung. Cho nên người đọc cần phải thận trọng chọn lựa phương pháp hợp lý.

-----

Mình đăng nguyên văn vấn đề do bạn

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

n (tên được đổi vì lí do tế nhị đặt ra để tiện tham khảo:


"Quan điểm của anh về số điện thoại phối với quẻ dịch có tác động tới vận mệnh con người hay không?nếu có sự tác động nhất định thì phải chăng chúng ta nên thay đổi ,tìm một số nào đó phù hợp để bổ trợ cho vận mệnh của chính mình?!"

Kính mời mọi người chia sẻ kinh nghiệm.

-----

Ý kiến của mình như sau:

Thứ nhất là theo quan niệm Thiên Nhân Hợp Nhất trong văn hoá Phương Đông, và cũng là kim chỉ nam cho các môn ngũ thuật (Sơn, Y, Mệnh, Tướng, Bốc), thì số điện thoại tuy chỉ là vấn đề nhỏ nhưng nó cũng có ảnh hưởng nhất định đến vận mệnh con người. Trong Tử Bình nó được liệt kê vào "ngoại ứng" để giải hạn hoặc xu cát.

Về vấn đề cát hung số điện thoại, mình cũng linh động như nhiều vấn đề khác: tin thì có, không tin thì không có; có thờ có thiêng, có kiêng có lành.

Phía trên là nói về quan điểm của mình về việc "tin hay không tin". Phía dưới mình thống kê một số hệ thống số mà chúng ta có thể dùng để xu cát tỵ hung theo ngũ hành:

(1) Hệ thống số thập phân theo Hà Đồ: Thiên nhất sinh thuỷ, địa lục thành chi (1, 6 thuỷ). Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi (2, 7 hoả). Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi (3, 8 mộc). Địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi (4, 9 kim). Thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi (5, 10 thổ).

(2) Hệ thống số cửu phân theo Phi tinh: nhất bạch thuỷ tinh (1 thuỷ), nhị hắc thổ tinh (2 thổ), tam bích mộc tinh (3 mộc), tứ lục mộc tinh (4 mộc), ngũ hoàng thổ tinh (5 thổ), lục bạch kim tinh (6 kim), thất xích kim tinh (7 kim), bát bạch thổ tinh (8 thổ), cửu tử hoả tinh (9 hoả).

(3) Hệ thống số bát phân theo Bát quái tiên thiên: nhất Càn kim (1 kim), nhị Đoài kim (2 kim), tam Ly hoả (3 hoả), tứ Chấn mộc (4 mộc), ngũ Tốn mộc (5 mộc), lục Khảm thuỷ (6 thuỷ), thất Cấn thổ (7 thổ), bát Khôn thổ (8 thổ).

Ba hệ thống trên là khá phổ biến. Ngoài ra còn có các hệ thống số khác để đoán cát hung mà không dùng ngũ hành như: hệ thống tứ phân Sinh Lão Bệnh Tử, hệ thống thập nhị phân Vòng Trường Sinh, và đặc biệt rất phổ biến trong dân gian là hệ thống đồng âm tiếng Hán. Ví dụ cho phương pháp chọn đồng âm tiếng Hán như sau: chuộng số 6 vì số 6 đọc hài âm với chữ Lộc, chuộng số 8 vì hài âm với chữ Phát, số 1 vì đồng nghĩa với nhất định. Ví dụ như số 168 được cho là cát vì nó có nghĩa là "nhất (định) lộc phát". Số 164 là không cát vì có nghĩa "nhất lộ tử" (một đường đi chết - số 6 hài âm với từ "lộ" là con đường, số 4 hài âm với chữ "tử" là chết).

Do có nhiều hệ thống số như phía trên đã nói, cho nên sẽ có nhiều cách tính cát hung số điện thoại khác nhau. Nếu mọi người tra trên mạng sẽ có cách tính cát hung bằng 4 chữ số cuối. Tuy nhiên theo quan điểm của mình, một số điện thoại được cấu thành từ cả dãy số, không có lí do gì cắt 4 số cuối để đoán cát hung. Thành ra mình dùng cả số để đoán cát hung.

Vào năm 2014 mình có mua thêm 1 số điện thoại mới (trong nhóm này có người khi đó đã cực khổ chạy tới chạy lui 2, 3 lần để mua giúp mình). Cách mình tính cát hung số điện thoại bao gồm các phần sau:

(i) Hiểu rõ bát tự hỷ dụng và đặc biệt là bố cục bát tự.

(ii) Dùng 1 chữ số đuôi để tính HÌNH của ngũ hành theo hệ thống số thập phân Hà Đồ (hệ thống (1)) bởi vì 1 dãy số là viết theo dạng thập phân.

(iii) Dùng cực số để lấy CHẤT của ngũ hành theo hệ thống bát phân theo Bát Quái tiên thiên (hệ thống (3)) vì Tử Bình và Dịch là thông hành, còn Tử Bình và Phi Tinh ít có điểm chung hơn về mặt lý pháp. Hiện này vẫn có một số nhà nghiên cứu cố gắng kết hợp Tử Bình và Cửu Cung Phi Tinh về mặt lý pháp, ví dụ như qua kĩ thuật Thái Cực Cửu Cung. Tuy nhiên rất hạn chế, thành ra mình ít khi dùng Cửu Tinh trong "ngoại ứng" Tử Bình.

(iv) Số điện thoại được chọn phải đáp ứng đủ cả 3 yếu tố (i), (ii) và (iii). Yếu tố thứ (ii) và (iii) nên là dụng hỷ của bát tự, đồng thời tương sinh với nhau, và sinh đến dụng hỷ.

Cụ thể, các bước tiến hành chọn được số điện thoại 0937xxx678 như sau:

(a) Bát tự mình hỷ hoả mộc. Cho nên khi chọn HÌNH và CHẤT của ngũ hành phải rơi vào mộc hoả. Tốt nhất là mộc hoả tương sinh.

(b ) Số điện thoại 0937xxx678 có đuôi 8 là số thành của mộc. Vậy HÌNH của nó là mộc, là hỷ của bát tự mình.

(c ) Số điện thoại 0937xxx678 có tổng các chữ số là 51. Lấy 51 chia 8 dư 3. Theo hệ thống (3) là rơi vào quẻ Ly là hoả. Vậy CHẤT của nó là hoả, cũng là hỷ thần của mình.

Như vậy mình chọn số này vì nó có hình là mộc, chất là hoả, mộc hoả tương sinh. Ở đây cần nói thêm, nếu tính CHẤT của ngũ hành theo hệ thống cửu phân (hệ thống số (2)), lấy 51 chia 9 dư 6, được Lục bạch kim tinh, thuộc hành kim, vốn là không cát lợi cho tài phú và tình duyên. Tuy nhiên, Lục bạch kim tinh ứng với quẻ Càn. Tại Càn cung có 2 địa chi là Tuất Hợi. Tuất là hoả khố, mà bát tự mình hỷ hoả, mộc cho nên vẫn đáp ứng tiêu chi số (i). Nếu không tính chi Tuất mà tính chi Hợi tại Càn cung, thì trong Hợi tàng Nhâm thuỷ và Giáp mộc, thuỷ mộc tương sinh, sinh đến mộc cũng là hỷ của bát tự mình. Vẫn thoả điều kiện (i). Có điều trong bát tự của mình nhật chi là Hợi, nếu tính Hợi tại Càn cung sẽ gặp nhị hình, thành ra trong tốt có xấu, chủ yếu ảnh hưởng đến tình duyên, đầu óc khó thanh thản, sức khoẻ dễ trì trệ, cực thân. Tức là không tốt hoàn toàn. Nhưng biết sao được. Đại đạo 50, thiên diễn 49, làm sự không nên làm tuyệt, tốt cũng tốt vừa phải, không nên vạn sự đều tốt, ắt vật cực tất phản, tốt quá hoá xấu, tính già hoá non.

Còn nếu tính theo dân gian, hài âm tiếng Hán thì số điện thoại của mình phần giữa có nghĩa là tiến theo cấp số nhân đến lộc, là phát lộc theo cấp số nhân, còn 3 số cuối là số tiến, cũng là phát lộc.

Số này mình nhớ không lầm là khi đó mình mua khoảng 1 triệu hay 1.2 triệu hay sao đó. Nhưng đối với mình nó là cái duyên, rất khó chọn được 1 số điện thoại đáp ứng nhiều điều kiện như vậy. Đối với mình thì nó quý hơn nhiều so với những số được định giá cao như số tứ quý.

Phía trên là ý kiến của mình về dùng Dịch đoán cát hung số điện thoại và phương pháp thực tế mà mình sử dụng. Hy vọng có thể cung cấp cho mọi người tham khảo.

Sửa bởi ThienKhanh: 20/06/2019 - 15:03


Thanked by 2 Members:

#5 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1135 Bài viết:
  • 1789 thanks

Gửi vào 24/06/2019 - 22:09

Bài 5: Thái Ất Thân Mệnh Thập Nhị Cung (phần 1)

Link:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thiên Khánh nhận xét nhanh: Khi trước tôi có đề cập đến việc có nhiều loại 12 cung chức khác nhau. Mười hai cung chức Tử Vi, và Tử Bình (Quả Lão Tinh Tông) khá phổ biến. Hôm nay tôi lại giới thiệu tiếp 12 cung chức Thái Ất. Tuy nhiên, đây là tài liệu trên Internet nên mong mọi người thận đọc. Gạn đục khơi trong là trách nhiệm của người đọc.

-----

THÁI ẤT THÂN MỆNH THẬP NHỊ CUNG (phần 1)

Các trứ tác mệnh lý cổ đại khi thôi diễn vận mệnh cả đời của một người thường đều lấy mệnh vận nhân sinh của người đó phân thành mười hai phương diện: cung mệnh, cung anh em, cung thê thiếp, cung con cái, cung tiền tài, cung điền trạch, cung quan lộc, cung nô bộc, cung tật ách, cung phúc đức, cung tướng mạo, cung phụ mẫu. Mười hai phương diện này (mười hai cung) sẽ tổ hợp thành mệnh vận cả đời của một người. Mệnh cung làm đầu, cũng là quan trọng nhất, bởi vì từ mệnh cung có thể xem được khái quát vận mệnh cả đời người, còn lại các cung khác, mỗi cung phản ánh một phương diện tình huống khác nhau. Như cung anh em có thể tính ra có bao nhiêu anh chị em, anh chị em giàu nghèo, quý tiện; cung tiền tài có thể tính ra tài vận đời người, hoặc giàu hoặc nghèo, hoặc trước nghèo sau giàu, hoặc trước giàu sau nghèo, vân vân. Mười hai cung còn gọi chung là Thân Mệnh Thập Nhị Cung.

Tại sao cần phải phân thành mười hai cung? Bởi vì cổ nhân cho rằng trời có mười hai tầng (mười hai thiên tướng, còn gọi là nguyệt tướng), đất có mười hai thần (mười hai địa chi), người có mười hai cung, vậy là thiên địa nhân tam vị nhất thể, cảm ứng lẫn nhau, tam tài thống nhất. Dùng ngôn ngữ hiện tại mà nói thì là trời đất, giới tự nhiên cùng con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, những biến hoá trong giới tự nhiên nhất định sẽ ảnh hưởng đến con người; từ những biến hoá, biến dị trong giới tự nhiên, tương ứng sẽ sinh ra hoạ phúc tai ương trong xã hội loài người. Vận mệnh của một người có mối liên hệ chặt chẽ với trời đất và giới tự nhiên. Đây chính là quan điểm nhân sinh “Thiên nhân quan” nổi tiếng trong thời cổ đại, hoặc còn gọi là “Thiên nhân cảm ứng quan”. Loại quan điểm này hầu như ảnh hướng đến tất cả các lĩnh vực trong hình thái ý thức cổ đại. Quan điểm này chính là cơ sở lý luận cho Thân mệnh mười hai cung.

Trời đất tự nhiên thay đổi, nhất là thay đổi về khí hậu, đối với tình trạng thân thể của con người, cũng như tình trạng bệnh tật, sinh sản, sinh hoạt đều sẽ có ảnh hưởng. Điểm này ai cũng đều có thể hiểu được. Nhưng nếu cho rằng những biến hoá trong trời đất, giới tự nhiên có liên hệ với vận mệnh, cát hung hoạ phúc đời người, thì lại vô cùng khó hiểu. Chúng ta có thể dùng lí luận kết hợp với thực tiễn nghiên cứu vấn đề này, nhằm giải thích vấn đề thiên cổ này.

Bây giờ quay lại vấn đề Thân mệnh mười hai cung. Phương pháp đoán mệnh cổ đại bằng tứ trụ bình thường đều dùng Thân mệnh mười hai cung để tiến hành thôi diễn, thuật đoán mệnh Thái Ất cũng cơ bản giống vậy. Nhưng theo thuật Thái Ất mệnh pháp, ngoài trừ thân mệnh mười hai cung, còn có thân cung, nhật cung, và thời cung, thực thế thành Thân mệnh mười lăm cung. Tuy nhiên về mặt tên gọi, vẫn thống nhất gọi là Thân mệnh mười hai cung.

Thái Ất mệnh pháp so với Tứ trụ mệnh pháp tại sao lại có thêm ba cung là thân cung, nhật cung, và thời cung? Nguyên nhân là từ những công cụ và phương pháp suy tính đặc biệt của bộ môn Thái Ất. Cũng chính là nói bởi vì phải thích ứng với phương pháp suy tính của Thái Ất mà mới cần thêm vào thân cung, nhật cung, và thời cung; thực tế dùng thân mệnh mười lăm cung. Vấn đề này thực chất không có gì là lạ.

Phía dưới giới thiệu chi tiết và cụ thể phương pháp suy tính và nội dung phân biệt Thân mệnh mười hai cung (thực tế là mười lăm cung).

Một: Mệnh cung

Mệnh cung quyết định vận mệnh cả đời người, là quan trọng nhất. Mệnh cung là thủ lĩnh của mười hai cung. Mười hai cung sắp xếp theo thứ tự là: mệnh cung, huynh đệ cung, thê thiếp cung, tử tôn cung, tài bạch cung, điền trạch cung, quan lộc cung, nô bộc cung, tật ách cung, phúc đức cung, tướng mạo cung, phụ mẫu cung. Mười hai cung phối mười hai địa chi, trước xác định vị trí mệnh cung, còn các cung khác sắp xếp theo thứ tự thuận hay nghịch.

1. Cách an mệnh cung

Cách khởi mệnh cung là lấy địa chi của tháng sinh chồng lên niên chi, sau đó theo thứ tự mười hai chi, lấy địa chi giờ sinh định mệnh cung. Nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm thì xếp thuận, nam sinh năm âm và nữ sinh năm dương thì xếp nghịch.

Niên chi, nguyệt chi, nhật chi, thời chi là gì?

Thời cổ đại nước ta sử dụng mười thiên can (Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý) cùng mười hai địa chi (Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi) phối hợp với nhau để ghi nhớ năm, tháng, ngày, giờ. Mười thiên can và mười hai địa chi có bội số chung nhỏ nhất là 60, cho nên mười thiên can phối mười hai địa chi thành 60 cái đơn vị, gọi là Lục thập giáp tý. Lục thập giáp tý theo thứ tự thuận như sau:

1. Giáp Tý, 2. Ất Sửu, 3. Bính Dần, 4. Đinh Mão, 5. Mậu THìn, 6. Kỷ Tỵ, 7. Canh Ngọ, 8. Tân Mùi, 9. Nhâm Thân, 10. Quý Dậu, 11. Giáp Tuất, 12. Ất Hợi, 3. Bính Tý, 14. Đinh Sửu, 15. Mậu Dần, 16. Kỷ Mão, 17. Canh Thìn, 18. Tân Tỵ, 19. Nhâm Ngọ, 20. Quý Mùi, 21. Giáp Thân, 22. Ất Dậu, 23. Bính Tuất, 24. Đinh Hợi, 25. Mậu Tý, 26. Kỷ Sửu, 27. Canh Dần, 28. Tân Mão, 29. Nhâm Thìn, 30. Quý Tỵ, 31. Giáp Ngọ, 32. Ất Mùi, 33. Bính Thân, 34. Đinh Dậu, 35. Mậu Tuất, 36. Kỷ Hợi, 37. Canh Tý, 38. Tân Sửu, 39. Nhâm Dầm, 40. Quý Mão, 41. Giáp Thìn, 42. Ất Tỵ, 43. Bính Ngọ, 44. Đinh Mùi, 45. Mậu Thân, 46. Kỷ Dậu, 47. Canh Tuất, 48. Tân Hợi, 49. Nhâm Tý, 50. Quý Sửu, 51. Giáp Dần, 52. Ất Mão, 53. Bính Thìn, 54. Đinh Tỵ, 55. Mậu Ngọ, 56. Kỷ Mùi, 57. Canh Thân, 58. Tân Dậu, 59. Nhâm Tuất, 60. Quý Hợi.

Dùng Lục thập giáp tý để ghi năm, tháng, ngày, giờ thì bắt đầu khởi từ Giáp Tý, đến Quý Hợi thì ngừng, sau đó tuần hoàn lặp lại. Lấy việc ghi năm làm ví dụ, như năm Giáp Tý, Giáp là niên can, Tý là niên chi. Năm Ất sửu thì Ất là niên can, Sửu là niên chi. Ghi tháng, ghi ngày, ghi giờ cũng tương tự. Trong thực tế thì thường muốn biết niên can chi, nguyệt can chi, nhật can chi, thời can chi có thể dùng lịch vạn niên để tìm.

Cần nói thêm, nguyệt chi còn gọi là nguyệt kiến. Một năm có mười hai tháng, các nguyệt chi cho từng tháng đều là cố định như sau: tháng Giêng Dần, tháng hai Mão, tháng ba Thìn, tháng tư Tỵ, tháng năm Ngọ, tháng sáu Mùi, tháng bảy Thân, tháng tám Dậu, tháng chín Tuất, tháng mười Hợi, tháng mười một Tý, tháng Chạp Sửu.

Mười thiên can và mười hai địa chi cũng có thuộc tính âm dương, cũng có thuộc tính ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ. Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc dương, là dương can. Ất Đinh Kỷ Tân Quý thuộc âm, là âm can. Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất thuộc dương, là dương chi. Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi thuộc âm, là âm chi. Giáp Ất Dần Mão thuộc mộc, Bính Đinh Tỵ Ngọ thuộc hoả, Canh Tân Thân Dậu thuộc kim, Nhâm Quý Hợi Tý thuộc thuỷ, Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ.

Phương vị cũng có thuộc tính ngũ hành: phương Bắc thuộc thuỷ, phương Đông thuộc mộc, phương Nam thuộc hoả, phương Tây thuộc kim, trung ương thuộc thổ.

Mười hai địa chi cũng phân chia theo phương vị: Tý là Bắc, Ngọ là Nam, Mão là Đông, Dậu là Tây, Sửu Dần là Đông Bắc, Thìn Tỵ là Đông Nam, Mùi Thân là Tây Nam, Tuất Hợi là Tây Bắc.

(lược bỏ đồ hình an mười hai địa chi trên bàn tay trái)

Trong mười hai địa chi, Dần Thân Tỵ Hợi là tứ mạnh, Tý Ngọ Mão Dậu là tứ trọng, Thìn Tuất Sửu Mùi vì tứ quý. Tứ quý còn gọi là tứ mộ. Ba tháng mùa xuân, tháng Giêng tại tháng Dần, còn gọi là mạnh xuân. Tháng hai là tháng Mão, còn gọi là trọng xuân. Tháng ba là tháng Thìn, còn gọi là quý xuân. Hạ, thu, đông tính tương tự.

Sau khi biết các kiến thức cơ bản, hiện tại chúng ta lại nói đến phương pháp khởi mệnh cung. Nam mệnh sinh năm dương gọi là dương nam, nam mệnh sinh năm âm gọi là âm nam, nữ mệnh sinh năm dương gọi là dương nữ, nữ mệnh sinh năm âm gọi là âm nữ. Đối với phương pháp khởi mệnh cung, không luận mệnh nam hay mệnh nữ, đều là từ địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh, dương nam và âm nữ theo thứ tự xếp thuận mười hai chi, âm nam và dương nữ theo thứ tự xếp nghịch mười hai chi. Lại lấy địa chi giờ sinh định mệnh cung. Sau khi định được mệnh cung, hương nam âm nữ theo thứ tự sắp xếp thuận các cung huynh đệ, thê thiếp, tử tôn, tài bạch, điền trạch, quan lộc, nô bộc, tật ách, phúc đức, tướng mạo, phụ mẫu. Âm nam và dương nữ theo thứ tự xắp xếp nghịch cách cung huynh đệ, thê thiếp, tử tôn, tài bạch, điền trạch, quan lộc, nô bộc, tật ách, phúc đức, tướng mạo, phụ mẫu.

Ví dụ 1: Dương nam sinh vào năm Giáp Tý, tháng Bính Dần, ngày Ất Sửu, giờ Giáp Thân, xem mệnh cung an ở đâu. Lấy nguyệt chi Dần chồng lên niên chi Tý (TK: tức là bấm vào vị ví Tý trên lòng bàn tay trái đọc Dần, thay vì đọc Tý). Theo thứ tự sắp xếp thuận mười hai chi, ta có đồ hình:

Mùi Thân Dậu Tuất
Ngọ.................Hợi
Tỵ....................Tý
Thìn Mão Dần Sửu

Để thuận tiện, Thiên Khánh giải thích đồ hình bằng lời văn: Dần (vị trí cũ là Tý), Mão (vị trí cũ là Sửu), Thìn (vị trí cũ là Dần), Tỵ (vị trí cũ là Mão), Ngọ (vị trí cũ là Thìn), Mùi (vị trí cũ là Tỵ), Thân (vị trí cũ là Ngọ), Dậu (vị trí cũ là Mùi), Tuất (vị trí cũ là Thân), Hợi (vị trí cũ là Dậu), Tý (vị trí cũ là Tuất), Sửu (vị trí cũ là Hợi)

Người này sinh vào giờ Thân, trên đồ hình, cung Thân đang ở vị trí của Ngọ trên bàn tay trái. Người này mệnh cung bày như sau (TK: lúc này vị trí các cung tính theo vị trí mười hai địa chi trên lòng bàn tay trái theo kiểu cũ, tức cung Tý ở vị trí chính Bắc): một, mệnh cung Ngọ; hai, huynh đệ cung Mùi; ba, thê thiếp cung Thân; bốn, tử tôn cung ; năm, tài bạch cung Tuất; sáu, điền trạch cung Hợi; bảy, quan lộc cung Tý; tám, nô bộc cung Sửu; chín, tật ách cung Dần; mười, phúc đức cung Mão; mười một, tướng mạo cung Thìn; mười hai, phụ mẫu cung Tỵ.

Ví dụ 2: Âm nam sinh vào năm Ất Sửu, tháng Mậu Dần, ngày Bính Ngọ, giờ Bính Thân, xem mệnh cung an ở vị trí nào. Lấy nguyệt chi Dần chồng lên niên chi Sửu, theo thứ tự sắp xếp nghịch mười hai địa chi được đồ hình:

Tuất Dậu Thân Mùi
Hợi..................Ngọ
Tý....................Tỵ
Sửu Dần Mão Thìn

Người này sinh vào giờ Thân, Thân hiện đang ở vị trí của Mùi, cho nên mệnh cung tại Mùi. Người này có mười hai cung sắp xếp như sau: một, mệnh cung Mùi; hai, huynh đệ cung Ngọ; ba, thê thiếp cung Tỵ; bốn, tử tôn cung Thìn; năm, tài bạch cung Mão; sáu, điền trạch cung Dần; bảy, quan lộc cung Sửu; tám, nô bộc cung Tý; chín, tật ách cung Hợi; mười, phúc đức cung Tuất; mười một, tướng mạo cung Dậu; mười hai, phụ mẫu cung Thân.

2. Phương pháp an thân cung

Thân cung và mệnh cung có ý nghĩa đại khái giống nhau, đều là tổng quát về vận mệnh cả đời người, có tác dụng bổ sung và tham khảo cho mệnh cung. Phương pháp định thân cung, trước lấy địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh, dương nam âm nữ sắp xếp thuận, âm nam dương nữ sắp xếp nghịch. Sau đó lấy vị trí mà địa chi ngày sinh chồng lên làm thân cung.

Ví dụ 1: Năm Giáp Tý, tháng Bính Dần, ngày Ất Sửu, giờ Giáp Thân (dương nam), cần xác định vị trí thân cung.

Đầu tiên lấy địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh. Sau đó sắp xếp thuận mười hai chi. Tức là lấy địa chi Dần của tháng Bính Dần chồng lên địa chi Tý của năm Giáp Tý, sau đó sắp xếp thuận mười hai chi. Lại xem địa chi Sửu của ngày sinh Ất Sửu chồng lên cung nào thì lấy cung đó làm thân cung. Phía dưới có đồ hình:

Mùi Thân Dậu Tuất
Ngọ.................Hợi
Tỵ....................Tý
Thìn Mão Dần Sửu

Người này sinh ngày Ất Sửu, Sửu hiện chồng lên cung Hợi, thì Hợi là thân cung.

Ví dụ 2: Năm Ất Sửu, tháng Mậu Dần, ngày Bính Ngọ, giờ Bính Thân (âm nam), tìm vị trí an thân cung.

Lấy nguyên chi Dần chồng lên niên chi Sửu, sắp xếp theo thứ tự nghịch mười ai cung, có đồ hình bên dưới:

Tuất Dậu Thân Mùi
Hợi..................Ngọ
Tý....................Tỵ
Sửu Dần Mão Thìn

Người này sinh vào ngày Bính Ngọ. Trên đồ hình, Ngọ chồng lên cung Dậu, cho nên vị trí của Dậu trên địa bàn là thân cung.

3. Phương pháp an nhật cung

Phương pháp khởi nhật cung rất đơn giản, không tính dương nam âm nữ, âm nam dương nữ, sinh vào ngày có địa chi gì thì cung đó trên địa bàn chính là nhật cung. Như người sinh ngày Giáp Tý, thì cung Tý trên địa bàn chính là nhật cung. Người sinh ngày Ất Sửu, thì cung Sửu tên địa bàn chính là nhật cung. Người sinh ngày Bính Dần, thì cung Dần trên địa bàn là nhật cung.

4. Phương pháp an thời cung

Phương pháp khởi thời cung cũng giống như khởi nhật cung. Không tính dương nam âm nữ, hay âm nam dương nữ, sinh vào giờ có địa chi gì thì cung đó trên địa bàn chính là thời cung. Như người sinh giờ Giáp Tý thì cung Tý trên địa bàn chính là thời cung. Người sinh giờ Ất Sửu thì cung Sửu trên địa bàn là thời cung. Người sinh giờ Bính Dần thì cung Dần trên địa bàn là thời cung.

5. Xem cát hung mệnh cung

Mệnh cung như gặp cát tinh thì chủ cát, như gặp hung tinh thì chủ hung. Nếu mệnh cung gặp cả cát tinh lẫn hung tinh, nếu cát tinh thắng hung tinh thì luận cát, nếu hung tinh thắng cát tinh thì luận hung. Nếu gặp toàn cát tinh hoặc gặp toàn hung tinh thì độ số cát hung có khác.

Mệnh cung lạc Không là điềm xấu. Vậy mệnh cung lạc Không là gì?

Mệnh cung lạc không là chỉ mệnh cung gặp vị trí Không Vong. Ở đây cần biết nội dung Lục giáp không vong. “Lục giáp” là chỉ “Tuần Lục giáp”. Trong 60 ngày Lục thập Giáp Tý, phân làm tuần Giáp Tý, tuần Giáp Tuất, tuần Giáp Thân, tuần Giáp Ngọ, tuần Giáp Thìn, tuần Giáp Dần, gọi là Tuần Lục giáp. Mỗi tuần có 10 ngày, mà thiên can có 10 vị, địa chi có 12 vị, thiên can và địa chi phối hợp, sẽ dư 2 vị trí địa chi. Như vậy hai địa chi không có thiên can để phối hợp này gọi là Không Vong.
Tuần Giáp Tý, Tuất Hợi Không Vong.
Tuần Giáp Tuất, Thân Dậu Không Vong.
Tuần Giáp Thân, Ngọ Mùi Không Vong.
Tuần Giáp Ngọ, Thìn Tỵ Không Vong.
Tuần Giáp Thìn, Dần Mão Không Vong.
Tuần Giáp Dần, Tý Sửu Không Vong.

Mệnh cung nếu ở vị trí cung vị Không Vong thì gọi là mệnh cung lạc Không. Mệnh cung lạc Không là căn cứ vào can chi. Như sinh vào tuần Giáp Tý, mệnh cung an ở Tuất Hợi thì là lạc Không.

Tuần Giáp Tý có 10 ngày Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu.

Tuần Giáp Tuất có 10 ngày Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi.

Tuần Giáp Thân có 10 ngày Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ.

Tuần Giáp Thìn có 10 ngày Giáp Thìn, Ất tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Thìn, Tân Hợi, Nhâm tý, Quý Sửu.

Tuần Giáp Dần có 10 ngày Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi.

Thái Ất mệnh thư tổng cộng có 16 sao, khi 16 sao này lâm mệnh cung đều có ý nghĩa riêng. Quân Cơ, Thần Cơ, Ngũ Phúc, Tiểu Du, Văn Xương, Kế Thần khi lâm mệnh cung, chủ hiển quý. Dân Cơ lâm mệnh chủ đến chỗ cơ quản quản lí dân, tức làm quan, cũng là phát tài, thu hoạch sung túc. Chủ Đại Tướng, Chủ Tham Tướng toạ mệnh cung, chủ về võ nghiệp, binh quyền quý hiển, nhậm chức gần thành thị. Khách Đại Tướng, Khách Tham Tướng đến mệnh cung, chủ võ nghiệp, binh quyền quý hiển, nhậm chức tại biên ải. Mệnh cung lạc Không, chủ hư giả không thực, nhàn cư vi bất thiện, phù phiếm vô định, không thế không thời.

6. Cát hung của thân cung, nhật cung và thời cung

Quan Cơ, Thần Cơ, Thuỷ Kích lâm thân cung, nhật cung, thời cung, chủ bệnh tim, bị thương, ngộ độc, mủ nhọt. Tiểu Du, Phi Phù lâm thân cung, nhật cung, thời cung chủ bệnh huyết dịch, đau nhức, bệnh tim. Thuỷ Kích Thái Ất, Phi Phù đến thân cung, nhật cung, chủ bệnh mắt, hô hấp, bệnh phổi. Thái Ất, Phi Phù đến thân cung, nhật cung, thời cung, chủ bệnh ho lao, bệnh đường ruột. Thân cung lạc Không, chủ ly hương biệt xứ, cáo mượn oai hùm, vô pháp vô thiên, lỗ mãng ngỗ ngáo, phiêu du vô định, ăn nhờ ở đậu nhà chùa đạo quán, đưa thư viết tin (?), ca kĩ tạp hí.

Niên nguyệt lạc Không, chủ tuổi thơ không nơi nương tựa, cha mẹ hình thương, không thể tự lập, không nhờ vả được quê quán. Nhật trụ lạc Không, chủ hại vợ tổn con, tầm thường tất bật, tiến lùi đều thua, nhiều sầu nhiều lo. Thời trụ lạc Không, chủ goá bụa cô độc, nhiều sầu nhiều lo, bệnh lao, suy nhược, tâm thần, vàng da, không thọ, cả đời đau khổ.

7. Cát hung huynh đệ cung

Huynh đệ cung lạc Không, chủ hình thương, ghen ghét, keo kiệt, bạn bè bù khú, cà lơ phất phơ, khắc bạc bất nghĩa.

8. Cát hung thê thiếp cung

Thê thiếp cung như ngộ cát tinh, vợ chồng không hình khắc; như ngộ hung tinh có hình tổn, hoặc hôn nhân chậm muộn. Thê thiếp cung lạc Không, chủ hình khắc quan quả, nửa đường gãy gánh, keo kiệt bủn xỉn, xảo trá thị phi, lừa dối ám muội.

9. Cát hung tử tôn cung

Tử tôn cung gặp cát tinh, chủ sinh quý tử; gặp hung tinh, chủ sinh nữ trước nam sau, hoặc chủ tổn thương, con vợ lẻ mới có thể bình an. Tử tôn cung gặp Tiểu Du, Ngũ Phúc, Quân Cơ, Thần Cơ, chủ có 3 con trai. Tử tôn cung gặp Kế Thần, Khách Đại Tướng, Dân Cơ, chủ 2 có 2 con trai. Tử tôn cung gặp Khách Tham Tướng, chủ có 1 con trai. Tử Tôn cung gặp Chủ Tham Tướng, chủ có 6 con trai. Tử tôn cung gặp Văn Xương, Thiên Ất, chủ có 4 con trai. Tử tôn cung gặp Thuỷ Kích, Phi Phù, chủ có 3 con gái. Tử Tôn cung gặp Tứ Thần, Địa Ất, chủ có 2 con gái. Tử tôn cung lạc Không, chủ con cháu thương yểu, con vợ lẻ, con thừa tự, tàn tật, điên cuồng, bất tài bất nhân.

10. Cát hung tài bạch cung

Tài bạch cung gặp cát tinh, tiền tài đủ đầy; gặp hung tinh tán tài ít tụ. Tài bạch cung lạc Không, chủ gia sản tiêu điều, tài phú thất tán, đạo tặc cướp bóc, li hương (?) bắt cóc, hoạ nạn bất ngờ, lục súc tổn hại.

11. Cát hung điền trạch cung

Điền trạch cung gặp cát tinh, thừa hưởng nhiều tổ nghiệp; gặp hung tinh, không có tổ nghiệp, bạch thủ thành gia, tha hương. Điền trạch cung lạc Không, ăn nhờ ở đậu, nhà tranh vách đất, rào thủng tường đổ, lửa đốt thuỷ dìm, tranh đoạt, hoang tàn.

12. Cát hung quan lộc cung

Quan lộc cung gặp cát tinh, vinh hoa hiển đạt; gặp hung tinh tiến thối đều dở. Quan lộc cung lạc Không, chủ hồ giả hổ uy, có tiếng mà không có miếng, xảo ngôn xảo ngữ, giáng cách chức đến nơi xa xôi.

13. Nô bộc cung

Nô bộc cung gặp cát tinh, chủ được nô bộc hỗ trợ; gặp hung tinh không được nô bộc hỗ trợ. Nô bộc cung lạc Không, chủ bệnh, chết, thương tổn, thất bại, cưỡng hiếp, làm nhục, tai hoạ liên miên, điên đảo lẫn lộn.

14. Tất ách cung

Tật ách cung gặp cát tinh, chủ một đời ít bệnh; gặp hung tinh chủ bệnh tật quấn thân. Tật ách cung lạc Không, chủ hư nhược cực khổ, miệng mắt lệch lạc, tay chân tê cóng, nhiều sẹo, nhiều nốt ruồi, dễ bị phong hàn, si câm điếc hủi, sáu ngón, sứt môi.

16. Phúc đức cung

Phúc đức cung gặp cát tinh, một đời hưởng phúc; gặp hung tinh, khổ cực bạc phúc. Phúc đức cung lạc Không, chủ tăng ni đạo sĩ, ngũ thuật, lang thang, canh cửa, ẩn cư nhàn tản, tiêu dao lánh đời, dựa dẫm quý nhân.

17. Cát hung tướng mạo cung

Tướng mạo cung gặp cát tinh, chủ tướng mạo uy nghiêm, ung dung, t*o nhã, tú mỹ; gặp hung tinh chủ xấu xí, lụm cụm, lam lũ. Tướng mạo cung lạc Không, chủ ăn không nói có, mặt mũi phá xấu, gầy guộc, thấp bé, nhiều lo, thiệt thòi, cả đời gian khó.

18. Phụ mẫu cung

Phụ mẫu cung gặp cát tinh, cha mẹ đầy đủ, không mất sớm; gặp hung tinh chủ cha mẹ mất sớm hoặc mẹ mất khi sinh. Phụ mẫu cung gặp Tứ Thần, Thiên Ất, Địa Ất, Phi Phù, nhất định chủ cha mẹ mất sớm, hoặc chủ li biệt, làm con thừa tự, hoặc có mẹ kế. Phụ mẫu cung gặp Tiểu Du, Văn Xương, Kế Thần, Tam Cơ, Ngũ Phúc, chủ hổ phụ sinh hổ tử, cha con đều hiển đạt. Phụ mẫu cung gặp Tứ Thần, hung tinh và Thuỷ Kích, chủ tổ nghiệp hao tổn, cả đời cô khổ. Phụ mẫu cung lạc Không, chủ cha mẹ mất sớm, bất lợi cho lục thân, làm con thừa tự hoặc con nuôi khác họ, tha hương, gian trá tà nguỵ, gian xảo bất minh.

Sửa bởi ThienKhanh: 24/06/2019 - 22:19







Similar Topics Collapse

  Chủ Đề Diễn Đàn Viết bởi Thống kê Bài Cuối

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |