Cờ Dịch - đạo của người quân tử
MaiThienThu
02/04/2026
Nói về vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm ở Việt Nam, tại hạ có một thắc mắc. Tại hạ để ý thấy hiện tại trong các văn bản Hán Nôm, các câu đối ở cột nhà, cổng làng,… hay có kiểu viết một chữ Nho kèm với âm Hán Việt được ghi bằng chữ Quốc ngữ (chữ Latinh). Tại hạ nghĩ có hai lý do để làm như vậy. Một là, dùng chữ Quốc ngữ ghi âm Hán Việt để cho những người không biết chữ Nho có thể đọc được. Hai là, dùng chữ Quốc ngữ ghi âm Hán Việt để hỗ trợ cho những người học chữ Nho. Xét lý do thứ nhất, với những người không biết chữ Nho, dù cho đọc một câu đối hay bài thơ Hán Việt được ghi chép bằng chữ Quốc ngữ thì họ cũng không thể hiểu được. Cho nên, lý do thứ nhất không hợp lý. Còn lý do thứ hai mới là điều làm tại hạ trăn trở. Chúng ta đều biết, chữ Quốc ngữ của người Việt ngày nay là một hệ thống chữ viết biểu âm ưu việt bậc nhất, là một viên ngọc chói sáng mà người phương Tây đã đem tặng cho người Việt dưới chiêu bài khai hóa văn minh. Chữ vuông và chữ Latinh là đại diện tiêu biểu cho hai trụ cột trong nền văn minh của người Việt, nơi mà các yếu tố phương Đông và phương Tây giao hòa và cân bằng lẫn nhau. Tuy nhiên, với sự tiện lợi vượt trội, chữ Quốc ngữ đã chiến thắng và đẩy chữ Nho vào thế lụi tàn. Sự lụi tàn đó thể hiện rõ nét ở chính việc viết một chữ Nho kèm với âm Hán Việt được ghi bằng chữ Quốc ngữ. Theo lẽ thường, người ta chú ý đến những thứ tiện lợi hơn. Nên rõ ràng, khi đặt một chữ Nho cạnh một chữ Quốc ngữ, người đọc có xu thế để ý đến chữ Quốc ngữ trước. Và nếu chữ Quốc ngữ đó truyền đạt đầy đủ ý nghĩa, thì chữ Nho kia không cần thiết nữa. Cho nên, tại hạ mới nảy ra một ý tưởng. Đó là chỉ dùng chữ Quốc ngữ ở dạng không dấu để ghi kèm với chữ Nho. Vì chỉ nhìn vào chữ “phuc” thì hoàn toàn không thể hiểu được. Phải nhìn vào cả chữ 福 thì mới biết được chữ “phuc” này chính là chữ “phúc”.
MaiThienThu
03/04/2026
ANH IT & SẤM TRẠNG TRÌNH
500 năm trước, tại một đất nước có tên là Đại Việt, một nhân tài tuyệt thế xuất hiện. Dân gian gọi ông bằng một cái tên đầy tôn kính, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông để lại cho hậu thế một cuốn sấm ký huyền thoại - Sấm Trạng Trình. Dân gian tin vào cuốn sấm ký này lắm, cho rằng cuốn sấm ký này vô cùng màu nhiệm, dự đoán chính xác tương lai của tộc Việt trong vòng 500 năm. Đặc biệt, cái tên nước Việt Nam hiện tại cũng được đề cập trong cuốn sấm ký này.
500 năm sau, khi Sấm Trạng Trình đi đến hồi kết, tại một vùng ngoại ô thủ đô Hà Nội, một anh chàng IT tình cờ gặp được một lão sư già đi khất thực. Lão sư này truyền cho anh Sấm Trạng Trình mà lão nắm giữ. Từ đó, anh chàng IT này nhìn thấy được sự kỳ diệu của Sấm Trạng Trình. Lão sư nói với anh rằng cuốn sấm ký này sẽ giúp anh khởi nghiệp thành công, trở thành một đại anh hùng, công đức vô lượng. Anh chàng IT lúc bấy giờ còn trẻ người non dạ, cứ thế mà nghe theo. Rốt cuộc, tự mình dấn thân vào một chuyến phiêu lưu đầy rẫy những nguy hiểm.
Cái tên Đại Việt có nghĩa là nước Việt to lớn. Cái tên Nam Việt có nghĩa là nước Việt ở phương Nam. Cái tên Việt Nam có nghĩa là nước Nam của người Việt. 500 năm trước, người Việt gọi đất nước của mình là nước Việt. 500 năm sau, người Việt gọi đất nước mình là nước Nam, ứng với câu cuối trong Sấm Trạng Trình “Đông Tây vô sự, Nam thành quốc gia”. Nước (quốc gia) Nam này chính là nước Nam của người Việt, cũng chính là Việt Nam. Sự kỳ diệu của Sấm Trạng Trình kết tinh ở câu cuối. Điều kiện để “Nam thành quốc gia” (đất nước Việt Nam hình thành) chính là “Đông Tây vô sự”. 500 năm trước, nước Đại Việt mang đậm yếu tố phương Đông. Thời gian dần trôi, yếu tố phương Tây bắt đầu xâm nhập vào. Cứ thế, nước Đại Việt dần biến đổi, lãnh thổ ngày càng mở rộng. Đến khi chúa Nguyễn thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài, khai sinh ra nước Việt Nam hình chữ S, sự xuất hiện của người phương Tây cũng như yếu tố phương Tây đã rõ nét như một lẽ tự nhiên ở Việt Nam. Câu cuối của Sấm Trạng Trình mang ý nghĩa: đất nước Việt Nam sinh ra do sự giao hòa của các yếu tố Đông và Tây. Chính vì thế mà người Pháp xuất hiện và cùng với triều đình nhà Nguyễn trị vì đất nước Việt Nam suốt gần trăm năm. Người Việt vừa học chữ Latinh, vừa học chữ Nho và chữ Nôm. Các yếu tố Đông và Tây cứ thế giao hòa, cân bằng lẫn nhau trong đời sống của người Việt Nam. Cho đến khi Á Đông đại biến, văn hóa truyền thống kéo dài cả hàng nghìn năm đứt đoạn, người Pháp mới rời đi, đất nước Việt Nam bị chia làm hai, người Mỹ nhảy vào miền Nam. Khi các yếu tố Đông và Tây cân bằng trong đời sống của người Việt, tức là giao hòa với nhau, thì hòa khí sinh tài, càng làm càng lãi. Do vậy, trong gần 100 năm đô hộ Việt Nam, người Pháp thu được rất nhiều lợi ích. Ngược lại, khi các yếu tố Đông và Tây mất cân bằng thì sát khí xuất hiện, mà sát khí tán tài, càng làm càng lỗ. Chính vì thế, chỉ sau vỏn vẹn 20 năm tại miền Nam Việt Nam, người Mỹ đã phải tháo chạy trong cay đắng với khoản lỗ khổng lồ. Sau khi người Mỹ rời đi, người Việt đã phải đánh đổi bao xương máu để nối liền hai miền Nam Bắc, để đất nước Việt Nam hình chữ S xuất hiện trở lại trên bản đồ thế giới. Và tiếp đó, bao thế hệ trí thức gồng mình để giữ cho các yếu tố phương Đông ở lại với đời sống người Việt.
Nhưng theo dòng chảy thời gian, trong khi các yếu tố phương Tây ngày càng mạnh lên thì các yếu tố phương Đông ngày càng yếu đi. Khi thế cân bằng mất đi, hòa khí biến mất, sát khí xuất hiện. Bước sang thế kỷ 21, trật tự thế giới đã tương đối ổn định. Là một phần của thế giới, sự biến đổi của Việt Nam ảnh hưởng đến trật tự toàn cầu. Thời khắc Việt Nam xuất hiện sự tan vỡ cũng chính là thời khắc trật tự thế giới rạn nứt. Khi Việt Nam cân bằng trở lại, trật tự thế giới cũng ổn định trở lại. Thời điểm sát khí xuất hiện rất gần với thời điểm tại hạ gặp được lão sư già kia. Ban đầu tại hạ bán tín bán nghi, nhưng khi các dấu hiệu ngày càng rõ nét, đại dịch Covid-19 xuất hiện trên toàn thế giới, tại hạ mới tin vào lý thuyết này. Chính vì thế, tại hạ điên cuồng tìm cách cân bằng yếu tố Đông và Tây trong đời sống của người Việt. Từ việc ứng dụng Kinh Dịch để giải quyết các vấn đề chính trị cho đến ứng dụng thuyết Ngũ Hành để giải quyết các vấn đề kinh tế. Có người cho rằng tại hạ theo Tàu, giúp Tàu. Có người cho rằng tại hạ theo Tây, giúp Tây. Nhưng thực tế, tại hạ chẳng theo bên nào và cũng chẳng giúp bên nào cả. Tại hạ đang giúp chính tại hạ, giúp chính đất nước và thời đại mà tại hạ đang sinh sống. Ban đầu, tại hạ vẫn còn mơ tưởng về cái gọi là khởi nghiệp thành công, anh hùng cứu thế. Nhưng đến giờ, sau khi trải qua nhiều biến cố, cái tại hạ cần là sự yên bình như trước khi tại hạ biết Sấm Trạng Trình. Hai chiêu dùng Kinh Dịch cho chính trị và thuyết Ngũ Hành cho kinh tế của tại hạ giờ đã không còn hiệu quả. Tại hạ còn một chiêu cuối cùng liên quan đến văn hóa. Đó là đưa chữ Nho và chữ Nôm trở lại với cuộc sống đời thường của người Việt. Nhưng chữ Nho và chữ Nôm đến giờ đã ở thế lụi tàn. Cách duy nhất mà tại hạ có thể nghĩ ra là thay đổi thói quen viết các chữ Quốc ngữ hiện đại từ trái sang phải trên cùng một hàng ngang thành từ phải sang trái. Một là để hãm đà tiến của chữ Quốc ngữ. Hai là để kéo người Việt lại gần với chữ Nho và chữ Nôm. Vì ở các văn vật còn tồn tại, loại chữ này khi được viết trên một hàng ngang thì các chữ được viết theo chiều từ phải sang trái. Cách này chắc chắn sẽ khiến người Việt đau trong thời gian ngắn, nhưng có tác dụng lâu dài, đặc biệt là có tính “ăn xổi”. Và đó cũng là chiêu cuối cùng của anh chàng IT.
Sửa bởi MaiThienThu: 03/04/2026 - 17:22
500 năm trước, tại một đất nước có tên là Đại Việt, một nhân tài tuyệt thế xuất hiện. Dân gian gọi ông bằng một cái tên đầy tôn kính, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông để lại cho hậu thế một cuốn sấm ký huyền thoại - Sấm Trạng Trình. Dân gian tin vào cuốn sấm ký này lắm, cho rằng cuốn sấm ký này vô cùng màu nhiệm, dự đoán chính xác tương lai của tộc Việt trong vòng 500 năm. Đặc biệt, cái tên nước Việt Nam hiện tại cũng được đề cập trong cuốn sấm ký này.
500 năm sau, khi Sấm Trạng Trình đi đến hồi kết, tại một vùng ngoại ô thủ đô Hà Nội, một anh chàng IT tình cờ gặp được một lão sư già đi khất thực. Lão sư này truyền cho anh Sấm Trạng Trình mà lão nắm giữ. Từ đó, anh chàng IT này nhìn thấy được sự kỳ diệu của Sấm Trạng Trình. Lão sư nói với anh rằng cuốn sấm ký này sẽ giúp anh khởi nghiệp thành công, trở thành một đại anh hùng, công đức vô lượng. Anh chàng IT lúc bấy giờ còn trẻ người non dạ, cứ thế mà nghe theo. Rốt cuộc, tự mình dấn thân vào một chuyến phiêu lưu đầy rẫy những nguy hiểm.
Cái tên Đại Việt có nghĩa là nước Việt to lớn. Cái tên Nam Việt có nghĩa là nước Việt ở phương Nam. Cái tên Việt Nam có nghĩa là nước Nam của người Việt. 500 năm trước, người Việt gọi đất nước của mình là nước Việt. 500 năm sau, người Việt gọi đất nước mình là nước Nam, ứng với câu cuối trong Sấm Trạng Trình “Đông Tây vô sự, Nam thành quốc gia”. Nước (quốc gia) Nam này chính là nước Nam của người Việt, cũng chính là Việt Nam. Sự kỳ diệu của Sấm Trạng Trình kết tinh ở câu cuối. Điều kiện để “Nam thành quốc gia” (đất nước Việt Nam hình thành) chính là “Đông Tây vô sự”. 500 năm trước, nước Đại Việt mang đậm yếu tố phương Đông. Thời gian dần trôi, yếu tố phương Tây bắt đầu xâm nhập vào. Cứ thế, nước Đại Việt dần biến đổi, lãnh thổ ngày càng mở rộng. Đến khi chúa Nguyễn thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài, khai sinh ra nước Việt Nam hình chữ S, sự xuất hiện của người phương Tây cũng như yếu tố phương Tây đã rõ nét như một lẽ tự nhiên ở Việt Nam. Câu cuối của Sấm Trạng Trình mang ý nghĩa: đất nước Việt Nam sinh ra do sự giao hòa của các yếu tố Đông và Tây. Chính vì thế mà người Pháp xuất hiện và cùng với triều đình nhà Nguyễn trị vì đất nước Việt Nam suốt gần trăm năm. Người Việt vừa học chữ Latinh, vừa học chữ Nho và chữ Nôm. Các yếu tố Đông và Tây cứ thế giao hòa, cân bằng lẫn nhau trong đời sống của người Việt Nam. Cho đến khi Á Đông đại biến, văn hóa truyền thống kéo dài cả hàng nghìn năm đứt đoạn, người Pháp mới rời đi, đất nước Việt Nam bị chia làm hai, người Mỹ nhảy vào miền Nam. Khi các yếu tố Đông và Tây cân bằng trong đời sống của người Việt, tức là giao hòa với nhau, thì hòa khí sinh tài, càng làm càng lãi. Do vậy, trong gần 100 năm đô hộ Việt Nam, người Pháp thu được rất nhiều lợi ích. Ngược lại, khi các yếu tố Đông và Tây mất cân bằng thì sát khí xuất hiện, mà sát khí tán tài, càng làm càng lỗ. Chính vì thế, chỉ sau vỏn vẹn 20 năm tại miền Nam Việt Nam, người Mỹ đã phải tháo chạy trong cay đắng với khoản lỗ khổng lồ. Sau khi người Mỹ rời đi, người Việt đã phải đánh đổi bao xương máu để nối liền hai miền Nam Bắc, để đất nước Việt Nam hình chữ S xuất hiện trở lại trên bản đồ thế giới. Và tiếp đó, bao thế hệ trí thức gồng mình để giữ cho các yếu tố phương Đông ở lại với đời sống người Việt.
Nhưng theo dòng chảy thời gian, trong khi các yếu tố phương Tây ngày càng mạnh lên thì các yếu tố phương Đông ngày càng yếu đi. Khi thế cân bằng mất đi, hòa khí biến mất, sát khí xuất hiện. Bước sang thế kỷ 21, trật tự thế giới đã tương đối ổn định. Là một phần của thế giới, sự biến đổi của Việt Nam ảnh hưởng đến trật tự toàn cầu. Thời khắc Việt Nam xuất hiện sự tan vỡ cũng chính là thời khắc trật tự thế giới rạn nứt. Khi Việt Nam cân bằng trở lại, trật tự thế giới cũng ổn định trở lại. Thời điểm sát khí xuất hiện rất gần với thời điểm tại hạ gặp được lão sư già kia. Ban đầu tại hạ bán tín bán nghi, nhưng khi các dấu hiệu ngày càng rõ nét, đại dịch Covid-19 xuất hiện trên toàn thế giới, tại hạ mới tin vào lý thuyết này. Chính vì thế, tại hạ điên cuồng tìm cách cân bằng yếu tố Đông và Tây trong đời sống của người Việt. Từ việc ứng dụng Kinh Dịch để giải quyết các vấn đề chính trị cho đến ứng dụng thuyết Ngũ Hành để giải quyết các vấn đề kinh tế. Có người cho rằng tại hạ theo Tàu, giúp Tàu. Có người cho rằng tại hạ theo Tây, giúp Tây. Nhưng thực tế, tại hạ chẳng theo bên nào và cũng chẳng giúp bên nào cả. Tại hạ đang giúp chính tại hạ, giúp chính đất nước và thời đại mà tại hạ đang sinh sống. Ban đầu, tại hạ vẫn còn mơ tưởng về cái gọi là khởi nghiệp thành công, anh hùng cứu thế. Nhưng đến giờ, sau khi trải qua nhiều biến cố, cái tại hạ cần là sự yên bình như trước khi tại hạ biết Sấm Trạng Trình. Hai chiêu dùng Kinh Dịch cho chính trị và thuyết Ngũ Hành cho kinh tế của tại hạ giờ đã không còn hiệu quả. Tại hạ còn một chiêu cuối cùng liên quan đến văn hóa. Đó là đưa chữ Nho và chữ Nôm trở lại với cuộc sống đời thường của người Việt. Nhưng chữ Nho và chữ Nôm đến giờ đã ở thế lụi tàn. Cách duy nhất mà tại hạ có thể nghĩ ra là thay đổi thói quen viết các chữ Quốc ngữ hiện đại từ trái sang phải trên cùng một hàng ngang thành từ phải sang trái. Một là để hãm đà tiến của chữ Quốc ngữ. Hai là để kéo người Việt lại gần với chữ Nho và chữ Nôm. Vì ở các văn vật còn tồn tại, loại chữ này khi được viết trên một hàng ngang thì các chữ được viết theo chiều từ phải sang trái. Cách này chắc chắn sẽ khiến người Việt đau trong thời gian ngắn, nhưng có tác dụng lâu dài, đặc biệt là có tính “ăn xổi”. Và đó cũng là chiêu cuối cùng của anh chàng IT.
Sửa bởi MaiThienThu: 03/04/2026 - 17:22
MaiThienThu
07/04/2026
Để ủng hộ việc đưa chữ Nho và chữ Nôm trở lại với cuộc sống đời thường của người Việt, tại hạ tạo ra một phiên bản khác của cờ Giao. Bàn cờ Giao là hình vuông gồm 9 đường dọc và 9 đường ngang cắt nhau vuông góc, tạo nên 81 điểm đặt quân. Mỗi bên có một hình vuông do 9 điểm hợp thành, có hai đường chéo xuyên qua, tượng trưng cho Gia 家 (Nhà). Hai bên Xanh-Đỏ, mỗi bên cầm 9 quân: Dương 1, Âm 1, Dương 2, Âm 2, Dương 3, Âm 3, Dương 4, Âm 4 và quân Giao. Quân cờ Dương 1 được biểu thị bằng một chữ Nhất 一, quân cờ Dương 2 được biểu thị bằng 2 chữ Nhất xếp chồng lên nhau, quân cờ Dương 3 được biểu thị bằng 3 chữ Nhất xếp chồng lên nhau, quân cờ Dương 4 được biểu thị bằng 4 chữ Nhất xếp chồng lên nhau. Quân cờ Âm 1 được biểu thị bằng một chữ Bát 八, quân cờ Âm 2 được biểu thị bằng 2 chữ Bát xếp chồng lên nhau, quân cờ Âm 3 được biểu thị bằng 3 chữ Bát xếp chồng lên nhau, quân cờ Âm 4 được biểu thị bằng 4 chữ Bát xếp chồng lên nhau. Quân Giao được biểu thị bằng một chữ Giao 交, tượng trưng cho sự giao nhau giữa Âm và Dương. Lúc bắt đầu ván cờ, các quân của mỗi bên được bố trí trong Nhà. Luật đi quân trong cờ Giao quy định các quân cờ có thể di chuyển từ một đến hai điểm theo cả 8 hướng, tức là di chuyển đến bất kỳ điểm nào còn trống trong phạm vi 5x5 điểm đặt quân lấy vị trí quân cờ đó làm trung tâm hoặc có thể đổi chỗ với quân cùng màu trong phạm vi đó. Riêng quân Giao chỉ có thể di chuyển trong Nhà. Quân Dương 1 cân bằng với quân Âm 1, quân Dương 2 cân bằng với quân Âm 2, quân Dương 3 cân bằng với quân Âm 3, quân Dương 4 cân bằng với quân Âm 4. Khi Âm và Dương giao nhau, nếu cân bằng thì sinh ra thái bình, thịnh vượng. Đạo của Nhà đỏ là các quân cờ (Dương, Âm, Giao) theo thứ tự nằm liên tiếp, cách đều nhau, trên cùng một đường thẳng. Hoặc là các quân cờ (Dương, Âm, Giao) theo thứ tự thuận chiều kim đồng hồ nằm trên hai đường thẳng vuông góc cắt nhau tại vị trí quân Giao, quân Giao nằm cách đều hai quân cờ còn lại. Trong đó, hai quân Dương và Âm phải cân bằng lẫn nhau. Ngược lại, đạo của Nhà xanh là các quân cờ (Âm, Dương, Giao) theo thứ tự nằm liên tiếp, cách đều nhau, trên cùng một đường thẳng. Hoặc là các quân cờ (Âm, Dương, Giao) theo thứ tự thuận chiều kim đồng hồ nằm trên hai đường thẳng vuông góc cắt nhau tại vị trí quân Giao, quân Giao nằm cách đều hai quân cờ còn lại. Trong đó, hai quân Âm và Dương phải cân bằng lẫn nhau. Nhà đỏ không cho phép các quân cờ theo đạo của Nhà xanh, tức là không cho phép các quân cờ đỏ được sắp xếp theo cách của Nhà xanh. Và ngược lại, Nhà xanh không cho phép các quân cờ xanh được sắp xếp theo cách của Nhà đỏ. Ván cờ kết thúc khi một bên tìm ra cách giao hòa với đối phương. Cụ thể, Nhà đỏ thắng khi các quân trên bàn cờ được sắp xếp theo cách của Nhà xanh, trong đó quân Giao bắt buộc là của Nhà xanh, một trong hai quân cờ còn lại bắt buộc là của Nhà đỏ. Nhà xanh thắng khi các quân trên bàn cờ được sắp xếp theo cách của Nhà đỏ, trong đó quân Giao bắt buộc là của Nhà đỏ, một trong hai quân cờ còn lại bắt buộc là của Nhà xanh.
MaiThienThu
09/04/2026
LUẬN BÀN VỀ CHỮ GIAO 交
Khi Âm và Dương cân bằng mà giao nhau, thì chữ Giao này là chữ 交 trong Giao Hòa 交和. Ngược lại, khi Âm và Dương mất cân bằng mà giao nhau, thì chữ Giao này là chữ 交 trong Giao Tranh 交爭. Cũng vì thế, cờ Giao của tại hạ có hai phiên bản: một phiên bản dựa trên hai chữ Giao Hòa, một phiên bản dựa trên hai chữ Giao Tranh. Phiên bản cờ Giao Hòa là phiên bản được tại hạ chia sẻ vào 07/04/2026. Ở phiên bản này, quân Giao xanh và quân Giao đỏ là hai quân Giao Hòa. Còn phiên bản cờ Giao Tranh là phiên bản được tại hạ chia sẻ vào 25/03/2026. Ở phiên bản này, quân Giao xanh và Giao đỏ là hai quân Giao Tranh, còn quân Giao vàng là quân Giao Hòa. Tại hạ xin lý giải vì sao tại hạ chọn để một bên gặp chiến tranh khi ba quân cờ (Dương, Âm, Giao) theo thứ tự nằm liên tiếp, cách đều nhau, trên cùng một đường thẳng. Số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm. Cho nên, việc quân cờ Dương nằm ở vị trí lẻ và quân cờ Âm nằm ở vị trí chẵn thể hiện sự “đắc chính”. Trong phiên bản cờ Giao Tranh, mọi cuộc chiến đều phải chính nghĩa. Về thế cờ Cận Giao Viễn Công, nhiều người cho rằng thế cờ này không hợp lý. Vì vậy, tại hạ có một sự điều chỉnh. Cờ Giao Tranh sẽ có bàn cờ giống với phiên bản cờ Giao Hòa, mô phỏng một cuộc giao tranh giữa hai ông vua Xanh-Đỏ. Quân Giao vàng ở đây sẽ đại diện cho muôn dân. Hai ông vua Xanh-Đỏ giao tranh với nhau nhưng không được làm ảnh hưởng đến sự yên bình của muôn dân Vàng.
Khi Âm và Dương cân bằng mà giao nhau, thì chữ Giao này là chữ 交 trong Giao Hòa 交和. Ngược lại, khi Âm và Dương mất cân bằng mà giao nhau, thì chữ Giao này là chữ 交 trong Giao Tranh 交爭. Cũng vì thế, cờ Giao của tại hạ có hai phiên bản: một phiên bản dựa trên hai chữ Giao Hòa, một phiên bản dựa trên hai chữ Giao Tranh. Phiên bản cờ Giao Hòa là phiên bản được tại hạ chia sẻ vào 07/04/2026. Ở phiên bản này, quân Giao xanh và quân Giao đỏ là hai quân Giao Hòa. Còn phiên bản cờ Giao Tranh là phiên bản được tại hạ chia sẻ vào 25/03/2026. Ở phiên bản này, quân Giao xanh và Giao đỏ là hai quân Giao Tranh, còn quân Giao vàng là quân Giao Hòa. Tại hạ xin lý giải vì sao tại hạ chọn để một bên gặp chiến tranh khi ba quân cờ (Dương, Âm, Giao) theo thứ tự nằm liên tiếp, cách đều nhau, trên cùng một đường thẳng. Số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm. Cho nên, việc quân cờ Dương nằm ở vị trí lẻ và quân cờ Âm nằm ở vị trí chẵn thể hiện sự “đắc chính”. Trong phiên bản cờ Giao Tranh, mọi cuộc chiến đều phải chính nghĩa. Về thế cờ Cận Giao Viễn Công, nhiều người cho rằng thế cờ này không hợp lý. Vì vậy, tại hạ có một sự điều chỉnh. Cờ Giao Tranh sẽ có bàn cờ giống với phiên bản cờ Giao Hòa, mô phỏng một cuộc giao tranh giữa hai ông vua Xanh-Đỏ. Quân Giao vàng ở đây sẽ đại diện cho muôn dân. Hai ông vua Xanh-Đỏ giao tranh với nhau nhưng không được làm ảnh hưởng đến sự yên bình của muôn dân Vàng.


