帝 出 乎 震. 齊 乎 巽. 相 見 乎 離. 致 役 乎 坤. 說 言 乎 兌. 戰 乎 乾.
勞 乎 坎. 成 言 乎 艮.
Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Duyệt ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Kiền. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn.Dịch:
Trời từ cung Chấn ngự ra,
Làm cho vạn vật điều hòa: Tốn cung.
Ly cung: vạn vật tương phùng,
Khôn, làm nên việc vô chừng lớn lao.
Đoài cung vui vẻ xiết bao,
Kiền cung, đấu chiến, tiêu hao công trình.
Khảm cung, vất vả, điêu linh,
Đến nơi cung Cấn, hoàn thành công lao.
nếu như Tử Vi ở 12 cung có các thế cuộc thì Thái Dương = mặt trời, đế, ...cũng có các thế cuộc trên bát quái
như vậy sức của thái dương điều hoà vạn vật nằm ở 2 cung thìn tỵ thuộc quẻ tốn
theo vương đình chi thì thái dương có thể GIẢI ÁM, tức là trừ sự cô quả của THIÊN LƯƠNG , CỰ MÔN
rất nhiều nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ có cách nhật nguyệt
như vậy thái dương đóng quẻ TỐN
TỀ HỒ TỐN: gặp gỡ ngoại giao cũng là rất hợp lí
CHIẾN HỒ KIỀN
LAO HỒ KHẢM
đều cảm thấy rất đúng, riêng bình cho mệnh THÁI DƯƠNG thì kinh dịch phản ánh khá chính xác
vậy mệnh thái dương kết hợp cung đại vận nó đến quan trọng hơn chăng?



Chủ đề này đã được khóa











