Quả Lão Tinh Tông - có những gì liên quan...
V.E.DAY
30/03/2014
Này nhé, nào là "Nguyệt thì đỏng đảnh, õng ẹo, unpredictable và unstable nên unreliable...." rồi " ... ho lao gần chết " và cái này mới đáng chém "người đẹp năm xưa"
Ôi giời ôi !!! chỉ một cú phone là ... là có người xuống chuồng heo mà nằm nhé. Ôi giời ôi chiến tranh lạnh lần III sắp nổ ra rồi !!!
Ôi giời ôi !!! chỉ một cú phone là ... là có người xuống chuồng heo mà nằm nhé. Ôi giời ôi chiến tranh lạnh lần III sắp nổ ra rồi !!!
Phuongkongfa
31/03/2014
Này nhé, đây mà bị cấm vận treo cơm thì đó có mà ai đưa con sáo qua sông để sáo sổ lồng nhé.
Phuongkongfa
01/04/2014
Quách Ngọc Bội
01/04/2014
Vừa khéo là em đang dịch một sách khác đến phần có liên quan.
Hoàng Đạo:
Hoàng đạo lấy điểm Xuân Phân làm điểm khởi đầu, kinh độ của nó gọi là Hoàng Kinh, vĩ độ của nó gọi là Hoàng Vĩ. Trong đó, 4 điểm hoàng kinh 0 độ, 90 độ, 180 độ, 270 độ được gọi là điểm Xuân Phân, điểm Hạ Chí, điểm Thu Phân và điểm Đông Chí. Người xưa quen gọi là "Nhị Phân nhị Chí".
Trên mặt phẳng kéo dài vô hạn của xích đạo địa cầu, nó sẽ cắt Thiên Cầu tạo thành một vòng tròn lớn gọi là Thiên Xích Đạo. Thiên xích đạo này giao với Hoàng đạo ở 2 điểm là Xuân phân và Thu phân, góc giao của chúng được gọi là góc giao hoàng xích (ước chừng 24 độ), đây là thuyết hoàng đạo vơi xích đạo của phép xem Hồn Thiên.
Trên Thiên Cầu mà lấy hoàng đạo làm khu vực hình vành khuyên trung tâm, gọi là vành đai Hoàng đạo, với bề rộng khoảng 16 độ, mỗi phía Nam Bắc đều 8 độ, thì ngoại trừ Diêm Vương tinh, thì Nhật Nguyệt và các hành tinh trong Thái Dương hệ đều di chuyển trong vành đai Hoàng Đạo.
Theo biểu hiện của Thái Dương ở trên các vị trí của Hoàng đạo mà người xưa đem phân chia vành đai Hoàng đạo thành 12 đoạn, gọi là Hoàng đạo thập nhị cung, lấy đích danh của chòm sao ở đó mà đặt tên. Lấy điểm Xuân Phân làm điểm khởi đầu, theo thứ tự của Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Thất Nữ, Thiên Xứng, Thiên Hạt, Nhân Mã, Ma Yết, Bảo Bình, Song Ngư.
(Hình này không có trong sách. chỉ dùng để minh họa cho đoạn văn trên).
Người Trung Quốc xưa đã căn cứ vào vị trí của Thái Dương ở trên Hoàng Đạo mà phát minh ra một phương pháp phân chia Hoàng Đạo thành 24 Tiết Khí. Đó là 24 đoạn mà mỗi đoạn bình quân khoảng 15 ngày, cùng với Hoàng đạo thập nhị cung có sự đối ứng chuẩn xác.
Bảng 24 tiết khí
Tiết khí danh xưng......Thái dương hoàng kinh......Ngày tháng DL........Tháng Âm Lịch
Lập xuân ( tiết )...................315 độ..........................ngày 4, 5 tháng 2........Tháng Giêng
Vũ thủy ( khí )......................330 độ..........................ngày 19, 20 tháng 2
Kinh chập ( tiết )..................345 độ..........................ngày 5, 6 tháng 3........Tháng Hai
Xuân phân ( khí )...................0 độ............................ngày 20, 21 tháng 3
Thanh minh ( tiết )................15 độ...........................ngày 4, 5 tháng 4.........Tháng Ba
Cốc vũ ( khí ).........................30 độ...........................ngày 20, 21 tháng 4
Lập hạ ( tiết ).........................45 độ...........................ngày 5, 6 tháng 5..........Tháng Tư
Tiểu mãn ( khí ).....................60 độ...........................ngày 21, 22 tháng 5
Mang chủng ( tiết )...............75 độ............................ngày 5, 6 tháng 6..........Tháng Năm
Hạ chí ( khí )..........................90 độ............................ngày 21, 22 tháng 6
Tiểu thử ( tiết )......................105 độ...........................ngày 7, 8 tháng 7..........Tháng Sáu
Đại thử ( khí )........................120 độ...........................ngày 22, 23 tháng 7
Lập thu ( tiết )........................135 độ...........................ngày 7, 8 tháng 8..........Tháng Bảy
Xử thử ( khí ).........................150 độ............................ngày 23, 24 tháng 8
Bạch lộ ( tiết )........................165 độ............................ngày 7, 8 tháng 9..........Tháng Tám
Thu phân ( khí )....................180 độ............................ngày 23, 24 tháng 9
Hàn lộ ( tiết )..........................195 độ............................ngày 8, 9 tháng 10........Tháng Chín
Sương giáng ( khí )...............210 độ............................ngày 23, 24 tháng 10
Lập đông ( tiết ).....................225 độ............................ngày 7, 8 tháng 11.........Tháng Mười
Tiểu tuyết ( khí ).....................240 độ............................ngày 22, 23 tháng 11
Đại tuyết ( tiết ).......................255 độ............................ngày 7, 8 tháng 12.........Tháng Một
Đông chí ( khí ).......................270 độ............................ngày 22, 23 tháng 12
Tiểu hàn ( tiết ).......................285 độ.............................ngày 5, 6 tháng 1...........Tháng Chạp
Đại hàn ( khí ).........................300 độ.............................ngày 20, 21 tháng 1
(Đồ hình phương vị của 24 Tiết Khí)
Tên gọi của 24 Tiết Khí đối ứng với hàm nghĩa của mối quan hệ giữa sinh vật với khí hậu như sau:
Lập Xuân: thì Lập có ý nghĩa khởi đầu, Xuân là sự rục rịch, biểu thị rằng vạn vặt bắt đầu có sinh khí, vào ngày này thời kỳ của mùa Xuân bắt đầu.
Vũ Thủy: giáng Vũ khai Thủy (bắt đầu mưa xuống).
Kinh Chập: Vang động tiếng Sấm mùa Xuân, kinh động đến những sinh vật có giấc ngủ đông trong lòng đất, bắt đầu chui lên khỏi mặt đất để hoạt động.
Xuân Phân: đây chính là điểm trung tâm của 90 ngày mùa Xuân, ngày và đêm có thời gian tương đồng. Người xưa còn gọi Xuân Phân với Thu Phân là "Trú Dạ phân", tức "phần Ngày Đêm".
Thanh Minh: Trời trong trẻo sáng sủa thuần khiết, khí hậu ấm cúng, bắt đầu chồi lộc nảy nở sum xuê.
Cốc Vũ: Mưa xuống sinh cho ý nguyện của các loại cây lương thực, biểu thị rằng nước mưa bắt đầu tăng nhiều.
Lập Hạ: Ngày Hè bắt đầu, vạn vật dần dần nương theo khí hậu ấm áp để mà sinh trưởng.
Tiểu Mãn: Mãn ở đây là để ám chỉ hạt giống sung mãn, lúa và các loại cây mùa hè lúc này bắt đầu kết trái cũng như là trổ đòng đòng, sắp sung mãn, mẩy hạt.
Mang Chủng: bắt đầu có sự chín chắn ở các cây trồng, lúc này cũng là lúc mà mùa vụ bận rộn nhất của việc thu hoạch các cây trồng từ mùa xuân.
Hạ Chí: Ban ngày rất dài, ban đêm rất ngắn, vào ngày này thì Thái Dương ở vị trí tối cao trên vòm trời, và bóng nắng ngắn nhất, cổ đại còn gọi ngày này là "Nhật Bắc chí" hoặc là "Trường Nhật chí".
Tiểu Thử: với Thử chính là rất nóng nực, lúc này vẫn chưa đạt đến nhiệt độ cao nhất.
Đại Thử: là lúc mà mức độ nóng nực cũng như nhiệt độ là cao nhất.
Lập Thu: ngày Thu bắt đầu, cây cối gần chín chắn.
Xử Thử: với Xử có nghĩa là ngưng lại, biểu thị cái khí nóng nực (Thử) đến lúc chấm dứt.
Bạch Lộ: Thủy khí trên mặt đất ngưng kết lại thành sương, có sắc trắng, khí trời bắt đầu chuyển sang mát mẻ.
Thu Phân: chính là điểm chính giữa của thời gian 90 ngày mùa Thu, ngày này có thời gian của Ngày và Đêm dài như nhau, giống như lúc Xuân Phân, Thái Dương theo Chính Đông mà mọc lên và theo Chính Tây mà lặn xuống.
Hàn Lộ: Sương nước lúc trước thì trắng mà sau thì lạnh, khí hậu đang dần chuyển sang lạnh.
Sương Giáng: Sương lạnh đã đến.
Lập Đông: với Đông có nghĩa là cuối cùng, ý tứ là cây trồng sau khi thu hoạch thì phải cất giữ, bảo tồn. Vào ngày này là bắt đầu mùa Đông đến.
Tiểu Tuyết: bắt đầu có tuyết rơi, nhưng vẫn còn chưa nhiều.
Đại Tuyết: Lương Tuyết xuống đã từ ít mà thành nhiều rồi.
Đông Chí: vào chính Ngọ của ngày này thì Thái Dương ở vị trí thấp nhất trên vòm trời, ban ngày ngắn nhất và ban đêm dài nhất trong năm. Cổ đại còn gọi là "Đoản nhật chí" hoặc là "Nhật Nam Chí".
Tiểu Hàn: Khí lạnh tích lũy lâu ngày mà thành ra giá rét, nhưng lúc này vẫn chưa đến cực điểm.
Đại Hàn: Sự giá rét đã đến cực điểm.
Danh xưng của Tiết Khí phần lớn là mô tả mối quan hệ và phản ứng của vạn vật đối với khí hậu, nói về lúc khởi điểm hay là trung điểm của thời gian mùa vụ, lấy làm phương tiện cho việc canh nông.
Hoàng Đạo:
Hoàng đạo lấy điểm Xuân Phân làm điểm khởi đầu, kinh độ của nó gọi là Hoàng Kinh, vĩ độ của nó gọi là Hoàng Vĩ. Trong đó, 4 điểm hoàng kinh 0 độ, 90 độ, 180 độ, 270 độ được gọi là điểm Xuân Phân, điểm Hạ Chí, điểm Thu Phân và điểm Đông Chí. Người xưa quen gọi là "Nhị Phân nhị Chí".
Trên mặt phẳng kéo dài vô hạn của xích đạo địa cầu, nó sẽ cắt Thiên Cầu tạo thành một vòng tròn lớn gọi là Thiên Xích Đạo. Thiên xích đạo này giao với Hoàng đạo ở 2 điểm là Xuân phân và Thu phân, góc giao của chúng được gọi là góc giao hoàng xích (ước chừng 24 độ), đây là thuyết hoàng đạo vơi xích đạo của phép xem Hồn Thiên.
Trên Thiên Cầu mà lấy hoàng đạo làm khu vực hình vành khuyên trung tâm, gọi là vành đai Hoàng đạo, với bề rộng khoảng 16 độ, mỗi phía Nam Bắc đều 8 độ, thì ngoại trừ Diêm Vương tinh, thì Nhật Nguyệt và các hành tinh trong Thái Dương hệ đều di chuyển trong vành đai Hoàng Đạo.
Theo biểu hiện của Thái Dương ở trên các vị trí của Hoàng đạo mà người xưa đem phân chia vành đai Hoàng đạo thành 12 đoạn, gọi là Hoàng đạo thập nhị cung, lấy đích danh của chòm sao ở đó mà đặt tên. Lấy điểm Xuân Phân làm điểm khởi đầu, theo thứ tự của Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Thất Nữ, Thiên Xứng, Thiên Hạt, Nhân Mã, Ma Yết, Bảo Bình, Song Ngư.
(Hình này không có trong sách. chỉ dùng để minh họa cho đoạn văn trên).
Người Trung Quốc xưa đã căn cứ vào vị trí của Thái Dương ở trên Hoàng Đạo mà phát minh ra một phương pháp phân chia Hoàng Đạo thành 24 Tiết Khí. Đó là 24 đoạn mà mỗi đoạn bình quân khoảng 15 ngày, cùng với Hoàng đạo thập nhị cung có sự đối ứng chuẩn xác.
Bảng 24 tiết khí
Tiết khí danh xưng......Thái dương hoàng kinh......Ngày tháng DL........Tháng Âm Lịch
Lập xuân ( tiết )...................315 độ..........................ngày 4, 5 tháng 2........Tháng Giêng
Vũ thủy ( khí )......................330 độ..........................ngày 19, 20 tháng 2
Kinh chập ( tiết )..................345 độ..........................ngày 5, 6 tháng 3........Tháng Hai
Xuân phân ( khí )...................0 độ............................ngày 20, 21 tháng 3
Thanh minh ( tiết )................15 độ...........................ngày 4, 5 tháng 4.........Tháng Ba
Cốc vũ ( khí ).........................30 độ...........................ngày 20, 21 tháng 4
Lập hạ ( tiết ).........................45 độ...........................ngày 5, 6 tháng 5..........Tháng Tư
Tiểu mãn ( khí ).....................60 độ...........................ngày 21, 22 tháng 5
Mang chủng ( tiết )...............75 độ............................ngày 5, 6 tháng 6..........Tháng Năm
Hạ chí ( khí )..........................90 độ............................ngày 21, 22 tháng 6
Tiểu thử ( tiết )......................105 độ...........................ngày 7, 8 tháng 7..........Tháng Sáu
Đại thử ( khí )........................120 độ...........................ngày 22, 23 tháng 7
Lập thu ( tiết )........................135 độ...........................ngày 7, 8 tháng 8..........Tháng Bảy
Xử thử ( khí ).........................150 độ............................ngày 23, 24 tháng 8
Bạch lộ ( tiết )........................165 độ............................ngày 7, 8 tháng 9..........Tháng Tám
Thu phân ( khí )....................180 độ............................ngày 23, 24 tháng 9
Hàn lộ ( tiết )..........................195 độ............................ngày 8, 9 tháng 10........Tháng Chín
Sương giáng ( khí )...............210 độ............................ngày 23, 24 tháng 10
Lập đông ( tiết ).....................225 độ............................ngày 7, 8 tháng 11.........Tháng Mười
Tiểu tuyết ( khí ).....................240 độ............................ngày 22, 23 tháng 11
Đại tuyết ( tiết ).......................255 độ............................ngày 7, 8 tháng 12.........Tháng Một
Đông chí ( khí ).......................270 độ............................ngày 22, 23 tháng 12
Tiểu hàn ( tiết ).......................285 độ.............................ngày 5, 6 tháng 1...........Tháng Chạp
Đại hàn ( khí ).........................300 độ.............................ngày 20, 21 tháng 1
(Đồ hình phương vị của 24 Tiết Khí)
Tên gọi của 24 Tiết Khí đối ứng với hàm nghĩa của mối quan hệ giữa sinh vật với khí hậu như sau:
Lập Xuân: thì Lập có ý nghĩa khởi đầu, Xuân là sự rục rịch, biểu thị rằng vạn vặt bắt đầu có sinh khí, vào ngày này thời kỳ của mùa Xuân bắt đầu.
Vũ Thủy: giáng Vũ khai Thủy (bắt đầu mưa xuống).
Kinh Chập: Vang động tiếng Sấm mùa Xuân, kinh động đến những sinh vật có giấc ngủ đông trong lòng đất, bắt đầu chui lên khỏi mặt đất để hoạt động.
Xuân Phân: đây chính là điểm trung tâm của 90 ngày mùa Xuân, ngày và đêm có thời gian tương đồng. Người xưa còn gọi Xuân Phân với Thu Phân là "Trú Dạ phân", tức "phần Ngày Đêm".
Thanh Minh: Trời trong trẻo sáng sủa thuần khiết, khí hậu ấm cúng, bắt đầu chồi lộc nảy nở sum xuê.
Cốc Vũ: Mưa xuống sinh cho ý nguyện của các loại cây lương thực, biểu thị rằng nước mưa bắt đầu tăng nhiều.
Lập Hạ: Ngày Hè bắt đầu, vạn vật dần dần nương theo khí hậu ấm áp để mà sinh trưởng.
Tiểu Mãn: Mãn ở đây là để ám chỉ hạt giống sung mãn, lúa và các loại cây mùa hè lúc này bắt đầu kết trái cũng như là trổ đòng đòng, sắp sung mãn, mẩy hạt.
Mang Chủng: bắt đầu có sự chín chắn ở các cây trồng, lúc này cũng là lúc mà mùa vụ bận rộn nhất của việc thu hoạch các cây trồng từ mùa xuân.
Hạ Chí: Ban ngày rất dài, ban đêm rất ngắn, vào ngày này thì Thái Dương ở vị trí tối cao trên vòm trời, và bóng nắng ngắn nhất, cổ đại còn gọi ngày này là "Nhật Bắc chí" hoặc là "Trường Nhật chí".
Tiểu Thử: với Thử chính là rất nóng nực, lúc này vẫn chưa đạt đến nhiệt độ cao nhất.
Đại Thử: là lúc mà mức độ nóng nực cũng như nhiệt độ là cao nhất.
Lập Thu: ngày Thu bắt đầu, cây cối gần chín chắn.
Xử Thử: với Xử có nghĩa là ngưng lại, biểu thị cái khí nóng nực (Thử) đến lúc chấm dứt.
Bạch Lộ: Thủy khí trên mặt đất ngưng kết lại thành sương, có sắc trắng, khí trời bắt đầu chuyển sang mát mẻ.
Thu Phân: chính là điểm chính giữa của thời gian 90 ngày mùa Thu, ngày này có thời gian của Ngày và Đêm dài như nhau, giống như lúc Xuân Phân, Thái Dương theo Chính Đông mà mọc lên và theo Chính Tây mà lặn xuống.
Hàn Lộ: Sương nước lúc trước thì trắng mà sau thì lạnh, khí hậu đang dần chuyển sang lạnh.
Sương Giáng: Sương lạnh đã đến.
Lập Đông: với Đông có nghĩa là cuối cùng, ý tứ là cây trồng sau khi thu hoạch thì phải cất giữ, bảo tồn. Vào ngày này là bắt đầu mùa Đông đến.
Tiểu Tuyết: bắt đầu có tuyết rơi, nhưng vẫn còn chưa nhiều.
Đại Tuyết: Lương Tuyết xuống đã từ ít mà thành nhiều rồi.
Đông Chí: vào chính Ngọ của ngày này thì Thái Dương ở vị trí thấp nhất trên vòm trời, ban ngày ngắn nhất và ban đêm dài nhất trong năm. Cổ đại còn gọi là "Đoản nhật chí" hoặc là "Nhật Nam Chí".
Tiểu Hàn: Khí lạnh tích lũy lâu ngày mà thành ra giá rét, nhưng lúc này vẫn chưa đến cực điểm.
Đại Hàn: Sự giá rét đã đến cực điểm.
Danh xưng của Tiết Khí phần lớn là mô tả mối quan hệ và phản ứng của vạn vật đối với khí hậu, nói về lúc khởi điểm hay là trung điểm của thời gian mùa vụ, lấy làm phương tiện cho việc canh nông.
Phuongkongfa
01/04/2014
Lí thuyết các trục sửu/mùi , dần/thân, .vv.. được hình thành dựa trên cơ sở Tịch Quái, nơi đánh nhau tay bo là trục Bác/Quải, nhưng đố chú tại sao phần trên anh nói là tiếng khóc nỉ non ÂM-DƯƠNG LI BIỆT ? đoán trúng có thưởng
-------------------------------------
Cấm lão VDTĐ xí xọn vì lão ấy biết chiêu "đổ chì vào hột xí ngầu".
Sửa bởi Phuongkongfa: 01/04/2014 - 09:55
-------------------------------------
Cấm lão VDTĐ xí xọn vì lão ấy biết chiêu "đổ chì vào hột xí ngầu".
Sửa bởi Phuongkongfa: 01/04/2014 - 09:55
Quách Ngọc Bội
01/04/2014
Phuongkongfa, on 01/04/2014 - 09:51, said:
Lí thuyết các trục sửu/mùi , dần/thân, .vv.. được hình thành dựa trên cơ sở Tịch Quái, nơi đánh nhau tay bo là trục Bác/Quải, nhưng đố chú tại sao phần trên anh nói là tiếng khóc nỉ non ÂM-DƯƠNG LI BIỆT ? đoán trúng có thưởng
-------------------------------------
Cấm lão VDTĐ xí xọn vì lão ấy biết chiêu "đổ chì vào hột xí ngầu".
-------------------------------------
Cấm lão VDTĐ xí xọn vì lão ấy biết chiêu "đổ chì vào hột xí ngầu".
Tiếng khóc Nỉ non Âm Dương li biệt chẳng phải Tang Môn & Điếu Khách hay sao
Phuongkongfa
01/04/2014
Hôm nay anh mới dám nói với em rằng, trong 365 ngày, anh mong chờ ngày này nhất để nói với em rằng :
" Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danse) "
hi hi hi ( đùa chút cho bớt cãi nhau )
" Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danse) "
hi hi hi ( đùa chút cho bớt cãi nhau )
Phuongkongfa
01/04/2014
Phuongkongfa
01/04/2014
Thái tuế cư Tý, nạp Thiên can là Giáp Tý thì Tuần trung không vong đứng ngay sau lưng Thái Tuế tại vị trí Trực/Bệnh phù và Điếu khách. Nên
ÂM-DƯƠNG LI BIỆT.
Và Thái tuế KHÔNG BAO GIỜ ĐỒNG CUNG VỚI TUẦN.
Sửa bởi Phuongkongfa: 01/04/2014 - 10:50
ÂM-DƯƠNG LI BIỆT.
Và Thái tuế KHÔNG BAO GIỜ ĐỒNG CUNG VỚI TUẦN.
Sửa bởi Phuongkongfa: 01/04/2014 - 10:50
Vô Danh Thiên Địa
02/04/2014
Phuongkongfa, on 01/04/2014 - 10:13, said:
Hôm nay anh mới dám nói với em rằng, trong 365 ngày, anh mong chờ ngày này nhất để nói với em rằng :
" Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danse) "
hi hi hi ( đùa chút cho bớt cãi nhau )
" Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danse) "
hi hi hi ( đùa chút cho bớt cãi nhau )
Hôm nay là ngày cá tháng 4, mỡ miệng khen em đẹp, lại đẹp nhất đêm nay , kiểu này thì trăng nuốt voi mất . hihi
V.E.DAY
02/04/2014
Phuongkongfa, on 01/04/2014 - 10:48, said:
Thái tuế cư Tý, nạp Thiên can là Giáp Tý thì Tuần trung không vong đứng ngay sau lưng Thái Tuế tại vị trí Trực/Bệnh phù và Điếu khách. Nên
ÂM-DƯƠNG LI BIỆT.
Và Thái tuế KHÔNG BAO GIỜ ĐỒNG CUNG VỚI TUẦN.
ÂM-DƯƠNG LI BIỆT.
Và Thái tuế KHÔNG BAO GIỜ ĐỒNG CUNG VỚI TUẦN.
Nhật Nguyệt, Sửu, Mùi, ái ngộ Tuần không
Quý, Ân, Xương, Khúc ngoại triều,
văn tất thượng cách,
đường quan xuất chính.
===> chú ý các tuổi Giáp
Sửa bởi V.E.DAY: 02/04/2014 - 11:55
Phuongkongfa
02/04/2014
Em đã thấy rồi.
Hóa kỵ vượt kinh tuyến tại vị trí người quan sát, ngay thời điểm Đông chí.
Sửa bởi Phuongkongfa: 02/04/2014 - 12:07
Hóa kỵ vượt kinh tuyến tại vị trí người quan sát, ngay thời điểm Đông chí.
Sửa bởi Phuongkongfa: 02/04/2014 - 12:07
Phuongkongfa
03/04/2014
Chú Quách,
trong #171, khi mặt trời đi đến cung tinh thứ (giả sử là cung Thân) thì bằng cách nào mà biết được ???
trong #171, khi mặt trời đi đến cung tinh thứ (giả sử là cung Thân) thì bằng cách nào mà biết được ???
Phuongkongfa
03/04/2014
Xin thông cảm, tôi không trả lời riêng qua PM,
Có Lưu Tuần từng năm một.
Có Lưu Tuần từng năm một.


