Quả Lão Tinh Tông - có những gì liên quan...
Quách Ngọc Bội
03/04/2014
Phuongkongfa, on 03/04/2014 - 09:04, said:
Chú Quách,
trong #171, khi mặt trời đi đến cung tinh thứ (giả sử là cung Thân) thì bằng cách nào mà biết được ???
trong #171, khi mặt trời đi đến cung tinh thứ (giả sử là cung Thân) thì bằng cách nào mà biết được ???
Dạ, anh hỏi khó thía, em hem biết, chỉ đoán chừng căn cứ vào giờ mọc lặn và bóng của nó để biết.
Giả sử đến cung Thân, tiết Lập Thu, mọc vào đầu giờ Mão 1 khắc, lặn vào giữa giờ Dậu 3 khắc.
V.E.DAY
03/04/2014
Mách nước cho chú Quách : #171
Tới Thân, ban ngày nhìn vào mặt trời sẽ bị chói lòa thì ban đêm nhìn về cung Dần thì suy ra ban ngày mặt trời đã tới cung Thân
Sửa bởi V.E.DAY: 03/04/2014 - 10:55
Trích dẫn
....cùng với Hoàng đạo thập nhị cung có sự đối Xứng chuẩn xác....
Tới Thân, ban ngày nhìn vào mặt trời sẽ bị chói lòa thì ban đêm nhìn về cung Dần thì suy ra ban ngày mặt trời đã tới cung Thân
Sửa bởi V.E.DAY: 03/04/2014 - 10:55
Phuongkongfa
03/04/2014
Vì "Hoàng đạo thập nhị cung có sự đối Xứng chuẩn xác" tức là mình nhìn chòm sao ở cung đối xứng vào ban đêm (để tránh nhìn trực tiếp vào mặt trời ban ngày) thì từ đó suy ra được chòm sao ban ngày mà mặt trời đã đi tới. ( trong sách Hoàng xuân Hãn toàn tập - tập 1 cũng đã nói đến phương pháp này )
Quách Ngọc Bội
15/04/2014
Phuongkongfa, on 29/03/2014 - 07:19, said:
1) Hoàng đạo vận chuyển qua 12 cung tinh thứ.
2) Tịch quái.
2) Tịch quái.
QNB đang bình chú cuốn Tuyển Tập Ca Phú TV chợt nghĩ ra cái này, ghi chép lại để đỡ quên, lúc rảnh rang sẽ nghĩ tiếp.
12 quái x 6 hào/quái = 72 hào.
12 Tịch quái đại diện được cho 24 Tiết Khí trong 1 năm, mỗi quái có thể đại diện được cho 1 Tiết và 1 Khí.
Ở bên topic Hành Lang Thảo Luận về Tân diễn dịch lại lời 64 quẻ Chu Dịch (forum Bát Tự Hà Lạc) khi anh nói là chỉ cần 72 hào cũng biểu diễn được 1 năm. QNB hình dung ra "năm" ở đây chính là năm thời tiết, năm hồi quy, có sử dụng Thái Dương lịch.
Nguyên nhân người ta nghĩ ra 12 Tịch Quái không chỉ đơn thuần là dựa vào lý tiêu trưởng của Âm Dương trong 12 quái đó. Vì chỉ đơn thuần lý âm dương tiêu trưởng thì chỉ có thể biểu diễn cho 12 giờ trong ngày.
Còn 12 Tịch Quái có ý nghĩa lớn hơn khi sử dụng với 12 tháng trong năm, chính là ở chỗ hàm chứa ý nghĩa của môn Ngũ Tinh (Thất Chính Tứ Dư) này.
Chính là lấy để mô tả các hành tinh Thổ, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy ở các cung thứ 72 ngày. Cho nên tổng số thời gian của 5 hành tinh này là 5 x 72 ngày = 360 ngày, tương đương với 1 năm thời tiết, chính là bằng 15 ngày/Tiết Khí x 24 Tiết Khí = 360 ngày.
Thứ tự thực tế của 5 hành tinh đó trên Hệ mặt trời:
Sao Thổ.....Sao Mộc.....Sao Hỏa.......(Trái Đất - địa bàn quan sát)......Sao Kim......Sao Thủy
cho nên:
3 sao bên ngoài (Thổ, Mộc, Hỏa) x 72 = 216 .
2 sao bên trong (Kim, Thủy) x 72 = 144
đây chẳng phải chính là Số Sách của các quái Càn Khôn hay sao
Thành ra, giảng về Dịch như Willhelm và Legge: 216 + 144 = 360, là số ngày của 1 năm.
Chính Legge còn đặt ra nghi vấn "điều này bắt nguồn từ sự quan sát hay những tính toán khác, chứ không bắt nguồn từ Dịch".
Mấy ông Tây thế mà lại hay ghê gớm. Chứ cứ giảng như Cao Hanh cho là các số ấy là việc tách cọng Cỏ Thi thì có mà đến mùa quýt hậu nhân mới sáng tỏ được cái bí ẩn bên trong.
Trong Tử Vi thì Thái Vi Phú nói:
Tinh canh triền độ, Số phân định Cục.
và
Kỳ tinh phân bố nhất thập nhị viên, Số định hồ tam thập lục vị.
Cái 12 cung viên này là ứng với 12 tuần trăng (theo Âm lịch), còn 36 vị kia là giản ước của 72 ngày của Ngũ Tinh (theo Dương Lịch).
Từ cái thứ tự Ngũ Tinh ở trên (Thổ - Mộc - Hỏa - Kim - Thủy) cũng có thể dễ dàng tính ra được số Cục mà không cần thông qua phép tính Nạp Âm xưa nay thường dùng.
Đến đây thì QNB đã hiểu cái ẩn ý của Cung chủ Ma Y Cung từng nói
INDOCHINE, on 01/03/2013 - 01:20, said:
Nói về Hành thì khi thế giới biến tướng, Hành cũng theo đó mà,,tuỳ biến ,trước kia chỉ có 5 , nay thì có nhiều thể loại Hành mới đa tạp lắm, thế giới cũ của chúng ta chỉ có Ngũ vị hương , 5 loại , nay thì có nhiều loại hương liệu lạ khác ,nếu nói nay có đến 50 loại gia vị thì cũng chưa đủ số. Về Hành mới ( thiệt ra cũng không mới gì nhưng vì không được lên list nên gọi là mới) có 2 loại làm tui ,,hơi mệt tim với tụi nó là Tình và Tiền , có lẽ Mệnh cục của tui ( tui Mệnh Thuỷ MERCURY DEUX PAS / Ai biết Cục số là gì thì hiểu Mer. deux pas là gì ,)
bị chúng khắc chăng ? , heh heh, có bạn nào giải thích giùm ?
bị chúng khắc chăng ? , heh heh, có bạn nào giải thích giùm ?
INDOCHINE, on 27/10/2011 - 15:57, said:
Thật ra cái gọi là Khởi Cục hay Cục số gì đó chẳng có liên quan gì đến Dịch hay Âm / Dương gì cả , đây là 1 phạm trù riêng biệt của Tử vi , các vị sáng lập ra khoa Tử vi đầu tiên là những nhà Chiêm tinh làm việc trong Cung đình , họ đã theo dõi sự vận hành ( Movements ) của Ngũ Tinh ( Kim Mộc thủy Hỏa Thổ ) trên 1 trục Thời - Không để định ra Cục , thật sự kô dựa trên lý thuyết nào của Dịch , nhưng vì có nhiều Cao nhân cứ dựa vào Dịch mà dạy bảo và giải thích , cho nên ,,,ta cứ thuận lý thành chương mà đi
theo thôi , hay nhất là đừng làm đám đông nổi nóng , kẻ ngu phu thường được sống dai , He he ,,,
theo thôi , hay nhất là đừng làm đám đông nổi nóng , kẻ ngu phu thường được sống dai , He he ,,,
Thêm 1 bằng chứng nữa trong Ca Phú của Tử Vi để chứng minh môn Tử Vi ra đời sau môn Ngũ Tinh (Thất Chính Tứ Dư):
Bài Đẩu Số Tổng Quyết:
Hi Di ngưỡng quan thiên thượng tinh
Tác vi đẩu số thôi nhân mệnh
Bất y ngũ tinh yếu quá tiết
Chỉ luận niên nguyệt nhật thời sinh.
(Ngài Hi Di ngẩng đầu ngắm sao trên trời,
Tạo ra môn Đẩu Số để suy đoán mệnh người,
Không giống với (môn) Ngũ Tinh, quá chú trọng đến Tiết khí,
(Mà) Chỉ luận về năm, tháng, ngày, giờ sinh).
...
Thử thị Hi Di chân khẩu quyết
Học giả như đương tử tế tinh
Hậu cụ tinh đồ tính luận đoán
Kỳ trung bộ quyết tối phân minh.
Nhược năng y thử thôi nhân mệnh
Hà dụng cầm đường giảng ngũ tinh?
(Đó chính là khẩu quyết của Hi Di,
Người học cần phải nhận biết, kỹ lưỡng, thật tinh.
Sau bày đủ tinh đồ (bản đồ các sao) mà luận đoán,
Trong đó (có) yếu quyết từng bộ phận rất rõ ràng hiển nhiên.
Nếu như sử dụng môn này mà đoán nhân mệnh,
Thì còn cần dùng phòng nhạc ("cầm đường") để giảng về môn Ngũ Tinh nữa chăng?)
Khi tìm hiểu về Thất Chính Tứ Dư, thì QNB biết rằng trong môn Ngũ Tinh này có chia ra làm 3 đại môn phái là:
- Quả Lão Tinh Tông phái.
- Da Luật phái.
- Cầm Đường phái.
Như vậy là cái câu phú cuối cùng kia là để nói rằng, nếu dùng môn TVĐS này rồi thì không cần sử dụng phép xem Ngũ Tinh theo phái Cầm Đường nữa. Ý muốn nói, mặc dù ra đời sau, nhưng TVĐS có nhiều tính ưu việt hơn là Thất Chính Tứ Dư.
Phuongkongfa
15/04/2014
Chú Quách,
Ngày 30/4/75 nhằm ngày 9 trước tiết Lập hạ, vậy vẫn là tháng 3 nên Đẩu kiến Quải, lần này thì vẫn là tượng đánh nhau, nhưng 5 hào dương lớn mạnh đuổi đánh một hào âm. ( nói thêm để chú rõ mánh của anh V.E.Day )
Ngày 30/4/75 nhằm ngày 9 trước tiết Lập hạ, vậy vẫn là tháng 3 nên Đẩu kiến Quải, lần này thì vẫn là tượng đánh nhau, nhưng 5 hào dương lớn mạnh đuổi đánh một hào âm. ( nói thêm để chú rõ mánh của anh V.E.Day )
Quách Ngọc Bội
16/04/2014
Liên quan tới việc lấy số cho Đại Hạn, nhưng là Đại hạn của... Bát Tự Hà Lạc vì môn này dùng cái trọng yếu ở chỗ xét Thái Dương lịch, năm thời tiết, Tiết Khí.
Trước giờ vẫn thấy nói lấy Hào dương chủ 1 đại hạn 9 năm. Lấy Hào âm chủ 1 đại hạn 6 năm.
Đọc mãi không thấy Học Năng giải thích nguyên nhân tại sao lại thế.
Ngẫm nghĩ, có lẽ do cách hiểu mặc định Hào dương = cửu = 9. Còn Hào âm = lục = 6. Vì thấy sách Dịch cứ nói thế, nào là "hào sơ lục", "hào sơ cửu", "hào lục nhị", "hào cửu nhị",... Cách gọi này từ đâu mà thành, chưa thấy ai giải thích cặn kẽ.
[6 là số Lão Âm, còn 9 là số Lão Dương] - Tại sao lại thế?
Ngoài cách lý giải từ Hà Đồ thì liệu có cách lý giải nào khác?
Quẻ Càn , cực dương, có Số Sách là 216. Đem chia đều cho cả 6 hào dương. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
216 : 6 = 36
36 : 4 = 9
Mỗi hào Dương ở mỗi mùa quản 9 ngày, nên ở 1 đời người quản 9 năm chăng?
Quẻ Khôn , cực âm, có Số Sách là 144. Đem chia đều cho cả 6 hào âm. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
144 : 6 = 24
24 : 4 = 6
Mỗi hào Âm ở mỗi mùa quản 6 ngày, nên ở 1 đời người quản 6 năm chăng?
Sửa bởi QuachNgocBoi: 16/04/2014 - 01:09
Trước giờ vẫn thấy nói lấy Hào dương chủ 1 đại hạn 9 năm. Lấy Hào âm chủ 1 đại hạn 6 năm.
Đọc mãi không thấy Học Năng giải thích nguyên nhân tại sao lại thế.
Ngẫm nghĩ, có lẽ do cách hiểu mặc định Hào dương = cửu = 9. Còn Hào âm = lục = 6. Vì thấy sách Dịch cứ nói thế, nào là "hào sơ lục", "hào sơ cửu", "hào lục nhị", "hào cửu nhị",... Cách gọi này từ đâu mà thành, chưa thấy ai giải thích cặn kẽ.
[6 là số Lão Âm, còn 9 là số Lão Dương] - Tại sao lại thế?
Ngoài cách lý giải từ Hà Đồ thì liệu có cách lý giải nào khác?
QuachNgocBoi, on 15/04/2014 - 14:21, said:
12 quái x 6 hào/quái = 72 hào.
...
Còn 12 Tịch Quái có ý nghĩa lớn hơn khi sử dụng với 12 tháng trong năm, chính là ở chỗ hàm chứa ý nghĩa của môn Ngũ Tinh (Thất Chính Tứ Dư) này.
Chính là lấy để mô tả các hành tinh Thổ, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy ở các cung thứ 72 ngày. Cho nên tổng số thời gian của 5 hành tinh này là 5 x 72 ngày = 360 ngày, tương đương với 1 năm thời tiết, chính là bằng 15 ngày/Tiết Khí x 24 Tiết Khí = 360 ngày.
Thứ tự thực tế của 5 hành tinh đó trên Hệ mặt trời:
Sao Thổ.....Sao Mộc.....Sao Hỏa.......(Trái Đất - địa bàn quan sát)......Sao Kim......Sao Thủy
cho nên:
3 sao bên ngoài (Thổ, Mộc, Hỏa) x 72 = 216 .
2 sao bên trong (Kim, Thủy) x 72 = 144
đây chẳng phải chính là Số Sách của các quái Càn Khôn hay sao.
Thành ra, giảng về Dịch như Willhelm và Legge: 216 + 144 = 360, là số ngày của 1 năm.
Chính Legge còn đặt ra nghi vấn "điều này bắt nguồn từ sự quan sát hay những tính toán khác, chứ không bắt nguồn từ Dịch".
Mấy ông Tây thế mà lại hay ghê gớm. Chứ cứ giảng như Cao Hanh cho là các số ấy là việc tách cọng Cỏ Thi thì có mà đến mùa quýt hậu nhân mới sáng tỏ được cái bí ẩn bên trong.
...
Còn 12 Tịch Quái có ý nghĩa lớn hơn khi sử dụng với 12 tháng trong năm, chính là ở chỗ hàm chứa ý nghĩa của môn Ngũ Tinh (Thất Chính Tứ Dư) này.
Chính là lấy để mô tả các hành tinh Thổ, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy ở các cung thứ 72 ngày. Cho nên tổng số thời gian của 5 hành tinh này là 5 x 72 ngày = 360 ngày, tương đương với 1 năm thời tiết, chính là bằng 15 ngày/Tiết Khí x 24 Tiết Khí = 360 ngày.
Thứ tự thực tế của 5 hành tinh đó trên Hệ mặt trời:
Sao Thổ.....Sao Mộc.....Sao Hỏa.......(Trái Đất - địa bàn quan sát)......Sao Kim......Sao Thủy
cho nên:
3 sao bên ngoài (Thổ, Mộc, Hỏa) x 72 = 216 .
2 sao bên trong (Kim, Thủy) x 72 = 144
đây chẳng phải chính là Số Sách của các quái Càn Khôn hay sao.
Thành ra, giảng về Dịch như Willhelm và Legge: 216 + 144 = 360, là số ngày của 1 năm.
Chính Legge còn đặt ra nghi vấn "điều này bắt nguồn từ sự quan sát hay những tính toán khác, chứ không bắt nguồn từ Dịch".
Mấy ông Tây thế mà lại hay ghê gớm. Chứ cứ giảng như Cao Hanh cho là các số ấy là việc tách cọng Cỏ Thi thì có mà đến mùa quýt hậu nhân mới sáng tỏ được cái bí ẩn bên trong.
Quẻ Càn , cực dương, có Số Sách là 216. Đem chia đều cho cả 6 hào dương. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
216 : 6 = 36
36 : 4 = 9
Mỗi hào Dương ở mỗi mùa quản 9 ngày, nên ở 1 đời người quản 9 năm chăng?
Quẻ Khôn , cực âm, có Số Sách là 144. Đem chia đều cho cả 6 hào âm. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
144 : 6 = 24
24 : 4 = 6
Mỗi hào Âm ở mỗi mùa quản 6 ngày, nên ở 1 đời người quản 6 năm chăng?
Sửa bởi QuachNgocBoi: 16/04/2014 - 01:09
Quách Ngọc Bội
16/04/2014
Bát Tự Hà Lạc, khởi Đại Hạn từ hào Nguyên Đường, mà Nguyên Đường vốn được coi như là Mệnh cung.
Giả sử việc khởi hạn nguyên thủy của môn Tử Vi Đẩu Số là từ Phụ/Bào cung. Vậy lẽ nào, việc khởi hạn từ Mệnh Cung trong Tử Vi là do có sự điều chỉnh từ phái hoặc tay Trùm sò nào đó đã từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hà Lạc???
Nếu quả thực là như vậy thì lịch sử phát triển của môn Tử Vi đúng là rất rắc rối.
Giả sử việc khởi hạn nguyên thủy của môn Tử Vi Đẩu Số là từ Phụ/Bào cung. Vậy lẽ nào, việc khởi hạn từ Mệnh Cung trong Tử Vi là do có sự điều chỉnh từ phái hoặc tay Trùm sò nào đó đã từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hà Lạc???
Nếu quả thực là như vậy thì lịch sử phát triển của môn Tử Vi đúng là rất rắc rối.
Quách Ngọc Bội
16/04/2014
Thổ, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, hợp xưng là Ngũ Tinh, ở tại Thiên thì thành Tượng, tại Địa thì hóa Hình, còn gọi là "Ngũ Đức", "Ngũ Vĩ",...
Sách "Thái Ất tinh kinh", chương Thiên Văn, viết rằng:
Thủy tinh mỗi nhật nhất lục thì kiến bắc phương, mỗi niên nhất lục nguyệt kiến bắc phương, mỗi nguyệt nhất lục nhật hội nhật nguyệt vu bắc phương, cố nhất lục hợp thủy vu bắc.
Hỏa tinh mỗi nhật nhị thất thì kiến nam phương, mỗi niên nhị thất nguyệt kiến nam phương, mỗi nguyệt nhị thất nhật hội nhật nguyệt vu nam phương, cố nhị thất hợp hỏa vu nam.
Mộc tinh mỗi nhật tam bát thì kiến đông phương, mỗi niên tam bát nguyệt kiến đông phương, mỗi nguyệt tam bát nhật hội nhật nguyệt vu đông phương, cố tam bát hợp mộc vu đông.
Kim tinh mỗi nhật tứ cửu thì kiến tây phương, mỗi niên tứ cửu nguyệt kiến tây phương, mỗi nguyệt tứ cửu nhật hội nhật nguyệt vu tây phương, cố tứ cửu hợp thủy vu tây.
Thổ tinh mỗi nhật ngũ thập thì kiến trung ương, mỗi niên ngũ thập nguyệt kiến thiên trung, mỗi nguyệt ngũ thập nhật hội nhật nguyệt vu thiên trung, cố ngũ thập hợp thổ vu trung.
Nghĩa là:
(Thủy Tinh mỗi ngày vào giờ 1, 6 thấy ở Bắc phương; mỗi năm năm vào tháng 1, 6 thì thấy ở Bắc phương; mỗi tháng vào ngày 1, 6 thì hội với Nhật Nguyệt ở Bắc phương. Cho nên 1, 6 hợp Thủy ở Bắc.
Hỏa Tinh mỗi ngày vào giờ 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi năm vào tháng 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi tháng vào ngày 2, 7 thì hội với Nhật Nguyệt ở Nam phương. Cho nên 2, 7 hợp Hỏa ở Nam.
Mộc Tinh mỗi ngày vào giờ 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi năm vào tháng 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi tháng vào ngày 3, 8 thì hội với Nhật Nguyệt ở Đông phương. Cho nên 3, 8 hợp Mộc ở Đông.
Kim Tinh mỗi ngày vào giờ 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi năm vào tháng 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi tháng vào ngày 4, 9 thì hội với Nhật Nguyệt ở Tây phương. Cho nên 4, 9 hợp Kim ở Tây.
Thổ Tinh mỗi ngày vào giờ 5, 10 thì thấy ở Trung Ương; mỗi năm vào tháng 5, 10 thì thấy ở giữa trời; mỗi tháng vào ngày 5, 10 thì hội với Nhật Nguyệt ở giữa trời. Cho nên 5, 10 hợp Thổ ở trung tâm.
Đây chính là Hà Đồ tinh tượng, xưa nay học giả chỉ biết truyền thuyết Long Mã, Linh Quy, mà chẳng biết Hà Đồ vốn ở tại thiên tượng. Hà Đồ là sự khái quát của quy luật ẩn hiện của ngũ tinh, vì cớ gì mà lại đi gán ghép chuyện Long Mã với các truyền thuyết quái đản.
Vì vậy dựa vào Hà Đồ, Ngũ tinh là căn nguyên của Ngũ Hành.
Xét thứ tự của Ngũ tinh (từ trên xuống dưới) là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, đây chính là cơ sở luận của Ngũ Hành trong "Cửu Trù Hồng Phạm" đó ư.
...
Giang Vĩnh viết trong cuốn "Hà Lạc Tinh Uẩn" từ Hà Đồ đã suy diễn ra Đồ hình cao thấp của Thất Chính:
Thổ trung ngũ thập
Mộc đông tam bát
Hỏa nam nhị thất
Nhật hỏa chi tinh
Kim tây tứ cửu
Thủy bắc nhất lục
Nguyệt thủy chi tinh
Nói ngắn gọn về cái lý của nó, Ngũ Tinh lấy thanh - trọc (trong - đục) mà phân chia ngôi vị cao thấp, cái trọc (đục) thì ở trên, cái thanh (trong) thì ở dưới. Trong ngũ hành thì Thổ là trọc nhất, cho nên cư cao nhất, thứ đến là Mộc Hỏa, còn Nhật là tinh của Hỏa cho nên cư ở bên dưới của Hỏa, thứ đến nữa là Kim Thủy, mà Nguyệt là tinh của Thủy cho nên Nguyệt cư ở dưới của Thủy.
Thứ tự của Thất Chính cũng thể hiện tư tưởng gốc của Lục Hợp, tức:
Tý Sửu hợp Thổ là 1,
Dần Hợi hợp Mộc là 2,
Mão Tuất hợp Hỏa là 3,
Thìn Dậu hợp Kim là 4,
Tị Thân hợp Thủy là 5,
Ngọ Mùi hợp Nhật Nguyệt.
Đây chẳng phải chính là lục hợp mà Thiệu Khang Tiết từng đề cập đến hay sao.
Sửa bởi QuachNgocBoi: 16/04/2014 - 02:34
Sách "Thái Ất tinh kinh", chương Thiên Văn, viết rằng:
Thủy tinh mỗi nhật nhất lục thì kiến bắc phương, mỗi niên nhất lục nguyệt kiến bắc phương, mỗi nguyệt nhất lục nhật hội nhật nguyệt vu bắc phương, cố nhất lục hợp thủy vu bắc.
Hỏa tinh mỗi nhật nhị thất thì kiến nam phương, mỗi niên nhị thất nguyệt kiến nam phương, mỗi nguyệt nhị thất nhật hội nhật nguyệt vu nam phương, cố nhị thất hợp hỏa vu nam.
Mộc tinh mỗi nhật tam bát thì kiến đông phương, mỗi niên tam bát nguyệt kiến đông phương, mỗi nguyệt tam bát nhật hội nhật nguyệt vu đông phương, cố tam bát hợp mộc vu đông.
Kim tinh mỗi nhật tứ cửu thì kiến tây phương, mỗi niên tứ cửu nguyệt kiến tây phương, mỗi nguyệt tứ cửu nhật hội nhật nguyệt vu tây phương, cố tứ cửu hợp thủy vu tây.
Thổ tinh mỗi nhật ngũ thập thì kiến trung ương, mỗi niên ngũ thập nguyệt kiến thiên trung, mỗi nguyệt ngũ thập nhật hội nhật nguyệt vu thiên trung, cố ngũ thập hợp thổ vu trung.
Nghĩa là:
(Thủy Tinh mỗi ngày vào giờ 1, 6 thấy ở Bắc phương; mỗi năm năm vào tháng 1, 6 thì thấy ở Bắc phương; mỗi tháng vào ngày 1, 6 thì hội với Nhật Nguyệt ở Bắc phương. Cho nên 1, 6 hợp Thủy ở Bắc.
Hỏa Tinh mỗi ngày vào giờ 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi năm vào tháng 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi tháng vào ngày 2, 7 thì hội với Nhật Nguyệt ở Nam phương. Cho nên 2, 7 hợp Hỏa ở Nam.
Mộc Tinh mỗi ngày vào giờ 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi năm vào tháng 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi tháng vào ngày 3, 8 thì hội với Nhật Nguyệt ở Đông phương. Cho nên 3, 8 hợp Mộc ở Đông.
Kim Tinh mỗi ngày vào giờ 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi năm vào tháng 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi tháng vào ngày 4, 9 thì hội với Nhật Nguyệt ở Tây phương. Cho nên 4, 9 hợp Kim ở Tây.
Thổ Tinh mỗi ngày vào giờ 5, 10 thì thấy ở Trung Ương; mỗi năm vào tháng 5, 10 thì thấy ở giữa trời; mỗi tháng vào ngày 5, 10 thì hội với Nhật Nguyệt ở giữa trời. Cho nên 5, 10 hợp Thổ ở trung tâm.
Đây chính là Hà Đồ tinh tượng, xưa nay học giả chỉ biết truyền thuyết Long Mã, Linh Quy, mà chẳng biết Hà Đồ vốn ở tại thiên tượng. Hà Đồ là sự khái quát của quy luật ẩn hiện của ngũ tinh, vì cớ gì mà lại đi gán ghép chuyện Long Mã với các truyền thuyết quái đản.
Vì vậy dựa vào Hà Đồ, Ngũ tinh là căn nguyên của Ngũ Hành.
Xét thứ tự của Ngũ tinh (từ trên xuống dưới) là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, đây chính là cơ sở luận của Ngũ Hành trong "Cửu Trù Hồng Phạm" đó ư.
...
Giang Vĩnh viết trong cuốn "Hà Lạc Tinh Uẩn" từ Hà Đồ đã suy diễn ra Đồ hình cao thấp của Thất Chính:
Thổ trung ngũ thập
Mộc đông tam bát
Hỏa nam nhị thất
Nhật hỏa chi tinh
Kim tây tứ cửu
Thủy bắc nhất lục
Nguyệt thủy chi tinh
Nói ngắn gọn về cái lý của nó, Ngũ Tinh lấy thanh - trọc (trong - đục) mà phân chia ngôi vị cao thấp, cái trọc (đục) thì ở trên, cái thanh (trong) thì ở dưới. Trong ngũ hành thì Thổ là trọc nhất, cho nên cư cao nhất, thứ đến là Mộc Hỏa, còn Nhật là tinh của Hỏa cho nên cư ở bên dưới của Hỏa, thứ đến nữa là Kim Thủy, mà Nguyệt là tinh của Thủy cho nên Nguyệt cư ở dưới của Thủy.
Thứ tự của Thất Chính cũng thể hiện tư tưởng gốc của Lục Hợp, tức:
Tý Sửu hợp Thổ là 1,
Dần Hợi hợp Mộc là 2,
Mão Tuất hợp Hỏa là 3,
Thìn Dậu hợp Kim là 4,
Tị Thân hợp Thủy là 5,
Ngọ Mùi hợp Nhật Nguyệt.
Đây chẳng phải chính là lục hợp mà Thiệu Khang Tiết từng đề cập đến hay sao.
Sửa bởi QuachNgocBoi: 16/04/2014 - 02:34
Vô Danh Thiên Địa
16/04/2014
Cần phân biệt Chiêm tinh và Thiên văn đó lão Quách .
Phuongkongfa
16/04/2014
QuachNgocBoi, on 16/04/2014 - 01:38, said:
Bát Tự Hà Lạc, khởi Đại Hạn từ hào Nguyên Đường, mà Nguyên Đường vốn được coi như là Mệnh cung.
Giả sử việc khởi hạn nguyên thủy của môn Tử Vi Đẩu Số là từ Phụ/Bào cung. Vậy lẽ nào, việc khởi hạn từ Mệnh Cung trong Tử Vi là do có sự điều chỉnh từ phái hoặc tay Trùm sò nào đó đã từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hà Lạc???
Nếu quả thực là như vậy thì lịch sử phát triển của môn Tử Vi đúng là rất rắc rối.
Giả sử việc khởi hạn nguyên thủy của môn Tử Vi Đẩu Số là từ Phụ/Bào cung. Vậy lẽ nào, việc khởi hạn từ Mệnh Cung trong Tử Vi là do có sự điều chỉnh từ phái hoặc tay Trùm sò nào đó đã từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hà Lạc???
Nếu quả thực là như vậy thì lịch sử phát triển của môn Tử Vi đúng là rất rắc rối.
Khoa Tử vi truyền vào nước ta 2 lần. Lần thứ 1 là dưới thời nhà Trần. Sau khi bọn giặc minh xâm lược nước ta, chúng nó đốt và chở hết sách quý của ta về nước. Giai đoạn này khoa TV ở nước ta bị đứt đoạn.
Lần 2 là dưới thời nhà Hậu Lê với 2 nhân vật nổi bật và kiệt xuất là cụ Trạng và cụ Lê Quý Đôn. Tương ứng khi đó ở bên tầu khoa Tử vi chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi 2 phái Hà Lạc và Ma Y đạo sĩ.
Do đó khoa TV của ta cũng bắt đầu có sự dị biệt so với khoa TV dưới thời nhà Trần.
-----------------------------------------------------------
Và tiện đây tôi cũng cảnh báo rằng những ai xưng là dòng Phúc tông hay phái Đông A hiện nay cần xem xét kỹ lại cách an cặp Khôi-Việt cho tuổi Canh, có phải là :
- Canh, Tân phùng Mã, Hổ
hay
- Giáp, Mậu, Canh Ngưu Dương
( ngay nội bộ của phái Đông A cũng có bất đồng về cách an này, tôi đã có đủ bằng chứng để chứng minh ).
Sửa bởi Phuongkongfa: 16/04/2014 - 17:34
PhapVan
16/04/2014
QuachNgocBoi, on 16/04/2014 - 02:25, said:
...
Nghĩa là:
(Thủy Tinh mỗi ngày vào giờ 1, 6 thấy ở Bắc phương; mỗi năm năm vào tháng 1, 6 thì thấy ở Bắc phương; mỗi tháng vào ngày 1, 6 thì hội với Nhật Nguyệt ở Bắc phương. Cho nên 1, 6 hợp Thủy ở Bắc.
Hỏa Tinh mỗi ngày vào giờ 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi năm vào tháng 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi tháng vào ngày 2, 7 thì hội với Nhật Nguyệt ở Nam phương. Cho nên 2, 7 hợp Hỏa ở Nam.
Mộc Tinh mỗi ngày vào giờ 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi năm vào tháng 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi tháng vào ngày 3, 8 thì hội với Nhật Nguyệt ở Đông phương. Cho nên 3, 8 hợp Mộc ở Đông.
Kim Tinh mỗi ngày vào giờ 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi năm vào tháng 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi tháng vào ngày 4, 9 thì hội với Nhật Nguyệt ở Tây phương. Cho nên 4, 9 hợp Kim ở Tây.
Thổ Tinh mỗi ngày vào giờ 5, 10 thì thấy ở Trung Ương; mỗi năm vào tháng 5, 10 thì thấy ở giữa trời; mỗi tháng vào ngày 5, 10 thì hội với Nhật Nguyệt ở giữa trời. Cho nên 5, 10 hợp Thổ ở trung tâm.
Đây chính là Hà Đồ tinh tượng, xưa nay học giả chỉ biết truyền thuyết Long Mã, Linh Quy, mà chẳng biết Hà Đồ vốn ở tại thiên tượng. Hà Đồ là sự khái quát của quy luật ẩn hiện của ngũ tinh, vì cớ gì mà lại đi gán ghép chuyện Long Mã với các truyền thuyết quái đản.
Vì vậy dựa vào Hà Đồ, Ngũ tinh là căn nguyên của Ngũ Hành.
...
Nghĩa là:
(Thủy Tinh mỗi ngày vào giờ 1, 6 thấy ở Bắc phương; mỗi năm năm vào tháng 1, 6 thì thấy ở Bắc phương; mỗi tháng vào ngày 1, 6 thì hội với Nhật Nguyệt ở Bắc phương. Cho nên 1, 6 hợp Thủy ở Bắc.
Hỏa Tinh mỗi ngày vào giờ 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi năm vào tháng 2, 7 thì thấy ở Nam phương; mỗi tháng vào ngày 2, 7 thì hội với Nhật Nguyệt ở Nam phương. Cho nên 2, 7 hợp Hỏa ở Nam.
Mộc Tinh mỗi ngày vào giờ 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi năm vào tháng 3, 8 thì thấy ở Đông phương; mỗi tháng vào ngày 3, 8 thì hội với Nhật Nguyệt ở Đông phương. Cho nên 3, 8 hợp Mộc ở Đông.
Kim Tinh mỗi ngày vào giờ 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi năm vào tháng 4, 9 thì thấy ở phương Tây; mỗi tháng vào ngày 4, 9 thì hội với Nhật Nguyệt ở Tây phương. Cho nên 4, 9 hợp Kim ở Tây.
Thổ Tinh mỗi ngày vào giờ 5, 10 thì thấy ở Trung Ương; mỗi năm vào tháng 5, 10 thì thấy ở giữa trời; mỗi tháng vào ngày 5, 10 thì hội với Nhật Nguyệt ở giữa trời. Cho nên 5, 10 hợp Thổ ở trung tâm.
Đây chính là Hà Đồ tinh tượng, xưa nay học giả chỉ biết truyền thuyết Long Mã, Linh Quy, mà chẳng biết Hà Đồ vốn ở tại thiên tượng. Hà Đồ là sự khái quát của quy luật ẩn hiện của ngũ tinh, vì cớ gì mà lại đi gán ghép chuyện Long Mã với các truyền thuyết quái đản.
Vì vậy dựa vào Hà Đồ, Ngũ tinh là căn nguyên của Ngũ Hành.
...
Long Mã là thần vật chuyên chở gìn giữ kinh (kinh điển) , Linh Quy là vật tàng thần - ở đây có mật ngữ.
TuBinhTuTru
09/05/2014
QuachNgocBoi, on 16/04/2014 - 01:01, said:
Liên quan tới việc lấy số cho Đại Hạn, nhưng là Đại hạn của... Bát Tự Hà Lạc vì môn này dùng cái trọng yếu ở chỗ xét Thái Dương lịch, năm thời tiết, Tiết Khí.
Trước giờ vẫn thấy nói lấy Hào dương chủ 1 đại hạn 9 năm. Lấy Hào âm chủ 1 đại hạn 6 năm.
Đọc mãi không thấy Học Năng giải thích nguyên nhân tại sao lại thế.
Ngẫm nghĩ, có lẽ do cách hiểu mặc định Hào dương = cửu = 9. Còn Hào âm = lục = 6. Vì thấy sách Dịch cứ nói thế, nào là "hào sơ lục", "hào sơ cửu", "hào lục nhị", "hào cửu nhị",... Cách gọi này từ đâu mà thành, chưa thấy ai giải thích cặn kẽ.
[6 là số Lão Âm, còn 9 là số Lão Dương] - Tại sao lại thế?
Ngoài cách lý giải từ Hà Đồ thì liệu có cách lý giải nào khác?
Trước giờ vẫn thấy nói lấy Hào dương chủ 1 đại hạn 9 năm. Lấy Hào âm chủ 1 đại hạn 6 năm.
Đọc mãi không thấy Học Năng giải thích nguyên nhân tại sao lại thế.
Ngẫm nghĩ, có lẽ do cách hiểu mặc định Hào dương = cửu = 9. Còn Hào âm = lục = 6. Vì thấy sách Dịch cứ nói thế, nào là "hào sơ lục", "hào sơ cửu", "hào lục nhị", "hào cửu nhị",... Cách gọi này từ đâu mà thành, chưa thấy ai giải thích cặn kẽ.
[6 là số Lão Âm, còn 9 là số Lão Dương] - Tại sao lại thế?
Ngoài cách lý giải từ Hà Đồ thì liệu có cách lý giải nào khác?
Phép đếm ngày xưa sơ khởi là hệ 10 can, 12 chi và có bội số chung nhỏ nhất là 60.
Như tôi đã có viết qua:
Trích dẫn
Thời gian tuần tự trôi qua, 12 thời thần được (thập nhị địa chi) 1 ngày, 60 thời thần vị chi 5 ngày ... bắt đầu từ giờ Giáp Tí đến giờ Quý Hợi (60 hoa giáp) rồi lập lại; cho nên ta có hệ ngũ phân:
01 02 03 04 05
06 07 08 09 10
từ thập phân (thập thiên can) hay do đó mà có (thập can) (?) Nhưng vì, lục thập (60) hoa giáp là bội số chung nhỏ nhất cho 10 can, 12 chi nên can-chi phải có trước vậy!
Giáp/Kỷ ; Ất/Canh ; Bính/Tân ; Đinh/Nhâm ; Mậu/Quý
Ngày 01 [ Giáp Tí ] : giờ Giáp Tí --- đến >>> giờ Ất Hợi
Ngày 02 [ Ất Sửu ] : giờ Bính Tí --- đến >>> giờ Đinh Hợi
Ngày 03 [ Bính Dần] : giờ Mậu Tí --- đến >>> giờ Kỷ Hợi
Ngày 04 [ Đinh Mão ] : giờ Canh Tí --- đến >>> giờ Tân Hợi
Ngày 05 [Mậu Thìn ] : giờ Nhâm Tí --- đến >>> giờ Quý Hợi
Ta thấy điều gì?
Cứ 5 ngày thì có sự lặp lại do giờ giấc liền lạc nên giờ Tí cho mỗi ngày đều phải dùng "ngũ-tí-độn" của quan hệ ngày-giờ
Read more: http://tuvilyso.org/...5#ixzz31ASDDASF
TuViLySo.Org
01 02 03 04 05
06 07 08 09 10
từ thập phân (thập thiên can) hay do đó mà có (thập can) (?) Nhưng vì, lục thập (60) hoa giáp là bội số chung nhỏ nhất cho 10 can, 12 chi nên can-chi phải có trước vậy!
Giáp/Kỷ ; Ất/Canh ; Bính/Tân ; Đinh/Nhâm ; Mậu/Quý
Ngày 01 [ Giáp Tí ] : giờ Giáp Tí --- đến >>> giờ Ất Hợi
Ngày 02 [ Ất Sửu ] : giờ Bính Tí --- đến >>> giờ Đinh Hợi
Ngày 03 [ Bính Dần] : giờ Mậu Tí --- đến >>> giờ Kỷ Hợi
Ngày 04 [ Đinh Mão ] : giờ Canh Tí --- đến >>> giờ Tân Hợi
Ngày 05 [Mậu Thìn ] : giờ Nhâm Tí --- đến >>> giờ Quý Hợi
Ta thấy điều gì?
Cứ 5 ngày thì có sự lặp lại do giờ giấc liền lạc nên giờ Tí cho mỗi ngày đều phải dùng "ngũ-tí-độn" của quan hệ ngày-giờ
Read more: http://tuvilyso.org/...5#ixzz31ASDDASF
TuViLySo.Org
Đó là, đến ngày thứ 6 [ Kỷ Tỵ ] : thì chu kỳ 60 thời thần được lập lại nên ta hay thấy Giáp-Kỷ, Ất-Canh hoặc 1-6, 2-7, 3-8 v.v... ra tuồng hệ ngũ-phân:
1 2 3 4 5 rồi
6 7 8 9 10 v.v...
Để lý giải tại sao Càn dụng Cửu (lão Dương) , Khôn dụng Lục (lão Âm) thì ta phải biết đến Cơ-Ngẫu (lẽ-chẳn, âm-dương) và với:
1 2 3 4 5
ta có:
9 = 1 + 3 + 5
6 = 2 + 4
QuachNgocBoi, on 16/04/2014 - 01:01, said:
Quẻ Càn , cực dương, có Số Sách là 216. Đem chia đều cho cả 6 hào dương. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
216 : 6 = 36
36 : 4 = 9
Mỗi hào Dương ở mỗi mùa quản 9 ngày, nên ở 1 đời người quản 9 năm chăng?
Quẻ Khôn , cực âm, có Số Sách là 144. Đem chia đều cho cả 6 hào âm. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
144 : 6 = 24
24 : 4 = 6
Mỗi hào Âm ở mỗi mùa quản 6 ngày, nên ở 1 đời người quản 6 năm chăng?
216 : 6 = 36
36 : 4 = 9
Mỗi hào Dương ở mỗi mùa quản 9 ngày, nên ở 1 đời người quản 9 năm chăng?
Quẻ Khôn , cực âm, có Số Sách là 144. Đem chia đều cho cả 6 hào âm. Rồi chia tiếp cho Tứ tượng 4 mùa.
144 : 6 = 24
24 : 4 = 6
Mỗi hào Âm ở mỗi mùa quản 6 ngày, nên ở 1 đời người quản 6 năm chăng?
Còn lại, để tìm 216 là Dương và 144 là Âm với tỉ lệ 3:2 thì đâu đó tôi đã viết ở Tân Dịch Phái thì phải
Quách Ngọc Bội
11/05/2014
TuBinhTuTru, on 09/05/2014 - 06:08, said:
Phép đếm ngày xưa sơ khởi là hệ 10 can, 12 chi và có bội số chung nhỏ nhất là 60.
Như tôi đã có viết qua:
[/size][/font][/color]
Đó là, đến ngày thứ 6 [ Kỷ Tỵ ] : thì chu kỳ 60 thời thần được lập lại nên ta hay thấy Giáp-Kỷ, Ất-Canh hoặc 1-6, 2-7, 3-8 v.v... ra tuồng hệ ngũ-phân:
1 2 3 4 5 rồi
6 7 8 9 10 v.v...
Để lý giải tại sao Càn dụng Cửu (lão Dương) , Khôn dụng Lục (lão Âm) thì ta phải biết đến Cơ-Ngẫu (lẽ-chẳn, âm-dương) và với:
1 2 3 4 5
Còn lại, để tìm 216 là Dương và 144 là Âm với tỉ lệ 3:2 thì đâu đó tôi đã viết ở Tân Dịch Phái thì phải
Như tôi đã có viết qua:
[/size][/font][/color]
Đó là, đến ngày thứ 6 [ Kỷ Tỵ ] : thì chu kỳ 60 thời thần được lập lại nên ta hay thấy Giáp-Kỷ, Ất-Canh hoặc 1-6, 2-7, 3-8 v.v... ra tuồng hệ ngũ-phân:
1 2 3 4 5 rồi
6 7 8 9 10 v.v...
Để lý giải tại sao Càn dụng Cửu (lão Dương) , Khôn dụng Lục (lão Âm) thì ta phải biết đến Cơ-Ngẫu (lẽ-chẳn, âm-dương) và với:
1 2 3 4 5
ta có:
9 = 1 + 3 + 5
6 = 2 + 4
Còn lại, để tìm 216 là Dương và 144 là Âm với tỉ lệ 3:2 thì đâu đó tôi đã viết ở Tân Dịch Phái thì phải
Cái này thì QNB biết, vấn đề là QNB thắc mắc liệu có cách giải thích nào khác hay không thôi.
Hơn nữa, khi chưa gán số vào Quẻ với Hào thì 9 với 6 dù có lý giải được là lão dương với lão âm thì cũng chưa kết nối Hào dương dụng 9 và Hào âm dụng 6 được. Phải có 1 bước trung gian môi giới cái đã chứ, hiii...
TuViTamThuc
02/04/2025
Quách Ngọc Bội, on 03/03/2014 - 19:07, said:
QNB được một bạn gửi cho file loạt bài biết của nick johnmiths.
Xin không đăng lại vào đây để QNB tiếp tục dịch các phần tiếp theo trong cuốn Quả Lão Tinh Tông có liên quan tới các sao trong Tử Vi. Quý vị nào quan tâm thì đọc trong file này (các bài của ông johnmiths)
Xin không đăng lại vào đây để QNB tiếp tục dịch các phần tiếp theo trong cuốn Quả Lão Tinh Tông có liên quan tới các sao trong Tử Vi. Quý vị nào quan tâm thì đọc trong file này (các bài của ông johnmiths)
Xin bác Bội có thể mở quyền download của file này được không? File hiện tại đã set thành private. Cảm ơn bác!


