Gửi vào 28/09/2022 - 13:33
nói chung quan niệm tam hợp cho rằng
ta= mệnh tài quan
nó= di thê phúc
nếu kị tinh bay vào NÓ, thì NÓ sẽ đập lại cung đối diện , nhất là lưu niên chạy vào cung đối diện với Hoá kị đó
NGƯỢC LẠI
nếu đại vận tới tha cung như phúc di thê
mà bay hoá lộc vào mệnh tài quan
thì năm mà tới vị trí đối xung ắt có lộc, có thành tựu
điều này khá chính xác
như vậy , cách này xem lưu niên ứng kì!
khẩu quyết của giang hồ , xem là tâm pháp của TIÊU MAI HOA;
cung vị đồng cung dữ đối xung
ví dụ về TIÊU MAI HOA
giờ này giờ mùi, cô giúp việc tới lau nhà
tôi đoán : cô ấy tuổi mùi, nếu khôn tuổi mùi ắt tuổi sửu
kết quả cô ấy tuổi mùi
ứng sự trong tam hợp không ép phê, mà theo khẩu quyết thì luôn chú trọng vào
cung vị đồng cung dữ đối xung, kể cả đông A phái cũng dùng cách này
suy luận rộng ra thì nó thế này
như năm nay cung lưu kình dương năm nhâm dần vào cung thiên di tí
vậy đi ra đường gặp tai nạn à?
không, kình dương sẽ đánh ngay vào mệnh, đấy cùng là bí quyết của các sao lưu
nhưng vẫn chưa ăn thua
bí kíp thực sự của nó phải là trục tí ngọ, mão dậu
dần thân tỵ hợi , thìn tuất sửu mùi
tuy nhiên , cách dùng này mật truyền, hàng của thiên hạ mình ko dùng được
5. Thị phi Kị (Lộc lai Kị).
Giả sử A, B hai cung không phải đối cung, khi A cung Hóa Lộc nhập B cung, mà B cung cũng Hóa Kị nhập A cung. Hình thái Lộc đi Kị lại tức gọi là "Thị phi Kị". Nếu A, B đối cung, hình thành Lộc Kị xung thì không là "Thị phi Kị". Giữa người với người mới phát sinh thị phi, cho nên "Thị phi Kị" là biểu hiện hiện tượng tại lục thân cung vị. Là hình tượng "lấy đức báo oán" hoặc "lấy oán báo đức", tức có đối tốt với đối phương nhưng không được báo đáp mà nhận lại thị phi, oán ngôn. Ví dụ: Mệnh cung Hóa Lộc nhập phu thê cung, Phu thê cung Hóa Kị nhập mệnh cung biểu thị mệnh tạo yêu thương phối ngẫu, nhưng phối ngẫu cho rằng mệnh tạo quản quá chặt, quan tâm quá độ tạo thành áp lực làm phối ngẫu mất tự do.
cái này cũng chỉ tương đối thôi
thực tế thì rất nhiều người cung phu thê hoá lộc bay vào mệnh mà vợ chồng vẫn bỏ
như chính thằng tôi đây này
6. Phiền toái Kị (Hỗ xung Kị).
Tức hai cung Hóa xuất Kị tinh, hình thành trạng thái đối cung xung nhau (đối cung hỗ xung). Ví dụ: Mệnh cung Hóa Kị nhập phúc đức cung, mà nô bộc cung Hóa Kị nhập tài bạch cung, lưỡng Kị tại tài phúc hình thành trạng thái đối cung hỗ xung, Tức là "Phiền toái Kị". Chủ bằng hữu và mệnh tạo có sự phân tranh trong tài vụ, nên cần thận trọng trong giao dịch tiền bạc cùng bằng hữu. Ví dụ như mệnh cung và phu thê cung hình thành trạng thái Kị tinh đối cung hỗ xung gọi là "Oán than kị". Phu thê sẽ cãi vã, oán than liên miên.
7. Nghịch thủy Kị.
Ví dụ: Khi mệnh cung, tài bạch cung quan lộc cung có "Lưu xuất Kị" hoặc gọi "Thủy mệnh Kị" nhập đối cung, những cung này tức thiên di, phúc đức, hoặc phu thê cung có Kị năm sinh tọa thủ mà không tự hóa, Kị năm sinh như bức tường ngăn chặn "Lưu xuất Kị", "Lưu xuất Kị" không bị lưu xuất, Hình thái đó gọi là "Nghịch thủy Kị", phàm mệnh bàn có "Nghịch thủy Kị" tất nhiên phát đạt, có thể kinh doanh, mở xưởng, nguồn tài dồi dào, sự nghiệp thăng tiến. Kị này nhất định phải do bản mệnh tam hợp phi xuất, và đối cung như thiên di, phúc đức, phu thê tuyệt không thể tự hóa mới hợp cách "Nghịch thủy Kị".
8. Thủy tiết Kị.
Là phá cách của " Nghịch thủy Kị" tức trạng thái "Nghịch thủy Kị", nhưng Kị năm sinh tọa thủ tại thiên di cung, phúc đức cung, phu thê cung lại tự Hóa Kị, khi đó gọi là "Thủy tiết Kị". Sẽ có sức phá hoại cực lớn, nhất là tự Hóa Lộc, tự Hóa Kị, sẽ dẫn đến hậu quả thất bại thảm hại một cách nhanh chóng. Như tục ngữ có câu " kiếm bao nhiêu, tiêu ngần ấy", kiếm được càng nhiều cũng tiêu sạch bách.
9. Chiết mã Kị (Tứ mã Kị).
Chiết tức chặt bỏ, tức cung dần, thân, tị, hợi gọi là "Tứ mã Kị". Tức hình thái Kị năm sinh tọa lạc tứ mã cung vị, hoặc thiên can của bốn cung này tự Hóa Kị, đều gọi là "Chiết mã Kị". Chủ bôn ba, lao bác, nếu bốn cung này là lục thân cung vị, tức biểu thị hiện tượng lục thân tụ ít ly nhiều, cũng tốt nhất nên tụ ít ly nhiều, nếu gần nhau lâu dễ xảy ra xung đột. Nếu là mệnh cung tất chủ phải ly hương, tại ngoại bôn ba lao bác, cach trở người thân.
10. Nhập khố Kị.
Thìn, tuất, sửu, mùi gọi là tứ mộ khố, có Kị năm sinh tọa thủ mà không tự hóa gọi là "Nhập khố Kị". Có ý nghĩa thủ tài, tiến tài. "Nhập khố Kị" tồn tại một chút ý nghĩa khiếm nợ. Khi tọa tại lục thân cung, tức chủ lục thân nỗ lực kiếm tiền, mà mệnh tạo nhờ đó được lợi. Như tại phu thê cung, tức khi kết hôn phối ngẫu mang lại tài lộc, hoặc sau hôn nhân phối ngẫu nỗ lực kiếm tiền cho mệnh tạo. Nếu không phải lục thân cung tức mệnh tạo phải nỗ lực kiếm tiền. Như tại điền trạch, biểu thị mệnh tạo phải có trách nhiệm gánh vác sinh kế, phải kiếm tiền chăm lo cho gia đình, hoặc vì sản nghiệp mà nỗ lực không ngừng, là mệnh tạo "mắc nợ" gia đình. Tại tài bạch cung biểu thị vì tài bôn ba nhưng có thể thủ tài, nhưng nếu có tự hóa, tất không thể thủ tài, sẽ lưu thất, khi đó trở thành "Tiết khố Kị".
hoá lộc hoàn vi hảo
hưu hướng mộ trung tàng
lộc cần có mã, 4 mã để lưu xuất, vận chuyển
kị cần vào kho để nó giữ lại
hoá kị yếu thủ điền tài, câu này không sai, nhưng phải là điền tài đóng 4 mộ, hoặc đóng cùng sao MỘ , thì nó mới chảy vào trong kho, chủ giữ tiền bền
nhưng tóm cái lại, như lá tân hợi, đại vận cung quan mà hoá kị đóng mộ địa vẫn chết
11. Tuyệt mệnh Kị. "Tuyệt mệnh Kị" đoán sinh tử, nhất thiết Kị năm sinh tọa mệnh cung.
Khi mệnh cung tọa Kị năm sinh, tối kị một cung khác Hóa Kị nhập mệnh.
1. Khi mệnh cung tọa Kị năm sinh, đại hạn quan lộc cung hoặc đại hạn điền trạch cung lại Hóa Kị nhập mệnh là "Tuyệt mệnh Kị".
2. Mệnh cung không có niên Kị, đại hạn thiên di Hóa Kị xung bản mệnh; hoặc xung bản mệnh quan lộc cung; hoặc đại hạn điền trạch cung Hóa Kị xung bản mệnh cũng là "Tuyệt mệnh Kị".
3. Tuyệt mệnh Kị là kiếp số chi vị, tuyệt mệnh chi sự, là đại hạn hoặc lưu niên Hóa Kị bất khả xung bản mệnh hoặc bản mệnh quan lộc cung. Điền trạch cung cũng bất khả Hóa Kị xung bản mệnh hoặc bản mệnh quan lộc cung.
4. Tức bản mệnh cung tọa Kị năm sinh, điền trạch cung hoặc quan lộc cung Hóa Kị, quyết không thể lại nhập bản mệnh, nhập bản mệnh tất sinh mệnh nguy hiểm.
5. Khi bản mệnh tọa Kị năm sinh, tối phạ (sợ nhất) Kị nhập, như phu thê cung Hóa Kị nhập bản mệnh cung, tất chủ phu thê tranh cãi phân khai, một trong hai người có sự cố ảnh hưởng thân thể.
6. Thiên di cung Hóa Kị xung bản mệnh; hoặc xung quan lộc, đồng thời điền trạch cung cũng Hóa Kị xung bản mệnh, tình trạng sinh mệnh vô cùng nguy hiểm.
7. Thiên di cung Hóa Kị xung bản mệnh quan lộc cung và xung bản mệnh tương đồng, nếu phát sinh sự bất ngờ sẽ vô cùng nghiêm trọng (lưu niên, đại hạn đồng luận).
8. Khi điền trạch cung Hóa Kị xung bản mệnh mệnh cung mà bản mệnh cung tuy vô Kị tọa thủ, cũng đồng dạng sinh mệnh gặp nguy hiểm.
9. Lưu niên thiên di cung bất khả Hóa Kị xung bản mệnh cung, xung tất nguy hiểm. Khi quan lộc cung tọa thủ Kị năm sinh, thiên di cung hoặc điền trạch cung Hóa Kị bất khả tái nhập quan lộc cung, nhập tất hung.
10. Đoán lưu niên có thể dựa trực tiếp bộ lưu niên tứ hóa nhập bản mệnh phán đoán.Tham khảo đại hạn và đại hạn tài bạch cung, có thể chỉ là tổn tài mà thôi.
Nếu bản mệnh bị xung do đại hạn tử nữ hoặc đại hạn điền trạch, tai ương tất nghiêm trọng. Lưu niên thiên di cung Hóa Kị xung bản mệnh tất tai ách, xung quan lộc cung cũng tai ách, mệnh cung và quan lộc cung là nhất cửu đồng cung, là nơi sử dụng Tuyệt mệnh Kị.
xem về hoá kị, đa số ứng phá sản
còn xem chết chóc, dùng lưu kình đà mới ép phê!
hoặc là cũng phải đi kèm
cự hoả kình
linh xương đà vũ
hình kị hiệp ấn
kình đà hiệp kị..
thì mới đoán tử hạn
còn đa số kị tinh hay ứng vào tù tội, phá sản là nhiều