Jump to content

vòng tay phong thuỷ

Advertisements




TRÊN ĐƯỜNG HỌC DỊCH


7 replies to this topic

#1 BanChatDichHoc

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 102 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 16/12/2017 - 22:33

Dịch Học . Mỗi khi nhắc đến tôi lại nhớ đến cảm nhận của mình khi lần đầu tiên được nghe các giai thoại về sự kì diệu của Kinh Dịch , Kì Môn Độn Giáp , Tử Vi , Phong Thủy Địa Lý .....Cảm nhận đó như thế nào nhỉ ? ...!!! Thật khó mà diễn tả . Nó vừa làm mình nghi ngờ , vừa làm mình tin tưởng ....Cứ như thế rồi sự tò mò cộng thêm một chút duyên phận với nó mà chuyển thành đam mê lúc nào không hay biết .

Trên con đường tìm hiểu Dịch Học có những lúc vô cùng bế tắc . Bao nhiêu sách cố công sưu tầm , được thu ngọn một chỗ , dự tính khai tử nó bằng cách làm mồi nhóm bếp củi hoặc tặng cho thư viện của xã ...Tháng sau , vừa bê ra cho mấy anh đoàn viên trong xóm , bỗng phát hiện ra mấu chốt vấn đề làm mình bế tắc .... Tự dưng gào to " Tuyệt vời ! " ....Lại lao đầu vào đống sách đó chẳng cho ai cuốn nào .....hihihi !!! Chỉ khổ mấy bạn đoàn viên ngơ ngác , bực bội và không hiểu gì cả ....

Xin lỗi mọi người vì mấy dòng vừa có thể làm các bác khó chịu . Nhưng cũng tin rằng có không ít các thành viên trong diễn đàn cảm giác như tôi . Nói ra để mong được sự cảm thông . Những gì tôi viết trong chủ đề này chỉ là những vấn đề tôi lượm nhặt trong quá trình tìm hiểu Dịch Học của bản thân mình . Cho nên chủ đề này sẽ giống như một cuốn tự truyện hay cuốn nhật kí của cá nhân . Cứ tuần hay hai tuần lại nêu ra một vấn đề và cách hiểu của riêng mình mà không có dự định tranh luận với ai cả .

Tuy vậy , cái học vốn như biển rộng không ai biết hết . Nên tôi cũng xin được lắng nghe ý kiến của mọi thành viên trên diễn đàn ... Xin cảm ơn !!!


VẤN ĐỀ THỨ NHẤT - BÍ QUYẾT XEM LẠC ĐƯỜNG TRONG KÌ MÔN ĐỘN GIÁP

- Tôi chọn vấn đề này nói trước vì nó liên quan đến cái vụ dự định đốt sách đã nói ở trên . Nhờ vào phát hiện bí mật của bí quyết này mà đống sách đó và tôi , đến lúc này vẫn chưa thể chia tay .

-Trong cuốn Kì Môn Độn Giáp Toàn Thư có 2 đoạn viết về vấn đề này .
+ Đoạn thứ nhất viết :
" Tam lộ mê thời , Thiên Canh tùy vu Mạnh , Trọng , Quý , lưỡng kì cảm ứng Nhật Thời , tả , hữu dĩ quy mưu . Lộ phùng tam xoa bất tri hà đạo cát , dĩ chính thời chiêm . Thiên Canh gia Mạnh tả đạo thông , gia Quý hữu đạo thông , gia trọng trung đạo thông . Thử hạ xuất quân đại tiệp , sở cầu tất toại . Nhược phùng lưỡng kì lộ . Nhật can cát tả đạo thông , thời chi hào cát giả hữu đạo thông dã . "

+ Đoạn thứ 2 :
" Hoàng Thạch Công viết : Xuất hành đạo phùng tam lộ , vị tri hà đạo thông ? Dĩ nguyệt tướng gia thời , Thiên Canh gia Mạnh tả đạo thông , gia Quý hữu đạo thông , gia trọng trung đạo thông . "

- Người đọc các sách như Độn Giáp Kì Môn , Thái Ất , Tử Vi , Phong thủy địa lí ... chắc ai cũng dễ nhận ra một số thuật ngữ trong 2 đoạn trích trên .

+ Thiên Canh là chỉ cán chồm sao bắc đẩu ( chòm sao bắc đẩu - Thất tinh bắc đẩu / Bắc đẩu thất tinh được chia làm 2 phần là Khôi và Canh cũng được gọi là Khôi và Cương )
+ Nhật - Thời : Ngày và giờ . Cả 2 có tên gọi bằng một tổ hợp gồm một thiên can và một địa chi ( Tất nhiên tháng và năm cũng vậy , nhưng ở đây chỉ nói về ngày và giờ ).
+ Mạnh , Trọng , Quý : là kết quả của việc phân loại 12 địa chi thành 3 nhóm ( Sự phân loại này dựa trên cơ sở rất khoa học , chặt chẽ . Có ý nghĩa rất quan trọng . Vấn đề này để nói dịp khác ) . Trong đó , Dần - Thân - Tỵ Hợi là Mạnh . Thìn - Tuất - Sửu - Mùi là Quý . Tý - Ngọ - Mão - Dậu là Trọng .


- Nội dưng của 2 đoạn trích ở trên giống nhau hoàn toàn về nội dung . Nó làm cho chúng ta đặt ra các vấn đề như :

+Khi gặp 3 con đường , thì trong thực tế là phải là có 4 con đường ?.Tức là không phải chúng ta đang đứng ở ngã 3 mà phải là ở ngã tư vì phải có con đường mà chúng ta vừa đi qua . Đối với vấn đề chọn đường bên phải hay chọn đường bên trái . Thì lúc đó chúng ta phải đang đứng ở ngã 3 ?
+ Tại sao khi cán chòm sao bắc đẩu chỉ vào tứ Mạnh tức cá phương Dần , Thân , Tỵ , Hợi ( Tức các phương đông bắc , tây nam , đông nam , đông bắc ) . Đi vào con đường trái . Khi chỉ vào tứ quý Thìn , Tuất , sửu , mùi nên đi đường bên phải . Khi chỉ vào tứ trong tý , ngọ , mão , dậu , nên đi vào con đường chính giữa ....

- Trong Kì Môn Độn Giáp có rất nhiều bí quyết kiểu như vậy . Thật khó để vượt qua ! Chính vì thế mà cái ý định đốt sách nảy sinh vì cho rằng những bí quyết này là vớ vẩn , ngộ nhận . Nghĩa là Kì Môn Độn Giáp cũng là thứ học thuyết bỏ đi . Thật may khi phát hiện giá trị thực của nó .
- Điều này , tôi cũng từng nêu ra trong cuộc tranh luận về với bác VinhL vào ngày 15/8/2017. Trong đó thì tôi đã giải thích đoạn sau :

" Nhược phùng lưỡng kì lộ , nhật can cát tả đạo thông , thời chi hào cát giả hữu đạo thông dã " .

Tức là nếu gặp 2 con đường mà không biết nên đi đường nào thì xem xét Thiên Can của ngày mà găp cát thần thì chọn đường bên trái . Nếu thấy Địa chi của giờ gặp cát thần thì nên chọn con đường bên phải .

Căn cứ xác định như sau :
- Không chỉ có trong Kì môn độn giáp mà ở nhiều môn khác . trong đó có tử bình , Phong thủy địa lí . Thiên Can được dùng với ngụ ý chỉ sự vận động của bầu trời . Địa chi để chỉ sự vận động của đất . Lấy mặt trời và mặt trăng làm biểu lí . Từ đó phân ra tả tuyền hay hữu tuyền trong thiên văn , lịch pháp . Trong Kì Môn Độn Giáp Đoạn trích trên thực chất là nói về sự vận động của Thiên Nguyệt Tướng và Địa Nguyệt Tướng .

- Nội dung nguyên văn như sau :
+ "Thiên nguyệt tướng - Vị trí của mặt trời trong 12 tháng : Chính nguyệt Hợi , nhị nguyệt tuất , ....thập nhị nguyệt tý "
+ " Địa nguyệt tướng - Vị trí của mặt trăng trong 12 tháng : chính nguyệt dần , nhị nguyệt mão ....thập nhị nguyệt sửu "

- Như vậy ngụ ý trong bí quyết chọn đường khi phải lựa chọn đường bên trái và đường bên phải là ở chỗ Thiên can của ngày gặp cát thần , thì nên đi theo hướng vận động của trời tức vận động về hướng trái ( Tả đạo thông ) . Nếu địa chi của giờ có cát thần gia nhập nên chọn vận động theo hướng của đất về bên phải ( hữu đạo thông ) .

- Điều cuối cùng là ; cái bí quyết này có linh nghiệm không . Mời các bác tự kiểm chứng ....hihihi.

Thanked by 4 Members:

#2 TieuDaoDu

    Kiền viên

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1247 Bài viết:
  • 2539 thanks

Gửi vào 17/12/2017 - 00:01


Thầy bà nào mà hành nghề xem bói, sống bằng nghề bói.
Cần đọc bài này.
Dạng này là chiêu "mì ăn liền"
Chém trúng lấy tiền.

Hôm nay, ngày hoàng đạo hoặc lý do gì đó mà xuất hiện bài viết ntn
Rất hiếm, hiếm lắm.




#3 BanChatDichHoc

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 102 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 25/12/2017 - 16:03

VẤN ĐỀ THỨ 2 : THỦY BỘ LUẬN SỐ - PHONG THỦY ĐỊA VẬN


- Vừa rồi đi nhổ cỏ , thắp hương mộ phần tiền nhân gặp một thầy địa lí đang chọn đất tốt để người ta cải táng mộ phần tổ tiên . Bỗng nhiên nhớ lại chuyện xưa ...!!!
- Hồi đó tôi còn nhỏ , đi chăn bò cùng các anh trong xóm . Lúc đó cũng là mùa này - Trời rét , hanh hao , khô ráo , rất thuận tiện cho việc cải táng mộ phần . Cũng có thầy địa lí của nhà ai đó thuê đến xem đất . Nhưng lúc đó họ không mặc vét , mang cặp như các thầy địa lí bây giờ , mà thường thì họ mặc quần áo nâu hoặc quần áo xám được may theo lối Nhà Phật , tay cầm La Kinh . Tất nhiên , điều đó không gây ấn tượng nhiều cho mình bằng việc làm của họ . </p>

- Chẳng là thế này : Sau khi chọn xong nơi sẽ làm mộ mới , ông thầy đi ra đầu mương dẫn nước , rồi đi đến phía cuối con mương . Bọn trẻ trâu chúng tôi cùng gia chủ lẽo đẽo theo sau . Tôi tò mò lắm nhưng không giám hỏi ... biết đâu ngài ấy là phù thủy , làm cho một phù thủy nổi giận sẽ gặp âm binh báo thù có phen . hihihi ....( Thú thực hồi nhỏ tôi được nghe rất nhiều về quyền năng của các thầy phù thủy ) . Đến cuối con muơng thầy địa lí dừng lại nói :

" Cả thảy 74 bước . Một bước 3 năm ! Vậy sau cải táng vận phát của mộ là 222 năm ."

- Cái câu nói này , chính là cái thôi thúc tôi đi tìm hiểu về Phong Thủy Địa Lí . Ban đầu chỉ là đem câu hỏi đó về hỏi người thân .

Câu hỏi : vì sao nhà địa lí kia lại nói như vây ? Căn cứ vào đâu để khẳng định điều đó ? Nó có hiệu nhiệm không hay chỉ là lời nói liều để kiếm cơm ?

- Lớn lên khi các mối quan hệ xã hội được mở rộng . Những câu hỏi trên lai được đem ra hỏi bạn bè , đồng nghiệp, .... Kết quả là không câu trả lời nào mình ưng ý cả . Vì thế con đường cuối cùng chính là tìm đến sách . Mãi đến ngày 14 - 04 -2004 , có dịp vào nội thành . Tìm được cuốn Địa Lí Toàn Thư của soạn giả Lưu Bá Ôn khi lang thang trên đường Láng Hạ . Cuối cùng cũng phát hiện ra những lời nói của thầy địa lý ngày nào chỉ là nói lại mấy lời của sách ,thầy địa lí này chỉ vận dụng máy móc những gì sách viết mà không thật hiểu gì về nội dung, ý nghĩa của nó vậy .

- Cụ thể trong đó có nhiều đoạn nói về địa vận - thời gian vương suy của địa mạch . Nhưng xin trích ra 2 đoạn mà ít người hiểu về nó hơn cả .

+ Đoạn 1 ở phần THỦY BỘ LUẬN SỐ có viết như sau :

" Ba năm một bước là căn cứ vào đâu để luận ? Một bước ba năm , là căn cứ vào lí số gì ? Nếu khí tức của vận may kèm theo thân thể , thì trăm mạch đều vinh hoa quý hiển , nếu không có vận may kèm theo , thì trăm mạch sẽ rối , vạn sự bất như ý "

+ Đoạn 2 ở phần bàn về huỳnh tuyến có viết :

"Tân An Phả Chi viết : Nhâm sơn Bính hướng Giáp môn khai , ngũ bách niên trung sản đại tài ."

Đoạn này được sách giải thích như sau :
" Tức là tọa Nhâm hướng Bính , thủy đến từ phương Giáp giàu sang suốt 500 năm . Vì dương Nhâm gặp Càn , giáp cũng nạp Càn nên giàu sang . Từ Nhâm tới Giáp cách 5 vị nên nói suốt 500 năm ."

Vậy ý nghĩa thật sự của 2 đoạn trích ở trên là gì ?

* Đoạn trích thứ nhất :
Cần chú ý mấy chữ sau : " Ba năm một bước ...Một bước ba năm ..."

-Ở đây chúng ta cần hiểu chữ Năm ở đoạn trích trên không phải ám chỉ 1 năm . 2 năm , 3 năm , 4 năm , ...n năm . Theo nghĩa thời gian kéo dài vô tận từ quá khứ tới hiện tại sang tương lai .

-Chữ năm ở đây là nói năm tý , năm sửu , năm dần , năm mão , ....., năm hợi rồi lại năm tý . Vậy là thời gian tuy vô tận nhưng theo cổ nhân chỉ có 12 loại . Nghĩa là nó có những ảnh hưởng giống nhau theo chu kì . ( Những ai tìm hiểu ngũ vận lục khí thì vấn đề này đều thấy rõ như ban ngày cả )

- Sở dĩ nhà địa lí kia dùng bước chân của mình đo độ dài dòng nước chảy để phán đoán thời gian vượng của mộ phần là do không hiểu câu : " Ba năm một bước ....Một bước ba năm ...". Nguyên văn của nó phải là : " Nhất bộ tam niên ....Tam niên nhất bộ ..."
- Chữ BỘ này bị nhà địa lí hiểu sai thành bước chân . . Bộ ở đây là bộ khí . Tức là sự biến đổi của khí .

Nói &quot; Nhất bộ tam niên ...Tam niên nhất bộ ...

+ nếu năm đó là năm Tý thì nó sẽ hợp với năm Thìn và năm Thân thành một bộ gọi là tam hợp .
+---------------------------Sửu ----------------------------Tỵ-------------- Dậu -------------------------------------- .
+-------------------------- Dần ---------------------------- Ngọ ---------- Tuất --------------------------------------.
+------------------------- Hợi------------------------------Mão -------------Mùi -------------------------------------- .


Trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn có đoạn chỉ rõ nguồn gốc của Tam Hợp trên như sau

Nhật đi một vòng thiên khí bắt đầu từ khắc thứ nhất , Nhật đi 2 vòng thiên khí bắt đầu từ khắc thứ 26 . Nhật đi 3 vòng thiên khí bắt đầu từ khắc thứ 51 . Nhật đi 4 vòng thiên khí bắt đầu từ khắc thứ 76 . Nhật đi 5 vòng thiên khí bắt đầu từ khắc thứ nhất
Vậy nên về những năm Dần , Ngọ , Tuất khí hội giống nhau . Những năm Hợi , Mão , mùi khí hội giống nhau . Những năm Tỵ , Dậu , Sửu khí hội giống nhau . Những năm Thân , Tý , Thìn khí hội giống nhau .

Đoạn trên cho chúng ta thấy cơ sở thiên văn của câu: nhất bộ tam niên ...tam niên nhất bộ ... . Về mặt lịch pháp thể hiện ở Tứ Phân Lịch ; tức dùng chu kì 1 năm gồm 365, 25 ngày để đo các bộ khí . Lịch này gần giống với Tây lịch chúng ta đang sử dụng .

Quan điểm này được vận rất phổ biến trong Phong Thủy Địa Lí . Nhưng cách dùng nó rất hay , rất khoa học và hợp lí chứ không phải như cách nói của nhà địa lí trong câu chuyện của tôi . Đọc kĩ đoạn 1 chắc các vị cũng thấy rằng ; người ta cũng chỉ ra việc áp dụng câu; Ba năm một bước , một bước 3 năm bằng cách đo thủy lưu bằng bước chân là sai lầm .

Sửa bởi BanChatDichHoc: 25/12/2017 - 16:21


Thanked by 3 Members:

#4 Lamington

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 118 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 25/12/2017 - 20:03

Đặt gạch nghe tiếp, 10 ngày mới ra một chuyện thế này thì lâu quá, kiến nghị bác tăng tốc lên chút nữa.

#5 BanChatDichHoc

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 102 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 03/01/2018 - 09:46

VẤN ĐỀ THỨ 3
NGUYÊN LÍ XÁC ĐỊNH VÒNG TRƯỜNG SINH CỦA ÂM NGŨ HÀNH VÀ DƯƠNG NGŨ HÀNH
CUỘC TRAO ĐỔI CÙNG HANHCO

Ngày 18 tháng 9 năm 2017 . Ở phần Tử Vi bạn nick hanhcot lập chủ đề : "Cách an vòng trường sinh thế nào cho đúng " và đặt vấn đề như sau :

" Em thấy vòng tràng sinh thiên can hiện được an rất khác nhau ( kéo theo an vòng tràng sinh ngũ hành  nạp âm , cục ,... ).
Cách an trong Tử Vi như sau :
- Giáp mộc ( + dương ) sinh ở Hợi mà tử ở Ngọ
- Ất ( âm ) mộc sinh ở Ngọ mà tử ở Hợi
- Bính mậu ( dương ) sinh ở Dần mà tử ở Dậu
- Đinh kỉ sinh ở Dậu mà tử ở Dần
- Canh ( dương) kim sinh ở Tỵ mag tử ở Tý
- Tân ( âm) kim sinh ở Tý mà tử ở Tỵ
- Nhâm ( dương ) thủy sinh ở Thân mà tử ở Mão
- Quý ( âm ) thủy sinh ở Mão mà tử ở Thân
( Trích bản dịch Thập Bát Phi Tinh thiên Tử Vi Đẩu Số do Quách Ngọc Bội dịch )
Nguyên tắc này chỉ đảm bảo được nguyên lí dương tử âm sinh và âm tử dương sinh và ngũ hành tương sinh thuần túy , nhưng lại không đảm bảo được dương cực âm sinh , âm cực dương sinh , chỉ mộc kim thì thỏa còn lại không .

Ví dụ : Nhâm ( dương ) thủy sinh ở Thân mà tử ở Mão . Nhâm là dương thủy tại sao lại sinh từ Dương Kim

Vấn đề này tôi đã trao đổi qua với bạn hanhcot trong hộp thư cá nhân , nhưng ở chủ đề khác của một người khác mà không phải chủ đề mà hanhcot đặt ra và tôi trích nguyên văn như trên . Vì thế hôm nay xin nói lại cho toàn diện vậy .

- Trước hết , đoạn trích của bạn Hanhcot nêu ở đây chỉ là sự thống kê các vị trí trong vòng tràng sinh của ân ngũ hành và dương ngũ hành mà không phải là nguyên lí xác định các vị trí trong vòng trường sinh của âm , dương ngũ hành . Vì vậy việc lấy vòng tràng sinh của âm ngũ hành và dương ngũ hành làm cơ sở giải thích nguyên lí âm cực dương sinh , dương cực âm sinh hay âm sinh dương tử là không hợp lí .

- Như đã như đã trao đổi cùng bạn qua hộp thư nguyên lí xác định các vị trí của vòng trường sinh của âm,  dương ngũ hành là lấy Hà Đồ và Lạc Thư làm cơ sở . Trong đó , Hà Đồ là bản thể , Lạc thư là vận dụng .

* Vì sao nói Hà Đồ là bản thể ?

- Bởi vì căn cứ vào Hà Đồ để xác định âm dương của ngũ hành , phương hóa ngũ hành hóa khí và xu hướng vận động của âm và dương . Cụ thể là tại Hà Đồ :

+ Bắc là phương hóa khí của thủy . 1/6 tại bắc phương trong đó 1 là dương 6 là âm .
+Nam là phương hóa khí của hỏa . 2/7 tại nam phương trong đó 7 là dương , 2 là âm .
+ Đông là phương hóa khí của mộc . 3/8 tại đông phương trong đó 3 là dương , 8 là âm .
+ Tây là phương hóa khí của kim . 4/9 tại Tây phương trong đó 9 là dương , 4 là âm .
+ Giữa tâm là phương hóa khí của mộc . 5/10 Tại trung tâm trong đó 5 là dương , 10 là âm .

-Hà Đồ phân chia số lẻ , chẵn ( Lẻ dương , chẫn âm . Cũng được gọi là Kì số và Ngẫu số ) . Dương thuận từ nhỏ đến lớn , âm nghịch từ lớn đến nhỏ . Vậy liên kết các số lẻ ta có 1,3,5,7,9 dùng 5 làm cực xoay ta thấy dương số đi theo hướng từ bắc sang đông qua nam về tây . Các số chắn 10 ,8,6, 4, 2 lấy 10 làm trục xoay ta thấy âm số đi theo hướng đông sang bắc qua tây về nam . Đây cũng là hướng an thứ tự các vị trí trong vòng tràng sinh của dương ngũ hành và âm ngũ hành .

* Vì sao nói Lạc Thư là vận dụng ?

Bởi vì tại Lạc thư có 12 Địa Chi kí cung , là nơi ngũ hành vận động , hóa khí . Nói cách khác là nơi các vị trí của vòng tràng sinh được xác định .

- 12 Địa chi kí cung tại Lạc thư như sau :
+ Tý tại cung 1 chính bắc
+ Sửu dần tại cung 8 đông bắc
+ Mão tại cung 3 chính đông
+ Thìn tỵ tại cung 4 đông nam
+ Ngọ tại cung 9 chính nam
+ Mùi thân tại cung 2 tây nam
+ Dậu tại cung 7 chính tây
+ Tuất hợi tại cung 6 tây bắc

- Thứ tự vòng trường sinh là : Trường sinh - Mộc dục - Quan đới - Lâm quan - Đế vượng - Suy - Bệnh - Tử - Mộ - Tuyệt - Thai Dưỡng .

- Đây là thứ tự chúng ta thường gặp . Ai cũng nghĩ nó được cổ nhân xác lập bắt đầu từ trường sinh . Nhưng thực tế vòng trường sinh được xác định từ đế vượng . Vì sao lại như vậy ? Bời do nhận thức của người xưa không dựa vào các công cụ đo phức tạp mà là dựa vào cảm nhận của chính bản thân . Do vậy nơi ngũ hành hóa khí mạnh nhất chính là nơi mà con người cảm nhận rõ nhất về nó . Giống như việc cảm nhận sự nóng bức không thời điểm nào rõ hơn mùa hạ.

- Cho nên , căn cứ vào Lạc Thư vòng trường sinh được xác định theo thứ tự : Đế vượng , Suy , Bệnh , Tử , Mộ , tuyệt , Thai , Dưỡng , Trường sinh , Mộc dục , Quan đới , Lâm quan . Cụ Thể như sau :

+ Cung 3 chính đông . số 3 là lẻ thuộc dương ,là phương; hóa khí của dương mộc , hướng vận động thuận theo các địa chi . Tại đây có Mão . Vậy dương mộc vượng tại Mão , Suy tại thìn , bệnh tại tỵ , tử tại ngọ , mộ tại mùi , tuyệt tại thân .....
+ Cung 8 đông bác ,số 8 là số chẵn thuộc âm , là phương hóa khí của âm mộc , hướng vận động nghịch theo thứ tự của địa chi . Tại đây có Dần . Vậy âm mộc vượng tại dần , suy tại sửu , bệnh tại tý , tử tại hợi , ...( Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta hiểu được vì sao dương mộc lại vượng ở mão mà không phải ở dần và ngược lại )

Sửa bởi BanChatDichHoc: 03/01/2018 - 09:59


Thanked by 4 Members:

#6 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 853 Bài viết:
  • 1303 thanks

Gửi vào 03/01/2018 - 11:17

Tôi cho là dùng 12 địa chi kí cung vào Lạc Thư [I], tức nói nôm na là nạp 12 địa chi vào Lạc Thư còn có vấn đề cần xét lại.

Cụ thể là việc phân bố 12 địa chi vào không gian là dựa trên Hà Đồ, không phải dựa trên Lạc Thư. Ví dụ, Hà Đồ phía Bắc 1-6 là thuỷ, ứng với 3 chi Hợi Tý Sửu, vì vậy Hợi Tý Sửu hội hoá thuỷ cục, Sửu là dư khí của thuỷ. Phía Đông Hà Đồ 3-8 là mộc, ứng với 3 chi Dần Mão Thìn, vì vậy Dần Mão Thìn hội hoá mộc cục, Thìn là dư khí của mộc. Tương tự cho các địa chi còn lại. Tức là hệ thống địa chi được phân bố dựa theo Hà Đồ, với trọng điểm là tứ chính.

Lạc Thư là hệ thống bao gồm cả tứ chính và tứ ngung. Do đó ngoài ngũ hành của tứ chính - Bắc thuỷ, Nam hoả, Đông mộc, Tây kim - còn phát sinh thêm việc định ngũ hành cho tứ ngung, trung tâm luôn là thổ, không bàn đến. Từ trước đến giờ việc định ngũ hành của tứ chính và tứ ngung của Lạc Thư thường thống nhất là định theo bát quái hậu thiên, cũng có sách nói là bát quái hậu thiên phát sinh từ Lạc Thư.

Cụ thể, 1 thuỷ, 2 thổ, 3 mộc, 4 mộc, 5 thổ, 6 kim, 7 kim, 8 thổ, 9 hoả. [II]

Nếu so sánh ngũ hành của hệ thống [I] và ngũ hành của hệ thống [II] là có sự không thống nhất, chủ yếu là ở tứ ngung.

Ví dụ, số 4 theo hệ thống [I] là hành hoả, nhưng theo hệ thống [II] là hành mộc. Số 6, theo hệ thống [I] là hành thuỷ, theo hệ thống [II] là hành kim.

Giữa 2 hệ thống [I], [II] tôi vẫn tin tưởng vào sự phân bố ngũ hành ở [II] hơn, bởi vì hệ thống [II] chính là cơ sở của đường Lượng Thiên Xích và Cửu Tinh trong Huyền Không Phi Tinh. Và bộ môn này từ trước đến nay đã chứng minh giá trị và chỗ đứng của mình trong hệ thống huyền học, không cần phải bàn cãi.

Vì vậy tôi cho là việc nạp 12 địa chi vào Lạc Thư để định vị trí đế vượng cho vòng trường sinh chỉ là 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Sửa bởi ThienKhanh: 03/01/2018 - 11:23


Thanked by 2 Members:

#7 BanChatDichHoc

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 102 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 06/01/2018 - 16:30

VẤN ĐỀ THỨ 3 :
NGUYÊN LÍ XÁC ĐỊNH VÒNG TRƯỜNG SINH CUAE ÂM NGŨ HÀNH VÀ DƯƠNG NGŨ HÀNH
CUỘC TRAO ĐỔI CÙNG HANHCOT
(Phần 2)

Ở phần trước đang nói đến chỗ :

+ Cung 3 chính đông , 3 là số lẻ thuộc dương là phương hóa khí của dương mộc , hướng vận động thuận theo địa chi . Tại đây có Mão . Vậy dương mộc Vượng tại Mão , Suy tại Thìn , Bệnh tại Tỵ , Tử tại Ngọ , Mộ tại Mùi , Tuyệt tại Thân , Thai tại Dậu , Dưỡng tại Tuất , Sinh tại Hợi , Mộc dục tại Tý , Đới tại Sửu , Quan tại Dần .

+ Cung 8 đông bắc , 8 là số chẵn thuộc âm là phương hóa khí của âm mộc , hướng vận động nghịch theo địa chi . Tại đây có Dần . Vậy âm mộc Vượng tại Dần , Suy tại sửu , Bệnh tại Tý , Tử tại Hợi , Mộ tại Tuất , Tuyệt tại Dậu , Thai tại Thân , Dưỡng tại Mùi , Sinh tại Ngọ , Mộc dục tại Tỵ , Đới tại thìn , Quan tại Mão .
( Đây là căn cứ chỉ ra vì sao dương mộc không Vượng tại Dần , âm mộc không vượng tại Mão mà là ngược lại )

+ Cung 4 tại phương đông nam . 4 là số chẵn thuộc âm , là phương há khí của âm hỏa , hướng vận động nghịch theo địa chi . Tại đây có Tỵ . Vậy âm hỏa Vượng tại Tỵ , Suy tại Thìn , Bệnh tại Mão , Tử tại Dần , Mộ tại Sửu , Tuyệt tại Tý , Thai tại Hợi , Dưỡng tại Tuất , Sinh tại Dậu , Mộc dục tại Thân , Đới tại Mùi , Quan tại Ngọ .

+ Cung 9 tại phương chính nam . 9 là số lẻ thuộc dương , là phương hóa khí của dương hỏa , hướng vận động thuận theo địa chi . Tại đây có Ngọ . Vậy dương hỏa Vượng tại Ngọ , Suy tại Mùi , Bệnh Tại Thân , Tử tại Dậu , Mộ tại Tuất , Tuyệt tại Hợi , Thai tại Tý , Dưỡng tại Sửu , Sinh tại Dần , Mộc dục tại Mão , Đới tại Thìn , Quan tại Tỵ .

+ Cung 2 ở tây nam . 2 là số chẵn thuộc âm là phương hóa khí của âm kim , hướng vận động nghịch theo thứ tự địa chi . Tại đây có Thân . Vậy âm kim Vượng tại Thân , Suy tại Mùi , Bệnh tại Ngọ , Tử tại Tỵ , Mộ tại Thìn , Tuyệt tại Mão , Thai tại Dần , Dưỡng tại Sửu , Sinh tại Tý , Mộc dục tại Hợi , Đới tại Tuất , Quan tại Dậu .

+Cung 7 ở chính tây . 7 là số lẻ thuộc dương , là phương hóa khí của dương kim , hướng vận động thuận theo địa chi . Tại đây có Dậu . Vậy dương kim Vượng tai Dậu , Suy tại Tuất , Bệnh tại Hợi , Tử tại Tý , Mộ tại Sửu ,Tuyệt tại Dần , Thai tại Mão , Dưỡng tại Thìn , Sinh tại Tỵ , Mộc dục tại Ngọ , Đới tại Mùi , Quan tại Dần .
( Đây là căn cứ giải thích vì sao Dương kim vượng tại Dậu mà âm kim lại vượng tại Thân )

+ Cung 6 ở tây bắc , 6 là số chẵn thuộc âm , là phương hóa khí của âm thủy . hướng vận động nghịch theo địa chi . Tại đây có Hợi . Vậy âm thủy Vượng tại Hợi , Suy tại Tuất , Bệnh tại Dậu , Tử tại Thân , Mộ tại Mùi , Tuyệt tai Ngọ , Thai tại Tỵ , Dưỡng tại Thìn , Sinh tại Mão , Mộc dục tại Dần , Đới tại Sửu , Quan tại Tý .

+ Cung 1 ở chính bắc , 1 là số lẻ thuộc dương , là phương hóa khí của dương thủy , hướng vận động thuận theo địa chi . Tại đây có Tý . Vậy dương thủy Vượng tại Tý , Suy tại Sửu , Bệnh tại Dần , Tử tại Mão , Mộ tại Thìn , Tuyệt tại Tỵ , Thai tại Ngọ , Dưỡng tại Mùi , Sinh tại Thân , Mộc dục tại Dậu , Đới tại Tuất , Quan tại Hợi .

Tại sao không nhắc đến : THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI vậy ?  cá vị trí trong vòng trường sinh của nó như thế nào ?

- Trước hết chúng ta trở lại xem xét bản thể của Thìn - Tuất - Sửu Mùi tại Hà Đồ :
+ Tại Hà Đồ : Trung tâm là phương hóa khí của thổ . Trong đó 5 là số lẻ thuộc dương thổ , 10 là số chẵn thuộc âm thổ . Đều là cực xoay chuyển của âm dương . Còn gọi là trung cực
+ Dụng thổ trong các môn thuật dựa vào việc em Thiên Can và Địa Chi ghép với 5 và 10 .

Đối với Thiên Can thì Mậu được ghép với 5 và Kỷ được ghép với 10 . Cho nên trong Địa Lý Toàn Thư của soạn giả Lưu Bá Ôn có ghi :

" Hà Đồ nói : Thiên nhất sinh nhâm thủy , địa lục sinh quý thủy ,....., Thiên ngũ sinh mậu thổ , Địa thập sinh Kỷ thổ "
( Tất nhiên đây chỉ là cách vận dụng của địa lý phong thủy )

Đối với Địa Chi : Thìn - Tuất ghép với 5 , Sửu - Mùi ghép với 10 . Nghĩa là thìn , tuất thuộc dương thổ , sửu , mùi thuộc âm thổ .

Về cơ bản có 2 quan điểm sau:

* Quan điểm của các nhà lịch pháp : Các nhà tiết khí đưa thìn về đông phương hóa khí của mộc, đưa Tuất về tây phương hóa khí của kim , đưa Sửu về bắc, phương hóa khí của thủy , đưa Mùi về nam phương hóa khí của hỏa . Chính vì vậy các nhà tiết khí thì Thổ Vượng ở tháng tứ quý . Tức là 18 ngày cuối cùng của các mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông . Không thấy xác định các vị trí của nó trong vòng trường sinh .

( rất dễ tìm thấy quan điểm này trong các sách về y học phương đông )

* Quan điểm của các nhà Độn Giáp : Mậu là Thiên Môn - Kỷ là Địa Hộ . Mậu Kỉ đều là thiên can thuộc dương ( Dương âm ở đây là để phân biệt trời đất . Thiên can thuộc trời nên dương , địa chi thuộc đất nên âm ) . Mậu Kỷ đều thuộc dương thổ .

- Tại Lạc Thư : Thiên Môn Mậu ở cung số 4 Đông nam Thuộc phương hóa khí của hỏa , Mậu là thiên can thuộc dương nên lấy vòng trường sinh của dương hỏa của địa chi làm ứng hợp . Vì thế sinh tại Dần , vượng tại Ngọ , mộ tại Tuất .

- Tại Lạc thư : Địa Hộ Kỷ ở cung 6 tây bắc , thuộc phương hóa khí của thủy . Kỷ là thiên can nên thuộc dương , nên lấy vòng trường sinh của dương thủy làm ứng hợp . Vì thế mà sinh tại Thân , vượng tại Tý , tử tại Thìn .

* Hiện nay tùy thuộc vào môn thuật mà cả 2 quan điểm trên đều được vận dụng ở những mức độ nhất định .

- Chẳng hạn , Tử Bình vận dụng quan điểm đưa Thìn, Tuất , Sửu , Mùi vào cá phương tạo thành các tam hội cục Mộc -Thủy - Hỏa Kim , Tương tự phép Lục Hào lấy quẻ theo ngày tháng cũng như vậy . Chính vì thế Tháng 1 và tháng 12 khởi tại cung Cấn ( Tức cung 8 ) . Tháng 3 tháng 4 khởi tại cung Tốn ( Tức cung 4 ) ,...
- Tử Vi thì lấy vượng suy của thổ theo thiên môn . Lục Hào , Tử bình lại lấy vượng suy của thổ theo địa hộ ,....

Sửa bởi BanChatDichHoc: 06/01/2018 - 16:44


Thanked by 3 Members:

#8 BanChatDichHoc

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 102 Bài viết:
  • 91 thanks

Gửi vào 13/01/2018 - 09:43

VẤN ĐỀ THỨ 4
THẬP NHỊ ĐỊA CHI - THIÊN VĂN - ỨNG DỤNG
( Phần 1 : Nguyên lí lập vận trong Tử Bình - Tứ Trụ )

- Cách đây không lâu , tức vào ngày 20 / 09 / 2017 . Trên diễn đàn HKLS mục Tử Bình . Bác VinhL lập chủ đề " Nguồn gốc bí mật của Tử Bình " . Mở đầu cho chủ đề bác VinhL nêu ra 3 nghi vấn sau :( nguyên văn )

" 1. Từ nguyên lí nào mà Tử Bình dùng trụ nhật làm chính ?
2. Từ nguyên lí nào mà Tử Bình dùng khoảng cách từ ngày sinh đến ngày lập tiết để định vận ?
3. Từ nguyên lí nào mà từ ngày sinh đến ngày tiết khí tính là 3 ngày là 1 năm , 1 ngày thành 4 tháng "

- Vấn đề này bác VinhL có đưa ra quan điểm . Nhưng tôi cho rằng không hợp lí . Tôi cũng đã nêu quan điểm của mình , nhưng có vẻ không được sự ủng hộ . Nay nêu lại ở đây để cho mọi người đánh giá ....( các bạn có thể tham khảo quan điểm của bác VinhL theo địa chỉ tôi đã nêu trên .)

- Chương 8 : Tuế vận của tứ trụ / Phần 1 : Sắp xếp đại vận / tiểu mục 2 : Lấy số đại vận : ( Sách : Dự đoán theo tứ trụ của tác giả Thiệu Vĩ Hoa - Trần Viên . nxb Văn hóa thông tin năm 2008 ) có đoạn viết như sau :

" ... Phương pháp lấy số đại vận là : cứ 3 ngày chập lại thành 1 tuổi để tính tức một ngày tương tương với 4 tháng , hai ngày tương đương với 8 tháng . Khi tính ,...Ví dụ tổng số ngày để tính là 19 ngày , sẽ tính là 6 tuổi 4 tháng ( 19 : 3 = 6 dư 1 ngày = 4 tháng ) , hoặc chỉ tính tròn 6 tuổi ...."

* Để giải quyết những nghi vấn nêu trên của bác VinhL trước hết cần thấy được nguồn gốc thiên văn của Tử Bình - Tứ Trụ .

- Thiên văn học cổ chia vòng tròn Hoàng Đạo ( Quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời ) Thành 12 cung Triền Thứ . Cũng được gọi là 12 Thiên Xá khi ghép vào nhị thập bát tú , bao gồm các cung sau :
Huyền hiêu - Tưu tý - giáng lâu - Đại Lương - Thực trầm - Thuần thủ - Thuần hỏa - Thuần Vỹ - Thọ Tinh - Đại Hỏa - Chiết Kỷ . Sự phân chia này chính là cơ sở để tạo ta 12 tiết lệnh khi mặt trời di chuyển đến các cung đó . ( Mỗi tiết lệnh gồm 1 tiết là 1 trung khí ) .

- Trong các môn thuật Vòng tròn hoàng đạo thường được gọi là vòng Chu Thiên ( Một vòng quanh bầu trời ) . Vòng tròn này gồm 360 độ . Các cung thứ của thiên văn học được thay bằng các tên gọi khác nhau tùy từng môn thuật .

+ Chẳng hạn như Lục Nhâm . Thuật này đồng nhất 12 cung thứ thành 12 thiên tướng khí của một năm . Cụ thể là : Thần Hậu , Đăng minh , Hà khôi , Tòng khôi , Truyền tống , Tiểu cát , Thắng quang , Thái Ất , Thiên cương , Thái xung , Công tào , Đại Cát , thần hậu .

+ Tử Bình - Tứ Trụ : Đồng nhất 12 triền thứ thành tên gọi của các địa chi . Nhưng khác với Lục nhâm Lấy sự vận hành của Thái Dương qua các cung Triền thứ làm Thiên Nguyệt Tướng khí . Tử Bình - Tứ trụ lại lấy Thái âm vận động qua các cung Triền thứ Làm tiết lệnh . Tức lấy Địa Nguyệt Tướng khí làm lệnh . Chính vì mà Thiên Nguyệt Tướng của Lục Nhâm và Địa Nguyệt Tướng lệnh của Tử Bình - Tứ Trụ vận động ngược chiều nhau , một thuận một nghịch theo thứ tự của 12 địa chi .

- Vì vòng Chu Thiên có 360 độ , lại được chia thành 12 tiết lệnh . Vậy nên mỗi tiết lệnh chiếm 30 độ . Tương đương với sự vận động trung bình của mặt trăng trong 1 tháng tức 30 ngày . Như vậy có thể thấy ý nghĩa của 12 đại chi không phải là ở tên gọi để phân biệt ngày , giờ , tháng , năm mà còn để người ta thấy được vị trí của mặt trăng , mặt trời , quả đất đang ở phương nào trên Hoàng Đạo .

* Tử Bình - Tứ Trụ vận dụng 12 cung Triền Thứ - 12 tiết lệnh như thế nào ?

- Đặc Điểm nổi bật nhất của Tử Bình - Tứ Trụ là lấy Thiên Can làm Thần để phản ánh sự biến đổi cũng như cát hung của của Tiết Lệnh . Thiên can có 10 nên Thần cũng có 10 . Cụ thể là : Tỷ kiên - Kiếp tài - Thực thần - Thương quan - Thiên ấn - Chính ấn - Thiên quan , Thất sát , thiên tài - chính tài . Nghĩa là 30 ngày của mỗi tiết lệnh được chia đều cho 10 thần . Vậy mỗi thần quản 3 ngày .( 30 : 10 = 3 )

- Đến đây chắc mọi người đã hiểu tại sau Tử Bình - Tứ Trụ lại lấy khoảng cách từ ngày sinh đến ngày lập tiết chia 3 để vào vận .

Thanked by 2 Members:





Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |