Jump to content

Advertisements




Ngũ Ngôn Độc Bộ - Thiên Khánh bình chú


44 replies to this topic

#1 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 25/10/2016 - 23:42

Tôi nghiên cứu một nội dung đến môn hạm, nhìn thấy cánh cửa, mà không bước vào được. Chỉ dùng bản năng mà luận, không thể thành lập hệ thống lý luận hoàn chỉnh cho nội dung đó. Mãi không nhập môn được nên tôi tạm dừng lại không xem số cũng không nghiên cứu, cầu một chút duyên để đi tiếp. Thường nói thiếu cái gì thì cho đi cái đó, nên hôm nay tôi bình chú Ngũ Ngôn Độc Bộ, xem như trợ chút duyên cho người khác, cũng là giúp cho bản thân mình, tìm kiếm một điểm linh quang để nhập môn nội dung đó.

Tôi chỉ có một yêu cầu duy nhất là quý vị đọc rồi, có chỗ nào sử dụng được thì sử dụng, không sử dụng được thì thôi. Nhưng xin vui lòng đừng đem những lý luận tôi trình bày ra đây xào lại rồi đăng là của mình. Như cách đây không lâu tôi có đăng một bài nhỏ trong mục Coi Tử Bình - Tứ Trụ về dụng thần biến hoá. Đại khái tôi nói dụng hỷ chỉ là đường hướng cơ bản của bát tự. Ví dụ, nói dụng hoả thì nó chỉ mới là định hướng. Còn muốn xác định chính xác dụng thần thì phải xem hoả đó là hoả gì, là Bính hay Đinh hay Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất và đôi khi là Dần. Đối với một số bát tự đặc biệt thì đường hướng cơ bản nó thay đổi theo hành vận.

Sau đó 1, 2 ngày thì ngay lập tức có người xào lại, họ chỉ đổi từ việc gọi tên cái "sự vật" đó là "đường hướng cơ bản" thành một thuật ngữ khác. Tức là nội dung lí luận thì y chang, chỉ có câu chữ là khác. Sau đó đăng vào mục Học Thuật Tử Bình. Kiến thức đó không mới mẻ gì, đối với tôi cũng không quan trọng, nhưng việc hành xử kém văn hoá như vậy làm tôi rất bực mình vì tôi cũng chỉ là người bình thường thôi chứ không phải thánh nhân. Hơn nữa việc như vậy tôi gặp vài lần, từ vài cá nhân khác nhau.

Cho nên đối với việc bình chú Ngũ Ngôn Độc Bộ, tôi chỉ xin một câu: Kính xin tự trọng.

----------

NGŨ NGÔN ĐỘC BỘ (nguyên văn tiếng Hán)

五言独步
有病方为贵,无伤不是奇;格中如去病,财禄喜相随。
寅卯多金五,贫富高低走。南地怕逢申,北方休见西。
建禄生提月,财官喜透天,不宜身再旺,惟喜茂财源。
土厚多逢火,归金旺遇秋,冬天水木泛,名利总虚浮。
甲乙生居卯,金多运吉祥;不宜重见煞,火地得衣粮。
火忌西方西,金沉怕水乡;木神休见午,水到卯宫伤。
土宿休行亥,临官在己富;南方根有旺。西北莫相逢。
明日朝阳格,无根月建辰,西方还有贵,干怕火来侵。
乙木生居西,莫逢全已丑;富贵坎离宫,贫穷坤民守。
有煞只论煞,无煞方论用。只要去煞星,不怕提纲重。
甲乙若逢申,煞印暗相生。木旺金逢旺,冠袍必挂身。
丙火怕重逢,北方返有功;虽然宜见水,犹恐对提冲。
八月官星旺,甲逢秋气深,财官兼有助,名利自然亨。
血直生春月,庚辛干上逢;南离推富贵,坎地却犹凶。
甲乙生三月,庚辛戌来存,丑宫壬癸位,何虑见无根。
木茂宜金火,身衰鬼作关,时分西与北,轻重辨东南。
时上胞胎格,月逢印经通,煞官行运助,职位至三公。
二子不冲午,二寅不冲申,二午不冲子,二申不冲寅。
得一分三格,财官印经全;运中逢克破,一命丧黄泉。
进气死不死,退气生不生;终年无发旺,犹忌少年刑。
时上偏财格,干头忌比肩;月生身主旺,贵气福重深。
时上一位贵,藏在支中是,日主要刚强,名利方有气。
运行十载数,上下五年分;先看流年岁,深知来往旬。


----------

CÂU 1: 有病方为贵,无伤不是奇;格中如去病,财禄喜相随。

Hữu bệnh phương vi quý, vô thương bất thị kỳ; cách trung như khử bệnh, tài lộc hỷ tương tuỳ.
(Có bệnh thì mới là quý, không bị thương thì không phải mệnh phú quý. Trong mệnh cách nếu như bệnh được chữa, tài lộc tin tui đến bên cạnh).

Để hiểu được chữ “bệnh” cần phải hiểu sự vận hành của thiên đạo.

“Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc”. Tức là đạo vận hành của trời luôn chú trọng sự cân bằng. Chỗ nào dư ra thì lấy cái dư của nó mà bù cái thiếu của chỗ khác. Đạo trời ví như là giương cung nhắm bắn. Giơ quá cao thì cần hạ thấp xuống, giơ quá thấp thì cần nâng cao lên, dùng lực quá nhiều thì cần bớt lực đi, dùng lực quá ít thì cần thêm lực vào. Chủ yếu chú trọng ở chữ “cân bằng”.

Một bát tự cũng như một tiểu thiên địa, tức là một trời đất thu nhỏ. Nó cũng cần phải tuân theo qui luật cân bằng. Cân bằng trong bát tự có nhiều khía cạnh: cân bằng giữa hai khí âm dương, cân bằng của nhiệt độ nóng và lạnh, cân bằng giữa khô và ẩm, và cân bằng của ngũ hành.

Ở đây để đơn giản chỉ nói về cân bằng của ngũ hành. Ngũ hành bao gồm năm khí: kim, thuỷ, mộc, hoả, thổ. Ngũ hành nếu có một hành quá cường vượng (mạnh) hoặc quá nhược (yếu) sẽ làm mất cân bằng toàn bát tự.

Lấy mệnh chủ là mộc làm ví dụ. Mộc quá vượng có thể xảy ra các trường hợp sau:

(1) Mộc vượng mà gặp thổ thì nó khắc thổ, làm thổ bị thương. Như vậy bệnh là ở mộc.
(2) Hoặc nếu nó không gặp thổ mà cũng không gặp hoả thì tự mộc quá vượng nó sẽ tự thương bản thân nó. Như vậy bệnh là ở mộc.
(3) Hoặc mộc vượng cần hoả tới để tiết khí, vì mộc sinh hoả, sẽ làm mộc bớt vượng đi. Trong bát tự có hoả, nhưng hoả lại bị thuỷ khắc, không tiết khí được mộc. Như vậy bệnh là ở thuỷ.
(4) Hoặc mộc vượng cần kim tới khắc cho bớt vượng. Bát tự có kim, mà kim lại bị hoả gần bên khắc. Vậy bệnh là ở hoả.
(5) Hoặc mộc vượng cần kim tới khắc cho bớt vượng. Bát tự có kim, mà lại có thuỷ ở gần bên hoá kim sinh mộc (kim sinh thuỷ sinh mộc). Tức là kim không thể khắc mộc. Vậy bệnh là ở thuỷ.

Lấy mệnh chủ là mộc làm ví dụ. Mộc quá nhược có thể xảy ra các trường hợp sau:

(1) Mộc nhược cần thuỷ tới sinh cho bớt nhược. Bát tự không có thuỷ thì mộc không có sinh khí. Như vậy bệnh là ở mộc.
(2) Mộc nhược cần thuỷ tới sinh cho bớt nhược. Bát tự có thuỷ, nhưng có thổ ở gần bên khắc thuỷ, làm thuỷ không còn đủ sức sinh mộc. Như vậy bệnh là ở thổ.
(3) Mộc nhược, lại có hoả gần bên tiết khí (mộc sinh hoả nên bị tiết khí); làm cho mộc nhược càng nhược. Như vậy bệnh là ở hoả.
(4) Mộc nhược sợ bị khắc; bị khắc sẽ nhược càng nhược. Trong bát tự lại có kim gần bên khắc mộc. Như vậy bệnh là ở kim.

Như vậy bệnh không chỉ là sự mất cân bằng của ngũ hành, mà nó còn là nhân tố cản trở hệ thống ngũ hành trở về trạng thái cân bằng.

Có hai cách nhìn khác nhau về bệnh. Thứ nhất là mệnh quý trung hoà, tức là mệnh không có bệnh, bát tự trung hoà thì quý; thứ hai là có bệnh mới quý.

Cách nhìn thứ nhất là thuận theo thiên đạo. Tức lấy “tổn hữu dư nhi bổ bất túc” làm tôn chỉ. Cách nhìn thứ hai là thuận theo nhận đạo. Tức “tổn bất túc nhi phụng hữu dư” làm tôn chỉ.

Nhân đạo khác với thiên đạo. “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu”. Thiên địa, trời đất vốn là vô tình, xem con người như chó rơm. Bất nhân, vô tình ở đây cần phải hiểu là công bằng, không thiên lệch. Muốn công bằng tuyệt đối, muốn xem người người đều như chó rơm, người giàu cũng như người nghèo, quan lại cũng như thường dân, nam cũng như nữ, người khóc cũng như người cười (chó rơm không biết khóc cười), thì thiên địa cần phải vô tình. Có vô tình mới có thể đối xử công bằng. Thiên địa mà có tình cảm thì chắc chắn sẽ xảy ra thiên lệch, ưu ái người này mà bất công với người kia. Như vậy thì thiên địa không thể thực hành cái đạo tổn hữu dư nhi bổ bất túc.

Nhân đạo thì ngược lại, nhân đạo có thất tình lục dục, có tham sân si, nên con người không thể “tổn hữu dư nhi bổ bất túc”. Người giàu có thì lợi dụng tiền bạc sẵn có để tạo lợi thế kiếm tiền nhiều hơn. Người có quyền uy thì dùng quyền uy của mình để tạo điều kiện cho bản thân có được nhiều đặc quyền hơn. Mà tiền bạc của cả xã hội thì có hạn. Mình lấy thêm được tiền tức là người khác phải bớt đi đúng số tiền đó. Vậy người có tiền càng thêm nhiều tiền, người nghèo khổ càng thêm mất tiền. Đã có dư còn muốn dư nhiều hơn. Đó là nhân đạo: "tổn bất túc nhi phụng hữu dư" (lấy cái không đủ mà nuôi cái đã có thừa).

Cách nhìn thứ nhất về bệnh (mệnh quý trung hoà) lấy thiên đạo làm tôn chỉ. Mệnh không có bệnh thì xem như quý. Cả đời bình bình an an, an nhàn tự tại, tu tâm dưỡng tính mà sống.

Cách nhìn thứ hai về bệnh (hữu bệnh phương vi quý) lấy nhân đạo làm tôn chỉ. Sẵn sàng hi sinh chỗ này để được chỗ khác. Như mệnh nam Ất sinh ngày Mão tháng Mão, gặp trụ ngày là Mậu thổ thì thổ bị khắc tổn rất mạnh, là tổn vợ hoặc tổn con. Nhưng một khi hành vận gặp hoả thì sẽ dễ dàng phát đạt, kiếm được nhiều tiền. Đó là chịu tổn vợ hoặc tổn con mà đổi lại tiền bạc.

Thánh nhân không màng danh lợi, tài lộc, chỉ chú trọng tu tâm dưỡng tính, giúp đời giúp người, an nhàn tự tại, nên thánh nhân lấy cân bằng là quý. Phàm nhân xem trọng danh lợi, tiền tài, nên phàm nhân lấy bệnh là quý.

Ở đây cần nhấn mạnh mệnh quý trung hoà còn có thể hiểu theo nghĩa: luận mệnh cần lấy trung hoà làm tôn chỉ. Tức gặp hành vận mà bát tự hướng gần hơn đến vị trí cân bằng thì là quý, là cát lợi. Ngược lại gặp hành vận mà bát tự càng xa rời vị trí cân bằng thì là hung, là bất lợi. Chứ không chỉ thuần tuý có nghĩa mệnh trung hoà là quý mệnh. Tuy nhiên cũng cần chú ý là không có mệnh nào là trung hoà, nó chỉ là một trạng thái lí tưởng mà thôi.

Như vậy “Hữu bệnh phương vi quý, vô thương bất thị kỳ” cần phải hiểu là cách nhìn mệnh lý theo Nhân đạo, nó không hoàn toàn đúng. Nó đúng đến đâu thì cần phải định nghĩa thế nào là "quý", thế nào là "kỳ", như đã giải thích phía trên.

“Cách trung như khử bệnh, tài lộc hỷ tương tuỳ” chính là nói nếu bệnh trong bát tự được khử thì tiền bạc, danh lợi cùng nhau đến. Đây là do khi khử được bệnh, tức có bệnh mà gặp thuốc, chữa được bệnh thì ngũ hành trong mệnh được cân bằng hơn, tức là điều cát lợi, điều lành đã đến.

Tóm lại, câu thứ nhất của Ngũ Ngôn Độc Bộ giới thiệu triết lý về mệnh lý của nó: Nhân đạo.

----------

CÂU 2: 寅卯多金五,贫富高低走。南地怕逢申,北方休见西。

Dần Mão đa kim Sửu, bần phú cao đê tẩu. Nam địa phạ phùng Thân, bắc phương hưu kiến Dậu.
(Dần Mão mà có nhiều kim và kim trong Sửu, muốn biết giàu nghèo sang hèn thì xem hành vận. Hành vận về phía nam thì sợ thấy chi Thân, hành vận về phía bắc thì không muốn thấy chi Dậu.)

“Dần Mão đa kim Sửu”: mệnh Giáp Ất sinh tháng Dần Mão, trong mệnh lại có nhiều kim, tức là thấy từ hai chữ trở lên trong các chữ sau đây: Canh, Tân, Thân, Dậu, Tuất, Sửu. Ngoài ra chữ “đa” ở đây còn phải hiểu là khí thế của kim vững mạnh. Tức là kim này phải có gốc, tức là phải có ít nhất một chữ Thân, Dậu, hoặc Sửu. Đó là phác thảo mệnh cục được đem ra làm ví dụ cho câu này.

“Bần phú cao đê tẩu”: Đối với mệnh cục mộc – kim lưỡng đình (hai bên thế lực gần như ngang nhau) như vậy, vai trò quyết định phú quý sang hèn của mệnh chủ phụ thuộc rất lớn vào hành vận.

Nếu mộc vượng hơn kim, hành vận cần giúp kim chế bớt mộc, giúp cho bát tự cân bằng hơn. Nếu kim vượng hơn mộc, hành vận cần giúp mộc. Tóm lại, những gì chúng ta rút ra ở đây là phú quý bần tiện của một bát tự có phần đóng góp to lớn của hành vận. Chỉ xem mệnh cục mà không xem hành vận là một thiếu sót trong việc cân đo phú quý bần tiện.

Tầm quan trọng của hành vận là vấn đề thứ nhất đề cập đến trong phần này. Vấn đề thứ hai là căn khí.

“Nam địa phạ phùng Thân, bắc phương hưu kiến Dậu”: Sinh tháng Dần Mão là đông phương. Dương nam, âm nữ hành vận thuận, lần lượt sẽ qua đông phương mộc, nam phương hoả và gặp Thân trước Dậu. Âm nam, dương nữ hành vận nghịch lần lượt sẽ qua đông phương mộc, bắc phương thuỷ và gặp Dậu trước Thân.

Mệnh Giáp Ất mộc, sinh tháng Dần Mão, kim vững mạnh. Nếu sinh tháng Dần thì sợ gặp niên vận Thân xung, sinh tháng Mão thì sợ niên vận Dậu xung. Bị Thân hay Dậu xung là Giáp Ất mộc mất đi căn khí, trong khi căn khí của kim trong mệnh vẫn còn (điều kiện để kim vững mạnh, chữ “đa” đã giải thích phía trên). Tức là nói kim là Quan Sát của mộc mà kim vượng lên, mộc yếu đi. Kim vượng hơn mộc thì là hung, chủ công danh không toại, sức khoẻ yếu kém, tiền tài thất thoát, tình duyên lận đận. Cho nên nguyên văn mới lấy chứ “phạ” (sợ), “hưu” (không nên).

Ở đây vấn đề căn khí là rất quan trọng. Có căn khí tức gốc vững thì có thể chịu được hình khắc, có cơ hội trở mình. Không có căn khí thì không thể chịu được hình khắc, khó có cơ hội trở mình.

Căn khí là một vấn đề nhiều người nhầm lẫn. Thường nghe nói đại loại như thân cường mà suy, trong suy mà vượng, vô cùng rắc rối, thâm ảo. Ở đây tôi muốn lý giải lại cho rõ ràng.

Có căn khí vững vàng thì là cường, không có căn khí vững vàng thì là nhược. Nhật chủ được toàn cục sinh trợ, cái sinh trợ nhiều hơn cái tiết chế thì là vượng. Nhật chủ bị toàn cục trấn áp, cái tiết chế nhiều hơn cái sinh trợ thì là suy.

Như vậy, cường – nhược, vượng – suy là hai khái niệm khác nhau. Trong đó, cường – nhược là một yếu tố để cân đo vượng - suy. Cường (có căn khí) thì dễ dàng (nhưng chưa chắc) vượng, vì nhật chủ dễ dàng tiếp nhận khí của nguyên thần (nguyên thần là cái sinh ra ta. Như nhật chủ là mộc, thì nguyên thần là thuỷ). Ví dụ nôm na như sau: nhật chủ mộc có căn thì thuỷ sinh 10 lấy được 8-10. Nhật chủ vô căn thì thuỷ sinh cho 10, lấy được 5-7. Nhật chủ cường thì chịu được hình khắc. Ví dụ nhật chủ mộc có căn, kim đến khắc 10, thì nhật chủ tổn 2-3. Nhật chủ mộc vô căn, kim đến khắc 10 thì chịu đủ 10.

Tại sao vậy? Tại vì nhật chủ là thiên can, là thiên khí. Căn khí tại địa chi, là địa khí, hoặc nhân khí. Nhật chủ có căn thì thiên địa đồng khí liên chi, địa khí trợ cho thiên khí, cho nên thiên khí kim (Canh, Tân) đến tổn Giáp, Ất thì có địa khí (Dần, Mão, Thìn, Mùi) bù lại. Đây chính là thiên – địa – nhân hợp nhất.

Như vậy vấn đề rắc rối, thâm ảo không cần thiết chính là sử dụng cường - nhược, vượng - suy nhầm lẫn cho nhau, râu ông nọ cắm cằm bà kia. Cho nên tên chính xác là trường phái vượng suy, cách gọi chính xác là nhật chủ vượng hoặc nhật chủ suy. Cách gọi nhật chủ nhược vô tình làm đảo lộn khái niệm, khó hiểu. (Nhưng hiện nay tôi vẫn nói nhật chủ nhược vì thuận tiện và dễ hiểu cho người hỏi mệnh).

Tóm lại, nếu câu thứ nhất “Hữu bệnh phương vi quý…” đề cập đến triết lí, kim chỉ nam của Ngũ Ngôn Độc Bộ là Nhân đạo; thì câu thứ hai “Dần Mão đa kim Sửu…”, đề cập đến tầm quan trọng của ba vấn đề cốt lõi khi xem mệnh đó là nguyên cục, hành vận, và căn khí. Muốn phân quý tiện sang hèn không chỉ dựa vào nguyên cục (bát tự) mà còn phải kết hợp hành vận. Muốn định vượng – suy thì không chỉ nhìn khí mà còn phải nhìn thế (căn khí), tức là phải biết cường – nhược.

Sửa bởi ThienKhanh: 26/10/2016 - 00:03


#2 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 27/10/2016 - 17:35

Câu 3: 建禄生提月,财官喜透天,不宜身再旺,惟喜茂财源。

Kiến lộc sinh đề nguyệt, tài quan hỷ thấu thiên, bất nghi thân tái vượng, duy hỷ mậu tài nguyên
(Kiến lộc tại đề cương nguyệt lệnh, Tài Quan hỷ thấu lộ, không thích hợp thân lại vượng thêm, chỉ hỷ nguồn Tài mạnh)

-----

“Kiến lộc sinh đề nguyệt”: Trong phần này Ngũ Ngôn Độc Bộ vẫn dùng nhật nguyên mộc làm ví dụ. Mệnh Giáp sinh tháng Dần, hoặc mệnh Ất sinh tháng Mão là kiến lộc tại trụ tháng. Trụ tháng còn gọi là nguyệt lệnh hoặc đề cương. Đây chính là phác thảo mệnh cục dùng làm ví dụ cho câu này.

Ở câu này có hai vấn đề cần lưu ý. Thứ nhất là kiến lộc; thứ hai là nguyệt lệnh đề cương.

Ở hai câu trước tác giả đề cập đến các yếu tố cơ bản nhất của mệnh lý Tử Bình là triết lý Nhân đạo, và mệnh vận của một người là sự tổng hợp của mệnh (bát tự) và vận (hành vận; chủ yếu bao gồm đại vận và lưu niên); đồng thời nói rõ vai trò quan trọng của căn khí. Đến phần này, tác giả đề cập đến một trường hợp đặc biệt của căn khí là kiến lộc.

Tại sao kiến lộc lại quan trọng như vậy? Kiến lộc là khi mệnh Giáp gặp Dần, Ất gặp Mão, Bính gặp Tỵ, Đinh gặp Ngọ, Canh gặp Thân, Tân gặp Dậu, Nhâm gặp hợi và Quý gặp Tý. Trường hợp đặc biệt, có pha tạp là Mậu gặp Tỵ và Kỷ gặp Ngọ. Khi thiên can gặp đất lộc, đó là thời cơ vững mạnh nhất của thiên can. Có hai lý do như sau:

Lí do thứ nhất theo thuyết Thiên – Nhân hợp nhất. Lấy Giáp gặp Dần làm ví dụ. Bản khí của Dần cũng là Giáp (Dần tàng Giáp bản khí, Bính trung khí, Mậu dư khí). Như vậy thiên khí (thiên can) là dương mộc, gặp địa khí (địa chi) cũng là dương mộc, thì thiên địa đồng khí liên chi, thiên – địa hợp nhất ở mức độ hoàn hảo nhất, bền vững nhất vì nó cùng một hành khí làm chủ. Thiên – địa hợp nhất, hoặc thiên – nhân hợp nhất, hoặc thiên – địa – nhân hợp nhất đều là những cách nói khác nhau của Tam Tài hợp nhất (Tam Tài gồm thiên, địa, nhân). Tam Tài hợp nhất là sự tốt lành to lớn nhất, chính vì thế mà các môn huyền học luôn hướng đến điều này.

Ví dụ như Dịch lý có quẻ Địa Thiên Thái là thể hiện rõ tư tưởng thiên nhân hợp nhất. Địa ở trên là khí âm ở trên, khí âm trọc thì nặng, nặng thì hướng xuống dưới. Thiên ở dưới là khí dương ở dưới, khí dương thanh thì nhẹ, nhẹ thì hướng lên trên. Ở trên thì hướng xuống dưới, ở dưới thì hướng lên trên là tượng giao hoà lẫn nhau. Thiên địa giao hoà, âm dương giao hoà thì vạn vật hoá sinh. Do đó được chữ Thái.

Hoặc như phong thuỷ huyền không phi tinh dùng đường lượng thiên xích để xác định khí tốt ở đâu, khí xấu chỗ nào. Sau đó cải tạo lại địa hình xung quanh hoặc nội thất trong nhà sao cho đón và giữ được khí tốt, xa lánh hoặc hoá giải khí xấu. Khí tốt, khí xấu chính là nguyên khí của trời đất, là Thiên Địa. Nhà cửa, con người chính là Nhân. Cải tạo địa hình, nội thất sao cho phù hợp với khí tốt, khí xấu chính là cố gắng để Nhân được hài hoà với Thiên Địa.

Có thể nói xét về mặt Tam Tài, tức Thiên – Địa – Nhân hợp nhất thì kiến lộc chính là vị trí tốt nhất của thiên can.

Ngoài ra, còn một lý do để cho rằng lộc là vị trí tốt lành nhất là sử dụng vòng trường sinh để biện luận. Trong mười hai vị trí của vòng trường sinh, vị trí đế vượng là lớn mạnh nhất. Nhưng đạo trên đời, vật cùng tất phản. Khi hành khí đạt đến điểm vượng nhất là đế vượng, thì bên trong bản thân nó đã tàng chứa cái mầm suy vi, đi xuống. Do đó, mặc dù đế vượng là vị trí vượng thịnh nhất, nhưng không phải tốt nhất vì trước mặt nó không còn tương lai. Vị trí tốt nhất là lộc, đủ vượng để đảm đương, nhưng không đến cùng cực mà vẫn còn vị trí để tiến lên, tức vẫn còn tương lai tươi sáng phía trước.

Vấn đề thứ hai mà câu này đề cập đến chính là đề cương hay còn gọi là nguyệt lệnh.

Lí do tháng sinh được gọi là “đề”, là “lệnh” bởi vì nó chi phối sự mạnh yếu của ngũ hành trong mệnh cục, tạm gọi là tinh khí. Về cách đo lường tinh khí, chủ yếu có hai thuyết.

Thuyết thứ nhất thường được sử dụng nhất là vòng trường sinh. Vòng trường sinh có 12 vị trí, được sắp xếp theo thứ tự như sau: trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng. Lấy can Giáp làm ví dụ. Giáp trường sinh ở Hợi, mộc dục ở Tý, quan đới ở Sửu, tương tự tính thuận chiều kim đồng hồ cho đến hết vòng trường sinh. Lấy can Ất làm ví dụ. Ất trường sinh ở Ngọ, mộc dục ở Tỵ, quan đới ở Thìn, tương tự tính nghịch chiều kim đồng hồ cho đến hết vòng trường sinh.

Trong 12 vị trí của vòng trường sinh, thì 6 vị trí từ dưỡng cho đến đới vượng là tiến khí, vì lúc đó hành khí lớn mạnh dần lên, đến đới vượng là khi hành khí lớn mạnh nhất. Còn lại 6 vị trí từ suy đến thai là thoái khí, vì lúc đó hành khí yếu dần đi.

Về vòng trường sinh lại có quan điểm ứng dựng. Quan điểm thứ nhất là thiên can phân âm dương, can dương tính thuận, can âm tính nghịch như đã nói ở trên. Với quan điểm này thì chủ yếu dựa trên tôn chỉ dương sinh âm tử, âm tử âm sinh. Ví dụ Giáp mộc sinh tại Hợi mà tử tại Ngọ, thì Ất mộc sinh tại Ngọ mà tử tại Hợi. Quan điểm này có hai cách tính. (1) Nếu thiên can sinh ở tháng trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng thì tính là đắc lệnh hoặc đắc khí, tức bản thân nó có tinh khí mãnh mẽ. Nếu thiên can rơi vào các trường hợp còn lại là thất lệnh hoặc thất khí, tức bản thân nó tinh khí suy kiệt. (2) Nếu thiên can sinh vào các tháng tiến khí thì tinh khí no đủ, còn sinh vào các tháng thoái khí thì sinh khí không đủ. Như vậy cả hai cách tính này chỉ khác nhau ở một vị trí là dưỡng. Với cách tính thứ nhất thì dưỡng là vị trí bất lợi; còn với cách tính số hai thì dưỡng là vị trí có lợi.

Quan điểm ứng dụng thứ hai của vòng trường sinh là hành khí không phân âm dương. Tức là không có dương mộc hay âm mộc, mà âm dương là một thể thống nhất, đồng sinh cộng tử. Tức là vòng trường sinh chỉ có một chiều thuận, trùng với chiều của thiên can dương theo quan điểm ứng dụng thứ nhất. Ví dụ, Giáp và Ất đều là mộc, mộc sinh tại Hợi, tử tại Ngọ, mộ tại Tuất. Luận điểm chủ yếu của quan điểm này là vòng trường sinh của âm can là không hợp lí. Đại khái lấy Ất làm ví dụ. Ất sinh tại Ngọ, nhưng Ngọ là hoả. Tại Ngọ Ất bị tiết khí. Ất khi mới sinh vốn tinh khí non nớt, mà lại còn bị tiết khí thì không phải là cát tường. Tương tự lập luận sinh khắc chế hoá tương tự cho các âm can còn lại.

Thuyết thứ hai áp dụng tháng sinh để tính tinh khí bản nguyên của thiên can là sử dụng tứ thời, kèm theo cái nhìn âm dương đồng sinh cộng tử. Tứ thời là bốn mùa xuân hạ thu đông. Lấy mùa xuân làm ví dụ. Mùa xuân mộc đương lệnh; mộc như ông vua cầm lệnh chỉ huy: mộc vượng. Mộc sinh hoả, hoả được ông vua ưu ái thì như được phong tướng: hoả tướng. Mộc được thuỷ sinh; thuỷ như cha mẹ sinh cho mộc. Mùa xuân mộc vượng như đứa con đã lớn, con lớn thì cha mẹ đã đến hồi suy yếu: thuỷ hưu. Mộc khắc thổ; thổ bị ông vua khắc: thổ tử. Kim khắc mộc, tức là khắc vua, là phạm thượng (phạm vượng): kim tù. Trong 5 trạng thái vượng, tướng, hưu, tù, tử, trạng thái tốt nhất là tướng, tốt nhì là vượng, kế đến là tử, sau đó đến hưu tù. Tuy nhiên, chỉ có hai trạng thái được cho là có tinh khí no đủ là vượng và tướng. Thuật ngữ cho vượng tướng là đắc tiết, cho hưu tù tử là thất tiết.

Tóm lại, việc tính toán tinh khí bản nguyên của ngũ hành trong một bát tự chủ yếu dựa vào nguyệt lệnh. Sau khi có tinh khí bản nguyên mạnh yếu, no đủ hay khuyết thiếu, thì mới tính đến tác động qua lại giữa ngũ hành để đi đến quyết định cuối cùng về độ vượng tinh khí của một hành. Tác động qua lại giữa ngũ hành được thể hiện bằng các mối quan hệ, tương tác can – can, chi – chi, và can – chi.

Như vậy, “kiến lộc sinh đề nguyệt”, không chỉ đơn thuần nói Giáp sinh tháng Dần, Ất sinh tháng Mão; mà nó giới thiệu hai khái niệm quan trọng của môn bát tự là lộc và nguyệt lệnh.

-----

“Tài Quan hỷ thấu thiên”: đối với một bát tự có nhật chủ kiến lộc tại nguyệt lệnh, cần có Tài và Quan thấu lộ ra thiên can thì mới quý. Câu này lại nói đến khái niệm thấu lộ và ẩn tàng, cũng chính là nói sự khác biệt về mặt công năng của thiên can và địa chi.

Môn Tử Bình quan niệm can – chi là hai mặt đối lập nhưng thống nhất với nhau. Đối lập ở chỗ can là động, chi là tĩnh; can là ngoài, chi là trong; can là hiện, chi là ẩn tàng; can là thuần, chi là tạp; can là cành, là ngọn; chi là thân, là gốc, là rễ. Bát tự kiến lộc đề nguyệt thường là thân vượng, thân vượng thì hỷ có Quan đến chế cho bớt vượng, có Tài đến tổn thân cũng góp phần đưa bát tự về trạng thái cân bằng hơn. Đồng thời Tài còn sinh Quan, giúp Quan chế thân được hiểu quả hơn; Tài cũng khắc Ấn, làm Ấn không sinh được thân nên bát tự không bị thiên lệch nhiều hơn.

Cần Tài Quan, nhưng cũng nhấn mạnh là “thấu thiên”, tức là phải thấu lộ ra thiên can. Mệnh Giáp chẳng hạn. Bát tự cần thấy can Canh, Tân, Mậu, Kỷ. Tại sao cần phải “thấu thiên”? Bởi vì thiên can là động, là hiện. Tác dụng của thiên can rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, tức thời hơn địa chi. Cho nên Giáp gặp Canh, Tân, Mậu, Kỷ là lập tức phát động khắc chế lẫn nhau. Nếu Giáp mộc tháng Dần vượng, không gặp bốn chữ trên, mà giả sử chỉ gặp địa chi như Dậu, Tuất, Sửu thì vẫn là gặp Tài Quan ở địa chi, nhưng tác dụng khắc chế không rõ ràng, không mạnh mẽ vì thiên can rất dễ phát động, còn địa chi không dễ phát động. Như vậy giữa một mệnh thấu Tài Quan (có Tài Quan ở thiên can) và toạ Tài Quan (có Tài Quan ở địa chi) thì mệnh trước được khắc chế mạnh mẽ và hiệu quả hơn.

Có lợi thì cũng có hại. Ví dụ mệnh Giáp sinh tháng Dần, thiên can lại có hai Ất như vậy là mộc quá động, quá hoành hành. Lúc đó không nên lại thấy Tài (Mậu, Kỷ) tại thiên can. Vì Tài xuất can là lộ, là phát động, dễ dàng sinh khắc chế hoá cái khác, nhưng tự bản thân nó cũng dễ dàng bị khắc chế. Trong trường hợp này nếu Tài thổ thấu xuất mà không có cứu giúp sẽ bị mộc thổ khắc phạt rất nặng, vốn là mệnh nghèo hèn. Tốt nhất lúc này là Tài dày trọng và ẩn tàng tại địa chi.

Ngoài khái niệm thấu xuất, phần này còn giới thiệu khái niệm Tài Quan, tức là thập thần. Thập thần bao gồm có Ấn, Kiêu, Tỷ, Kiếp, Thực, Thương, Chính Tài, Thiên Tài, Quan, Sát. Những khái niệm này đơn giản, không phân tích thêm.

Ở đây chỉ có một lưu ý, tại sao chỉ nhắc đến Tài Quan trước, mà không nhắc đến những thần còn lại? Đó là vì con người (Nhân đạo) vốn quan trọng phú quý, tức là tiền tài, danh vọng. Tài đại diện cho thông tin tiền tài, Quan Sát đại diện cho danh vọng, công danh. Cho nên Tài Quan là hai thông tin được chú trọng nhất trong Tử Bình.

-----

“Bất nghi thân tái vượng”: đến đây cần nhắc lại bài bố của bát tự được đem ra làm ví dụ. Đó là bát tự mệnh mộc, kiến lộc tại nguyệt lệnh, đồng thời thấu Tài và/hoặc Quan tại thiên can. Trong trường hợp bát tự như vậy cần nhìn hành vận. Hành vận không nên giúp cho thân mộc vượng thêm lên, tức là không nên gặp thuỷ mộc, vì thuỷ sinh mộc, mộc trợ mộc; lúc đó mộc trong nguyên cục quá vượng, sẽ khắc Tài thổ nặng hơn, hoặc khắc ngược trở lại Quan kim. Như vậy là phá tài, công danh bất toại.

-----

“Duy hỷ mậu tài nguyên”: trong trường hợp bát tự có bố cục như vậy, thích hành vận trợ cho Tài, tức là gặp nơi có nhiều thổ. Vì thổ sẽ trợ Tài thổ trong mệnh, giúp Tài không bị khắc mà còn hao tổn mộc, giúp cho bát tự cân bằng hơn. Hoặc Tài thổ có thể sinh Quan kim tiết chế mộc.

“Tài nguyên” ở đây không nên chỉ hiểu là đất Tài vượng, mà “nguyên” còn có thể hiểu là nguyên thần, tức là thần sinh ra Tài: Thực Thương. Đặc biệt, nếu mệnh cục kiến lộc đề nguyệt, chỉ có Tài thấu mà không có Quan thấu thì tốt nhất là gặp Thực Thương hoả. Mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, như vậy nhờ hoả thông quan mà mộc thay vì khắc thổ (xấu) lại quay ra giúp thổ (tốt), đồng thời tự bản thân cũng bị tiết khí bớt vượng đi, vậy là mệnh phát tài.

-----

Tóm lại câu thứ 3: “Kiến lộc sinh đề nguyệt, tài quan hỷ thấu thiên, bất nghi thân tái vượng, duy hỷ mậu tài nguyên” đề cập đến một loại hình căn khí đặc biệt là lộc, giới thiệu các khái niệm đề cương nguyệt lệnh, Tài, Quan, nguyên thần, thấu lộ; đồng thời trình bày cơ bản ngũ hành sinh khắc chế hoá khi áp dụng vào một bát tự.

-----

Ví dụ bát tự thực tế:

Khôn: Mậu Thìn – Giáp Dần – Giáp Ngọ - Giáp Tuất

Đây là mệnh nữ tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Mệnh này Giáp kiến Dần lộc tại nguyệt lệnh (1). Bát tự thấu Tài Mậu có căn khí tại Thìn, Dần, Tuất là vững mạnh (2,4). Đáng tiếc bát tự thấu 3 Giáp, lại là chính khắc nên phá Tài rất dữ. Mệnh cục có tam hợp Dần Ngọ Tuất giúp thông quan mộc – thổ (4). Vận Nhâm Tý xung nhật trụ Giáp Ngọ, phá mất tam hợp hoả là phản cục, bát tự không còn thông quan. Mộc lập tức phá Thổ. Lại thêm Nhâm thuỷ sinh Giáp mộc (3), phá lại càng phá. Ấn Tý là mẹ, Mậu Tài là cha nên vận này cha mẹ li dị. Vì Tý đến xung mà Mậu bị phá thành ra là tượng cha mẹ hại nhau vậy.

Ví dụ phía trên minh hoạ Tài tinh thấu xuất tuy có công dụng rõ ràng, nhưng cũng dễ gặp khắc hại nếu thân cường vượng. Tốt nhất nếu thân vượng lại có quá nhiều Tỷ Kiếp, Tài thấu thì cần có thêm nguyên thần Tài là Nhi (Thực Thương) hoặc vệ thần Tài là Quan Sát để bảo vệ Tài.

Chú thích:

(1) "Kiến lộc sinh đề nguyệt"
(2) "Tài Quan hỷ thấu thiên"
(3) "Bất nghi thân tái vượng"
(4) "Duy hỷ mậu Tài nguyên"

Sửa bởi ThienKhanh: 27/10/2016 - 17:39


#3 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 31/10/2016 - 02:35

Câu 4: 土厚多逢火,归金旺遇秋,冬天水木泛,名利总虚浮。

Thổ hậu đa phùng hoả, qui kim vượng ngộ thu, đông thiên thuỷ mộc phím, danh lợi tổng hư phù.
(Thổ dày gặp nhiều hoả, qui về kim vượng tại mùa thu, mùa đông thuỷ mộc tràn lan, danh lợi sẽ hư phù)

Câu 4 này là phần giải thích nối tiếp cho câu số 3.

Câu 3 “kiến lộc sinh đề nguyệt, Tài Quan hỷ thấu thiên, bất nghi thân tái vượng, duy hỷ mậu Tài nguyên” đưa ra ví dụ mệnh mộc sinh tại tháng lộc, tức Giáp tại tháng Dần, Ất tại tháng Mão. Đối với loại mệnh cục này các tiêu chí để thành lập mệnh tốt là Tài Quan cần thấu, thân không nên hành vận được sinh trợ, nguồn Tài lại đầy đủ.

Như đã giải thích ở câu 3, khi Tài Quan thấu can thì công dụng rõ rệt hơn Tài Quan tàng ở địa chi. Tuy nhiên khi thấu thì Tài Quan cũng dễ bị tổn thương, vì thấu là lộ, là hiện, là động, là thuần. Cho nên ở câu 4 này, tác giả đưa ra từng trường hợp cụ thể là khi Tài thấu và khi Quan Sát thấu thì gặp điều kiện nào mới tốt.

-----

“Thổ hậu đa phùng hoả”: nếu mệnh kiến lộc sinh đề nguyệt, gặp thổ thấu can thì điều kiện để được mệnh tốt là (1) thổ phải dày. Vì quan hệ giữa Tài và nhật nguyên là quan hệ tương khắc, nhật nguyên khắc Tài. Trong mối quan hệ khắc thì cả hai đều bị tổn, nhưng cái đi khắc tổn ít hơn cái bị khắc: Tài có xu hướng bị tổn nhiều hơn nhật nguyên. Thêm nữa nhật nguyên đắc lộc tại tháng, tức nhật nguyên có căn khí vững, lại đắc khí là tự mình tinh khí đầy đủ, lại được địa khí tương trợ; trong khi tháng Dần Mão thì Tài thổ bị khắc tử, tức là tự bản thân Tài tinh tinh khí suy yếu. Như vậy là thổ ở thế bất lợi lắm, bản thân bát tự (nguyên cục) cũng mất cân bằng lắm. Phàm xem mệnh phú cần cân đo giữa hai yếu tố là nhật nguyên và Tài. Nhật nguyên vượng thì cần Tài vững, nhật nguyên suy thì cần Tài mỏng, như vậy mới có thể nắm giữ được tiền tài. Cho nên đối với mệnh kiến lộc sinh đề nguyệt, cần Tài thổ phải hậu, phải dày, tức là có căn khí vững vàng. Sau đó cần điều kiện nữa là (2) phải gặp đủ Thực Thương hoả. Hoả có lực sẽ giúp thông quan, tức là hoả sẽ tiết khí mộc (mộc sinh hoả), sau đó hoả sẽ đi sinh thổ. Được vậy thì thổ chẳng những không bị khắc mà còn gián tiếp được lợi từ mộc, giúp nguyên cục cân bằng hơn. Thường nói Thực Thương sinh Tài phú mệnh là vậy.

-----

“Qui kim vượng ngộ thu”: nếu mệnh không thấu Tài mà thấu Quan Sát kim thì lại cần điều kiện khác. Ở đây sử dụng chữ “qui” với ý nghĩa “qui về cho quản lí”. Quan Sát vốn khắc thân, đại biểu cho cái quản lí được nhật nguyên. Mối quan hệ giữa Quan Sát (ở đây gọi tắt là Quan) và thân là mối quan hệ tương khắc, Quan khắc thân thì thân bị tổn nhiều hơn Quan. Tuy nhiên cần nhìn lại, bát tự sinh tháng Dần Mão là lúc mộc vượng, bản thân nhật nguyên Giáp Ất vừa có căn khí vững, vừa đắc khí là tự thân tinh khí vượng lắm. Tháng Dần Mão thì kim vốn khắc mộc, nên kim phạm vượng, ở vào thời tù, là tinh khí suy yếu. Như vậy kim này đi khắc mộc này thì kim khuyết (kim bị mẻ), khó lòng mà chế phục nổi mộc. Chỗ cát lợi mà nguyên cục cần hướng tới đó là “ngộ thu”. Mùa thu thì kim vượng. Ở đây “ngộ thu” ý là nói gặp niên vận Thân Dậu; hoặc trong bát tự có Thân Dậu. Khi gặp Thân Dậu thì Quan Sát gặp căn khí, được tương trợ thì có năng lực chế phục được mộc, đưa bát tự về trạng thái cân bằng hơn. Thường nói thân vượng đắc Sát (Quan) là quý mệnh chính là vì vậy.

Đến đây có thể thấy rõ Ngũ Ngôn Độc Bộ chú trọng bố cục của bát tự. Nó diễn giải hỷ kỵ của mệnh thông qua những biến hoá khác nhau của cùng một mệnh cách. Ví dụ đối với mệnh Giáp Ất sinh tháng Dần Mão.

Nếu câu 2 (“Dần Mão đa kim Sửu, bần phú cao đê tẩu. Nam địa phạ phùng Thân, bắc phương hưu kiến Dậu) nói kỵ Thân Dậu, thì câu 4 này (“ […] qui kim vượng ngộ thu […] ”) lại nói Thân Dậu là hỷ. Quả thật là biến hoá. Sự biến hoá này là do khí thế của kim trong mệnh cục khác nhau. Nếu mệnh cục ở câu 2 có kim khí vững mạnh thì mệnh cục ở câu 4 lại có kim khí suy vi. Chính vì sự vững mạnh và suy vi khác nhau mà Thân Dậu là kỵ của mệnh ở câu 2, nhưng lại là hỷ của mệnh ở câu 4.

Như vậy người nghiên cứu Bát Tự khi xem mệnh phải linh hoạt, phải nắm vững khí thế. Nếu mệnh mộc mà kim – mộc tương đồng thì hỷ mộc không hỷ kim, vì kim khắc mộc thì mộc luôn tổn nhiều hơn kim tổn, thành ra ưu tiên mộc. Còn nếu kim suy vi mà mộc vượng thịnh thì hỷ kim.

Điều quan trọng nữa là câu thứ 3 “kiến lộc sinh đề nguyệt” đã giới thiệu khái niệm nguyệt lệnh đề cương. Vậy khi áp dụng nguyệt lệnh để xem khí thế, người học Tử Bình không chỉ xem khí thế của mỗi một mình nhật can, mà phải xem khí thế của những can chi còn lại. Lấy cách xem của ông Thiệu Vỹ Hoa làm ví dụ. Thiệu Vỹ Hoa đánh giá nhật can vượng nhược bằng ba tiêu chí: đắc lệnh, đắc thế, đắc địa. Nhưng đó chỉ là dành cho người mới bắt đầu. Đối với người nghiên cứu thâm sâu hơn một chút thì cần biết áp dụng cả ba tiêu chí đắc lệnh, đắc thế, đắc địa cho các can chi còn lại. Có như vậy mới nắm vững được bố cục của bát tự, từ đó thấu hiểu vận động của nguyên khí nội tại trong từng bát tự, tiến tới suy đoán cát hung đời người và hành vận.

-----

“Đông thiên thuỷ mộc phiếm, danh lợi tổng hư phù”: “Đông thiên” là mùa đông, cũng là chỉ phía Bắc, tức là nơi thuỷ vượng mộc tướng. Mệnh mộc kiến lộc sinh đề nguyệt, nếu tại các địa chi khác trong mệnh cục hoặc tại niên vận gặp tình trạng thuỷ vượng mộc tướng, tức được thuỷ sinh thêm, được mộc trợ thêm thì danh lợi khó mà toại nguyện. Vì nhật can vốn đã vượng, bát tự vốn đã mất cân bằng, nay nhật can lại được sinh trợ thêm, tức là bát tự lại càng mất cân bằng thêm. Lúc đó dù cho có thấu Quan Sát kim, kim khí cũng sẽ bị thuỷ khí hoá đi mất, danh không có. Hoặc thấu Tài thổ, Tài cũng sẽ bị mộc quá vượng mà phá mất, lợi cũng không có. Thành ra cả danh lẫn lợi đều hư phù.

Tóm lại, câu 4 “Thổ hậu đa phùng hoả, qui kim vượng ngộ thu, đông thiên thuỷ mộc phím, danh lợi tổng hư phù” càng củng cố thêm khái niệm và tác dụng thấu can của thiên can. Đồng thời, khi kết hợp với câu 2, nó chỉ ra tầm quan trọng nguyệt lệnh, và của việc nắm bắt bố cục bát tự; từ đó mà dẫn đến sự biến hoá của dụng thần, hỷ kỵ.

Có thể nói nắm bắt bố cục bát tự là bước đầu tiên cần phải làm được sau khi đã nhập môn Tử Bình. Nó là tiền đề vô cùng quan trọng để luận cơ giam (một số sách gọi là “điểm mấu chốt), thông qua đó mà thấy được cát hung của đời người và cát hung của hành vận.

-----

Ví dụ thực tế áp dụng xem Vượng Suy lấy nhật chủ làm trung tâm:

Ất Mùi - Quý Mùi - Canh Thân - Bính Tý

Đây là mệnh tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Mệnh Canh sinh tháng Mùi đắc lệnh. Mệnh cục gặp Mùi - Mùi là bên trái có Ấn thụ sinh cho, gặp Tý là bên phải có vệ thần bảo vệ. Thấu Quý là bên trên có vệ thần, toạ thân là phía dưới thông căn khí vượng. Thành ra đắc thế (được sinh, được trợ), đắc địa (thông căn tại địa chi, hoặc được địa chi sinh trợ). Tóm lại, Canh kim đắc lệnh, đắc thế, đắc địa nên kim khí vượng thịnh.
Bính hoả hành đến tháng Mùi là suy địa: thất lệnh. Toạ Tý là phía dưới có kỵ thần, bên trái có canh Thân là cừu thần cách trở (ngăn cách Bính và Mùi Mùi là đất hoả dư khí). tóm lại, Bính thất lệnh, thất địa, thất thế nên nhược

-----

Ví dụ thực tế áp dụng xem khí thế của toàn bát tự:

Càn: Kỷ Tỵ - Giáp Tuất – Canh Tuất – Bính Tuất
2 tuổi khởi vận.

Đây là mệnh nam tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Mệnh này người bắt đầu nghiên cứu có thể luận thổ vượng sinh thân vượng (Tuất có tàng kim), dụng mộc chế thổ.

Tuy nhiên có thể phân tích như sau: toàn cục hỏa thổ tương sinh là Sát Ấn tương sinh, lại sinh tháng Tuất thổ vượng, bát tự có 3 chi Tuất là hoả kho: khí thế của hoả thổ rất vượng. Giáp vô căn, thất tiết nên khi gặp Kỷ - Giáp hợp, toạ tháng Tuất thì sẽ dễ bị hợp thành thổ cục. Mệnh này hoả thổ rất vượng, Canh căn khí lại không vững. Về mặt ngũ hành là mất căn bằng: táo thổ vượng đến cực, phản lại không sinh kim mà lại chôn kim (khắc kim). Thân nhược. Ưu tiên hàng đầu phải dùng kim khí trợ Canh tiết khí thổ vượng. Hỷ nhất là gặp Thân Dậu, tức là Canh gặp căn khí, thì sẽ vững vàng, có khả năng tiết khí rất mạnh. Không nên gặp mộc khí. Nguyên cục thấu hoả, thổ cục lại được hoả trợ; gặp mộc khí rất dễ đến sinh hoả, hoả lại sinh thổ, thổ vượng càng vượng, kim càng bị tổn, bát tự lại càng thêm mất cân bằng.

Về mặt nhiệt độ và độ ẩm thì nóng và quá khô.

Do mệnh kỵ thổ nên người này kỵ tính với cha mẹ, có vấn đề nhẹ về tiêu hoá. Canh nhược có vấn đề về mũi, bị viêm xoang đã từng mổ. Khởi vận Quý Dậu, Nhâm Thân gặp Thân Dậu hỷ thần thấu thuỷ, kim gặp căn khí, lại có kim thuỷ tương sinh. Bát tự cân bằng hơn về ngũ hành, nhiệt độ, và độ ẩm nên là hai vận vô cùng thuận lợi.

-----

Ví dụ thực tế mệnh mộc thấu Tài Quan:

Khôn: Canh Ngọ - Mậu Dần - Ất Tỵ - Ất Dậu
1 tuổi khởi vận.

Đây là mệnh nữ tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Do dữ liệu cá nhân hạn hẹp, tôi tôi tạm lấy mệnh Ất sinh tháng Dần làm ví dụ cho phần này.

Mệnh Ất sinh tháng Dần đắc tiết. Bát tự thấu hai Ất, mộc hoả cùng đảng chế kim. Canh là Quan ở tháng Dần thất tiết, thấu xuất tuy có căn khí tại Dậu nhưng Canh – Dậu quá xa, đồng thời toạ Ngọ bị hoả chế nên Canh khó lòng chế Ất (2). Mậu thổ tháng Dần cần hoả thì đắc tiết. Mệnh cục có hoả, Mậu có căn khí tại Tỵ, Ngọ nên xem như thổ hậu (1). Do kim khó khắc phạt Ất mộc nên mệnh cục này chủ yếu lấy Mậu thổ làm trung tâm, dùng hoả đến sinh trợ cho thổ. Mừng nhật chủ Ất toạ Tỵ là toạ hỷ thần, thành ra ám sinh cho Tài Mậu thổ.

Năm 2012 vận Ất Hợi, niên Nhâm Thìn. Hợi xung Tỵ, phạt căn Mậu thổ trong Tỵ. Đồng thời Tỵ không thể thông quan nên nhật chủ xoay sang khắc Mậu thổ. Ất Hợi là đất thuỷ mộc tương sinh đến sinh trợ cho mộc khí, lại thấu Ất là ba Ất khắc một Mậu (3). Niên Nhâm Thìn đến, Nhâm là thuỷ khí sinh mộc, Thìn là căn khí của Ất mộc, là kho của thuỷ. Ba Ất mộc lại càng được sinh, lại càng cường vượng, Mậu thổ lại càng bị khắc (4). Ất là anh chị em, đến khắc Mậu cung bào. Anh gặp nạn.

Chú thích:
(1): “thổ hậu đa phùng hoả”
(2): “qui kim vượng ngộ thu”, đã thích Thân Dậu thì không thích hoả khắc.
(3): “đông thiên thuỷ mộc phiếm”
(4): “danh lợi tổng hư phù”, có thể hiểu là danh lợi không tốt, hoặc cũng có thể hiểu là hành vận gặp hung bại, ứng vào mình hay ứng vào người thân cần xem xét tiếp.

Sửa bởi ThienKhanh: 31/10/2016 - 02:50


#4 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 10/11/2016 - 00:41

Câu 5: 甲乙生居卯,金多运吉祥;不宜重见煞,火地得衣粮。

Giáp Ất sinh cư Mão, kim đa vận cát tường; bất nghi trọng kiến Sát, hoả địa đắc y lương
(Giáp Ất sinh tháng Mão, gặp vận nhiều kim thì cát tường; không hợp có Sát lại thấy Sát, hoả địa thì gặp thuốc hay)

Câu 3: Kiến Lộc sinh đề nguyệt, Tài Quan hỷ thấu thiên, bất nghi thân tái vượng, duy hỷ mậu tài nguyên. Và câu 4: Thổ hậu đa phùng hỏa, quy kim vượng ngộ thu, đông thiên thủy mộc phiếm, danh lợi tổng hư phù. Hai câu này vốn là một cặp, cùng nói lên một ý: mộc vượng, hỷ bị tiết chế.

Trong khi đó câu 2: Dần Mão đa kim Sửu, bần phú cao đê tẩu, Nam địa phạ phùng Thân, Bắc phương hưu kiến Dậu. Và câu 5: Giáp Ất sinh cư Mão, kim đa vận cát tường; bất nghi trọng kiến Sát, hoả địa đắc y lương. Hai câu này lại là một cặp, cùng nói về một ý: mộc cường nhưng bị tiết chế thái quá nên thành ra nhược.

Về khái niệm cường – nhược, vượng – suy tôi đã trình bày ở câu 2.

Mệnh cục được đem làm ví dụ trong câu số 5 này là mệnh Giáp Ất sinh tháng Mão, và mối quan hệ chủ yếu được xem xét là quan hệ giữa nhật chủ và Quan Sát. Mệnh Giáp Ất sinh tháng Mão là chính xuân mộc nắm lệnh nên nhật chủ cường.

“Giáp Ất sinh cư Mão, kim đa vận cát tường”: Đối với mệnh cục thân cường như phía trên, hành vận gặp nhiều kim tức gặp Quan Sát là tốt. Chữ “đa” (nhiều) ở đây cần hiểu là kim có thế vững mạnh, ví dụ như thấu Canh, Tân thì cần gặp căn tại vận chi; hoặc Canh, Tân không hư phù; hoặc kim gặp nguyên thần sinh cho; hoặc đại vận cần dẫn động được kim ẩn tàng trong mệnh cục. Nếu được “kim đa” như vậy thì kim có sức lực có thể khắc chế bớt mộc vượng, giúp bát tự cân bằng hơn.

“Bất nghi trùng kiến Sát, hoả địa đắc y lương”: Đối với mệnh cục mộc thân cường, không phải cứ thấy Quan Sát kim là tốt. Ở đây cần làm rõ cụm “trùng kiến Sát”. Trùng kiến Sát là khi trong mệnh cục có hành kim vững mạnh có khả năng chế mộc, lại gặp (trùng kiến) tổ hợp đại vận lưu niên nghiêng hẳn về phía kim, làm kim vượt lên trên mộc thì mộc bị tổn thái quá, bát tự sẽ bị mất cân bằng. Hoặc như trong trường hợp đã bàn đến ở câu 2 là “nam địa phạ phùng Thân, bắc phương hưu kiến Dậu”. Tức là thân mộc cường, gặp kim cũng cường. Đến hành vận gặp Thân xung Dần, hoặc gặp Dậu xung Mão là mộc bị phạt căn (mất căn), trong khi kim càng vượng hơn, thành ra mộc cũng bị tổn thái qua, bát tự cũng bị mất cân bằng.

Ở đây cần làm rõ Sát không chỉ là để chỉ Thiên Quan gây hoạ; thường khi Thiên Quan vô tình (có tác dụng xấu) thì là Thất Sát, gọi tắt là Sát; nếu có tác dụng tốt thì gọi là Thiên Quan. Tuy nhiên Chính Quan cũng có thể bị gọi là Sát. Tức Chính Quan nếu có tác dụng tốt thì gọi là Chính Quan, gọi tắt là Quan. Nếu có tác dụng xấu thì xem nó là Quỷ, là Sát.

Vậy mộc cường thích chế, nhưng thế lực chế là kim không nên thái quá. Nếu thái quá thì phải chữa làm sao? Đó là phải gặp hoả: “hoả địa đắc y lương”; vì mộc sinh hoả thì hoả là một phe với mộc, cũng có thể gọi hoả là vệ thần (thần bảo vệ) của mộc. Tại sao là vệ thần? Vì hoả có khả năng khắc kim cứu mộc.

Đến đây cần phân biệt hai khái niệm trong trường hợp này. Thứ nhất là khái niệm “tử năng cứu mẫu” được đề cập trong Trích Thiên Tuỷ, thứ hai là khái niệm tương chiến (đánh nhau): hoả kim tương tranh, mộc t*o ương.

Tử năng cứu mẫu là một trường hợp phản cục. Lấy mệnh cục này làm ví dụ. Mộc bị kim khắc chế thái quá, thì có thể lấy hoả khắc kim, kim bị khắc sẽ không khắc được mộc nữa. Mộc sinh hoả, thì mộc là mẫu (mẹ), còn kim là tử (con). Hoả khắc kim cứu mộc, tức tử có thể cứu mẫu.

Vì sao hoả kim tương tranh thì mộc bị tổn? Vì mộc vừa sinh cho hoả, vừa bị kim khắc, thành ra mộc bị tổn cả hai đường. Tức là nói mộc mà gặp hoả kim tương chiến thì là hung hiểm.

Vậy có thể nói Tử năng cứu mẫu và Hoả kim tương tranh mộc tổn là hai lí luận mâu thuẫn nhau, vì rõ ràng là trường hợp trước thì cát lợi cho mộc, trường hợp sau thì hung hoạ cho mộc. Vậy cái nào đúng?

Thật ra Tử năng cứu mẫu và hoả kim tương tranh mộc t*o ương là hai mặt của cùng một vấn đề. Đó là vấn đề căn khí.

Nếu mộc có căn khí vững, thế cường, thì có thể áp dụng Tử năng cứu mẫu, tức dùng hoả chế kim cứu mộc. Nếu mộc không có căn khí vững thì không thể dùng phản cục Tử năng cứu mẫu, vì nếu dùng mộc sẽ gặp ngay trường hợp hoả kim tương chiến mộc t*o ương.

Như vậy ở câu 5 này “hoả địa đắc y lương” còn phải trước tiên phải xem mộc thế; tức là phải xem mộc có chịu được cùng lúc kim hoả tương chiến hay không. Thứ đến là phải xem bố cục mệnh cục để hiểu được khí thế toàn bàn. Như vậy mới biết được cát hung, ví dụ như mộc cường thì bị khắc tiết đến đâu, còn mộc nhược thì bị t*o ương đến đâu.

Tóm lại, câu 5 “Giáp Ất sinh cư Mão, kim đa vận cát tường; bất nghi trùng kiến Sát, hoả địa đắc y lương” luận sâu về mới quan hệ giữa nhật chủ và Quan Sát. Nếu thân vượng gặp Quan Sát hữu tình thì tốt. Nếu thân cường nhưng Quan Sát khắc phạt thái quá thì vô tình, là hung; trong trường hợp đó có thể dùng phản cục, lấy hoả khắc Sát cứu mộc. Điều kiện sử dụng phản cục Tử năng cứu mẫu thì phải nhìn căn khí và bố cục bát tự.

-----

Ví dụ thực tế:

Càn: Đinh Mão – Mậu Thân – Canh Dần – Bính Tý

Đây là mệnh nam mất năm 2014, vận Ất Tỵ, niên Giáp Ngọ. Do bác Ba Phải đưa lên tại đây:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Do dữ liệu cá nhân hạn hẹp, tôi lấy mệnh Canh sinh tháng Thân kiến lộc làm ví dụ thay cho mệnh mộc sinh tháng Mão của phần này.

Mệnh Canh sinh tháng Thân mạnh thu kiến lộc đắc tiết (1). Dần – Thân xung bạt căn: Canh kim căn cơ bất ổn. Mừng có Mão – Đinh – Mậu – Thân một đường tương sinh. Lại có thời trụ Tý quản chế Sát Bính. Mệnh thân thiên vượng, dụng thuỷ chế Bính là quan trọng nhất; kỵ Dần mộc, Giáp mộc phát động.

Vận Ất Tỵ Sát vượng (3); thấu Ất, phá nguyên lưu Mão – Đinh – Mậu là phản cục. Tuy nhiên Canh kim đắc căn tại vận chi Tỵ là có cứu. Do đã phản cục tại niên nguyệt trụ, nên thời chi Tý là hết sức quan trọng vì cần nó chế Bính hoả. Nếu nó không chế được Bính hoả thì sẽ dễ xảy ra hiện tượng toàn bàn phản cục.

Năm Giáp Ngọ, niên chi xung mất Tý thuỷ (4), ứng kì đến. Sát Bính vô chế, lại gặp Ngọ là Nhẫn của Sát Bính, là lộc của Quan Đinh. Bính gặp Ngọ, Quan Sát cùng gặp, là trùng kiến Quỷ (3). Toàn bàn phản cục, Quan Sát hỗn tạp. Niên can lại thấu Giáp sinh Bính, cừu thần phát động. Mộc hoả cùng khắc Canh. Do toàn bàn phản cục, tức toàn bàn vô tình với Canh, không cứu.

Chú thích:
(1) “Giáp Ất sinh cư Mão”. Ở đây mượn mệnh Canh sinh tháng Thân.
(2) “Kim đa vận cát tường”. Ví dụ này không bao gồm trường hợp này.
(3) “Bất nghi trùng kiến Sát”.
(4) “Hoả địa đắc y lương”. Mệnh mộc thì hoả là nhi (con), dùng tử cứu mẫu. Mệnh kim thì thuỷ là con. Đã hỷ thuỷ thì nếu thuỷ tổn là hung.

Sửa bởi ThienKhanh: 10/11/2016 - 00:54


Thanked by 5 Members:

#5 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 17/11/2016 - 02:39

Câu 6: 火忌西方西,金沉怕水乡;木神休见午,水到卯宫伤。

Hoả kỵ Tây phương Dậu, kim trầm phạ thuỷ hương; mộc thần hưu kiến Ngọ, thuỷ đáo Mão cung thương.
(Hoả kỵ đến Dậu phương Tây, kim bị chìm sợ nơi thuỷ vượng; mộc thần thì không nên thấy Ngọ, thuỷ đến cung Mão bị thương)

Trước khi tiến hành bình chú cho câu 6 này, tôi nhắc lại một chút về vòng trường sinh đã đề cập ở câu 3.

Vòng trường sinh gồm có mười hai vị trí: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đới Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Có nhiều quan điểm nhìn nhận cách ứng dụng vòng trường sinh. Quan điểm thứ nhất và phổ biến nhất là áp dụng âm dương, âm tử dương sinh, dương tử âm sinh. Quan điểm thứ hai là áp dụng âm dương hợp nhất, đồng sinh cộng tử, sử dụng tiến khí, thoái khí. Đối với quan điểm thứ nhất, vị trí Dưỡng được tính là vị trí xấu. Ngược lại với cách nhìn tiến khí, thoái khí, thì vị trí Dưỡng là tốt, tiến khí.

Ngoài việc áp dụng vòng trường sinh để tính tinh khí bẩm sinh (tiên thiên) của thiên can, còn có một quan điểm khác là áp dụng tứ thời với năm khái niệm vượng, tướng, hưu, tù, tử để tính tinh khí. Việc áp dụng tứ thời này cũng theo quan điểm âm dương đồng sinh cộng tử.

Đến câu thứ 6 này của Ngũ Ngôn Độc Bộ, chúng ta lại thấy rõ ràng tác giả theo quan điểm âm dương đồng sinh cộng tử. Lấy mộc làm ví dụ, Giáp mộc và Ất mộc ở đây sẽ sử dụng cùng một vòng trường sinh, đó là cách tính vòng trường sinh của dương can (tính thuận).

Quan điểm âm dương đồng sinh cộng tử trong cách tính tinh khí tiên thiên của thiên can được nhiều người áp dụng, trong đó phải kể đến một tác giả rất quen thuộc đối với giới hậu học Tử Bình tại Việt Nam là Thiệu Vỹ Hoa. Trong những cuốn sách viết thời kì đầu, Thiệu Vỹ Hoa sử dụng vòng trường sinh với quan điểm âm tử dương sinh, nhưng ở những quyển sách viết sau này, ông Thiệu đã đổi lại, sử dụng quan điểm âm dương đồng sinh cộng tử.

Vòng trường sinh ngoài việc được dùng để tính tinh khí thụ bẩm thiên can, còn được dùng như một hệ thống Thần Sát. Mười hai vị trí trong vòng trường sinh chính là vị trí của mười hai vị Thần Sát. Nổi bật trong đó là các vị trí Trường Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng, Tử, Mộ, và Tuyệt. Ví dụ, Trường Sinh thuỳ tượng là sự bắt đầu mới; là cội nguồn; là sự sinh sôi liên không dứt; là êm đềm, dịu dàng. Chính vì vậy mà có câu nói Tài gặp trường sinh, ruộng điền vạn mẫu. Tuy không phải lúc nào Tài gặp Trường Sinh cũng ruộng điền thẳng cánh cò bay, nhưng qua đó chúng ta thấy được tính thuỳ tượng, tức việc sử dụng mười hai vị trí vòng trường sinh như mười hai Thần Sát.

Tôi lấy ví dụ vị trí Mộc Dục. Nó là sự tẩy rửa, lớn lên, tức nó ám chỉ sự thay đổi, cái mới lạ. Đồng thời khi xem tình duyên đôi lứa, nó là quan hệ tính dục nam nữ, là ham muốn xác thịt. Vậy tại sao Mộc Dục lại là quan hệ tính dục, ham muốn xác thịt, sự thay đổi, cái mới lạ và tâm lí thích cái mới lạ? Mộc mộc dục tại Tý, hoả thổ tại Mão, kim tại Ngọ, thuỷ tại Dậu. Tý Ngọ Mão Dậu là bốn vị trí của sao Đào Hoa.

Lý luận vòng trường sinh tôi chỉ phân tích đến đây, vì đã đủ để làm tiền đề phân tích câu số 6 này.

Trong câu 6 này, tác giả sử dụng cả hai chức năng của vòng trường sinh: tính tinh khí tiên thiên đồng thời sử dụng thuỳ tượng Thần Sát. Vị trí của vòng trường sinh được đề cập là vị trí Tử. Hoả kỵ Tây phương Dậu: âm hoả dương hoả trường sinh tại Dần, đến Dậu là Tử. Kim trầm phạ thuỷ hương: “thuỷ hương” là vị trí thuỷ đắc địa, vượng nhất, cũng là cung Tý. Âm kim dương kim trường sinh tại Tỵ đến Tý là Tử. Mộc thần hưu kiến Ngọ: âm mộc dương mộc trường sinh tại Hợi, đến cung Ngọ là Tử. Thuỷ đáo Mão cung thương: âm thuỷ dương thuỷ trường sinh tại Thân, đến Mão là Tử.

Lấy mộc làm ví dụ. Mộc tại cung Dậu là đến vị trí Tử, là thất lệnh (không được nguyệt lệnh), tức tinh khí của nó yếu kém, bạc nhược, như người đã chết, không còn sinh khí mà chỉ còn thể xác; đồng thời gặp Tử (thần sát), như gặp tử thần, có nhiều nguy nan, tai nạn, khốn khó.

Manh Phái có một “bí quyết” phổ biến đó là kim trầm gặp thuỷ hương thì vào tù. Đó cũng bắt nguồn từ chữ Tử của vòng trường sinh. Ở đây tôi lặp lại một ý phía trên đã đề cập, đó là không phải cứ kim trầm gặp thuỷ hương thì vào tù, mà nó chỉ là cái tượng nguy hiểm, kiếp nạn thương thân. Còn nó ứng vào việc gì, ứng vào ai, phải xem bố cục bát tự, tổ hợp niên vận, cũng như áp dụng nhiều kĩ thuật luận đoán khác nhau.

Tại sao vị trí Tử lại là tai nạn thương thân, hung hiểm. Vì nó chính là vị trí Tai Sát. Ở đây cần nhấn mạnh, chữ "Tử" chỉ là thuỳ tượng, tức là nó mang tính ước lệ. Điều này không có nghĩa là gặp nguyệt lệnh đất Tử thì nhật chủ tinh khí suy kiệt, đồng thời không có khả năng tiếp nhận tinh khí phù trợ, tức là mệnh cực nhược rất xấu. Quan điểm này chưa nhìn đến vấn đề bố cục bát tự và căn khí, như ví dụ thực tế tôi sẽ phân tích bên dưới.

Như vậy trong câu thứ 6 này, tác giả Ngũ Ngôn Độc Bộ đề cập đến một vị trí quan trọng và nổi bật trong vòng trường sinh: Tử. Đồng thời, qua đó cũng cho thấy quan điểm sử dụng vòng trường sinh của tác giả là âm dương đồng sinh cộng tử. Ngoài việc sử dụng vòng trường sinh để tính tinh khí tiên thiên, tác giả còn dùng nó như một hệ thống mười hai Thần Sát để luận cát hung.

-----

Ví dụ thực tế:

Càn: Tân Mùi – Giáp Ngọ - Ất Mão – Quý Mùi
Hai tuổi khởi vận

Đây là mệnh nam tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Mệnh Ất sinh tháng Ngọ là Tử, thất lệnh. Mừng Ất toạ lộc tự vượng, lại gặp căn khí tại niên chi, thời chi: mộc cường. Hai bên trái phải thấu Giáp sinh Quý trợ. Theo bố cục bát tự, Ngọ hoả ở vị trí thuận lợi, tiết khí thái quá mộc, lại thấu Tân tổn Giáp. Tân tại tháng Ngọ tuy thất tiết (hoả khắc kim, kim tử) nhưng toạ Mùi ám hoả là địa tái (địa tái: được địa chi chở thì có lợi; thiên phúc: được thiên can che thì có lợi), lại thêm kim khí có chút đặc biệt, nó sinh tháng Ngọ tuy bị khắc là thất tiết, nhưng cũng là nơi tiến khí (kim cần hoả rèn mới thành khí), thành ra nó vẫn có sức lực mà đi khắc Giáp. Bây giờ nhìn lại, Ất được Quý sinh, mà Quý vô căn, toạ Mùi là hư phù. Ất được Giáp trợ, mà Giáp bị Ngọ tiết, lại bị Tân khắc. Cuối cùng kết luận mệnh này tuy cường, nhưng tinh khí nó suy. (Chú ý khái niệm cường – nhược, vượng – suy tôi đã giải thích và phân biệt rõ ở câu 2.)

Người này trước năm 12 tuổi, tức vào đại vận đầu tiên Quý Tỵ, sức khoẻ kém, kinh tế gia đình kém, nhưng học giỏi.

Ở phần này tôi chỉ sử dụng đơn thuần luận vượng suy ngũ hành, cung tinh, cùng các thần sát thường thấy để luận, không dùng các kĩ thuật khác như phi cung, hay phi tinh. Tức tôi chỉ luận trên thực bàn bát tự, không luận trên hư bàn phi cung Manh Phái.

Học giỏi: Ất toạ Mão là Lộc thần. Lộc thần là văn chương. Nguyệt lệnh Ngọ là Xương Khúc nhị văn thần, niên chi Mùi là đất Mộ. Ngọ hợp đến Mùi là văn thần khoa bảng nhập mộ hoặc nhập trạch. Tức người này có mộ tổ phát thư hương hoặc ngôi nhà của tổ tiên hoặc nhà cha mẹ phát thư hương. Đây là một phần kỉ thuật luận trạch mộ qua bát tự. Cách xác định cụ thể là tổ mộ, tổ trạch hay lão gia phát thư hương tôi không đề cập ở đây, vì phần này tôi vẫn đang nghiệm lý; tuy có thấy nhiều trường hợp ứng nghiệm, nhưng vẫn chưa thu thập đủ nhiều lá số nghiệm lý nên tôi vẫn chưa dám khẳng định kỉ thuật này là đúng.

Sau khi nhìn thần sát, còn có một phần rất quan trọng là phải xem đương số có hưởng được hay không. Tức phúc nhà, phúc bản thân thì có mà mình có số hưởng hay không có số hưởng. Đương số có thể hưởng được Lộc Thần và Xương Khúc này nên người này học giỏi.

Kinh tế gia đình kém: Ngọ đất Tử lại là Thực Thần, là cái miệng ăn tai hại. Ngọ đến hợp Mùi là đất Tài kỵ thần, trợ Tân khắc Giáp: hao tài. Đều là tượng kinh tế gia đình kém. Tuy nhiên Tài Mùi cũng chính là mộc kho, là tài khố. Vì sao là tài khố? Mùi thổ là Tài là kỵ thần, thì Tỷ Kiếp chế Tài chính là thần phát tài. Mùi chính là Tỷ Kiếp khố, được xem như một loại tài khố thứ cấp. Có khố rồi lại xem khố đầy hay khố vơi. Giáp theo Ngọ nhập khố chính là khố này có tiềm lực. Chứng tỏ trạch hoặc mộ chủ phát thư hương, thứ phát tài lộc, tuy nhiên Ngọ Mùi vẫn là kỵ thần tiết khí, thâu khí, chứng tỏ trạch hoặc mộ cách cục có chỗ bị phá, khó mà phát lớn.

Đó là luận mệnh. Bây giờ luận vận. Vận Quý Tỵ, Tỵ - Ngọ - Mùi hoả phương may nhờ thấu Quý, hoả một đường tương sinh đến Giáp mộc. Tuy nhiên Quý hư phù, nôm na xem như mười phần hung giải được hai, ba phần. Tuy nhiên ngũ hành không có điểm dừng, phong không tàng thì khí không tụ, thành ra cầu được chữ bình an đã là may mắn phúc dày.

Trong phần luận mệnh này tôi đã trình bày một số thần sát hay dùng, phương pháp dùng vòng trường sinh như hệ thống mười hai thần sát, một phần kĩ thuật xem trạch mộ, một phần kĩ thuật xem tài lộc, một phần kĩ thuật cung tinh, một phần kĩ thuật loan đầu trong bát tự. Đặc biệt có nhắc đến vấn đề xem thần sát ứng hay không ứng, mặc dù tôi không muốn nói sâu phần này. Đúng sai chưa bàn đến vì chắc chắn sẽ có người không hài lòng, kĩ thuật luận Tử Bình đến phần luận xuất thân, vận hạn sắc nét thì thiên biến vạn hoá, vô cùng thú vị nhưng cũng cực kì phức tạp. Tuy nhiên tôi hi vọng những phần kiến thức này có tác dụng gợi mở một chút linh quang, đối với anh chị em đồng đạo có trợ giúp.

Cuối cùng tuy không liên quan đến câu 6 của Ngũ Ngôn Độc Bộ, nhưng tôi cũng xin nói ở đây: do các kĩ thuật luận xuất thân, phú quý bần tiện, vận hạn sắc nét vô cùng phong phú và phức tạp, mong các anh chị em, đặc biệt là các anh chị em nào mới nghiên cứu nên lấy chính lí ngũ hành, âm dương, hỷ kỵ làm nền tảng quan trọng nhất để đánh giá các kĩ thuật mà mình có cơ duyên gặp được, để xem nó đúng hay nó có khuyết điểm. Đừng tham cái cao xa, huyền bí mà đi lầm, rời xa chính lí ngũ hành, âm dương, hỷ kỵ thì tai hại vô cùng, sẽ khó lòng luận Tử Bình được nữa.

Sửa bởi ThienKhanh: 17/11/2016 - 03:08


#6 CaspianPrince

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 887 Bài viết:
  • 1165 thanks
  • LocationCaspian Sea

Gửi vào 17/11/2016 - 10:38

View PostThienKhanh, on 17/11/2016 - 02:39, said:

Ví dụ thực tế:

Càn: Tân Mùi – Giáp Ngọ - Ất Mão – Quý Mùi
Hai tuổi khởi vận

Đây là mệnh nam tôi xem số đã lâu. Hiện nay không còn nhớ là ai để xin phép đăng bát tự. Nếu đương số có phật ý, tôi xin được lượng thứ.

Mệnh Ất sinh tháng Ngọ là Tử, thất lệnh. Mừng Ất toạ lộc tự vượng, lại gặp căn khí tại niên chi, thời chi: mộc cường. Hai bên trái phải thấu Giáp sinh Quý trợ. Theo bố cục bát tự, Ngọ hoả ở vị trí thuận lợi, tiết khí thái quá mộc, lại thấu Tân tổn Giáp. Tân tại tháng Ngọ tuy thất tiết (hoả khắc kim, kim tử) nhưng toạ Mùi ám hoả là địa tái (địa tái: được địa chi chở thì có lợi; thiên phúc: được thiên can che thì có lợi), lại thêm kim khí có chút đặc biệt, nó sinh tháng Ngọ tuy bị khắc là thất tiết, nhưng cũng là nơi tiến khí (kim cần hoả rèn mới thành khí), thành ra nó vẫn có sức lực mà đi khắc Giáp. Bây giờ nhìn lại, Ất được Quý sinh, mà Quý vô căn, toạ Mùi là hư phù. Ất được Giáp trợ, mà Giáp bị Ngọ tiết, lại bị Tân khắc. Cuối cùng kết luận mệnh này tuy cường, nhưng tinh khí nó suy (1). (Chú ý khái niệm cường – nhược, vượng – suy tôi đã giải thích và phân biệt rõ ở câu 2.)

Người này trước năm 12 tuổi, tức vào đại vận đầu tiên Quý Tỵ, sức khoẻ kém, kinh tế gia đình kém, nhưng học giỏi.

Ở phần này tôi chỉ sử dụng đơn thuần luận vượng suy ngũ hành, cung tinh, cùng các thần sát thường thấy để luận, không dùng các kĩ thuật khác như phi cung, hay phi tinh. Tức tôi chỉ luận trên thực bàn bát tự, không luận trên hư bàn phi cung Manh Phái.

Học giỏi: Ất toạ Mão là Lộc thần. Lộc thần là văn chương. Nguyệt lệnh Ngọ là Xương Khúc nhị văn thần, niên chi Mùi là đất Mộ. Ngọ hợp đến Mùi là văn thần khoa bảng nhập mộ hoặc nhập trạch. Tức người này có mộ tổ phát thư hương hoặc ngôi nhà của tổ tiên hoặc nhà cha mẹ phát thư hương. (2) Đây là một phần kỉ thuật luận trạch mộ qua bát tự. Cách xác định cụ thể là tổ mộ, tổ trạch hay lão gia phát thư hương tôi không đề cập ở đây, vì phần này tôi vẫn đang nghiệm lý; tuy có thấy nhiều trường hợp ứng nghiệm, nhưng vẫn chưa thu thập đủ nhiều lá số nghiệm lý nên tôi vẫn chưa dám khẳng định kỉ thuật này là đúng.

Sau khi nhìn thần sát, còn có một phần rất quan trọng là phải xem đương số có hưởng được hay không. Tức phúc nhà, phúc bản thân thì có mà mình có số hưởng hay không có số hưởng. Đương số có thể hưởng được Lộc Thần và Xương Khúc này nên người này học giỏi. (3)

Kinh tế gia đình kém: Ngọ đất Tử lại là Thực Thần, là cái miệng ăn tai hại. Ngọ đến hợp Mùi là đất Tài kỵ thần, trợ Tân khắc Giáp: hao tài. Đều là tượng kinh tế gia đình kém. Tuy nhiên Tài Mùi cũng chính là mộc kho, là tài khố. Vì sao là tài khố? Mùi thổ là Tài là kỵ thần, thì Tỷ Kiếp chế Tài chính là thần phát tài. Mùi chính là Tỷ Kiếp khố, được xem như một loại tài khố thứ cấp. Có khố rồi lại xem khố đầy hay khố vơi. Giáp theo Ngọ nhập khố chính là khố này có tiềm lực. Chứng tỏ trạch hoặc mộ chủ phát thư hương, thứ phát tài lộc, tuy nhiên Ngọ Mùi vẫn là kỵ thần tiết khí, thâu khí, chứng tỏ trạch hoặc mộ cách cục có chỗ bị phá, khó mà phát lớn. (4)

Đó là luận mệnh. Bây giờ luận vận. Vận Quý Tỵ, Tỵ - Ngọ - Mùi hoả phương may nhờ thấu Quý, hoả một đường tương sinh đến Giáp mộc. Tuy nhiên Quý hư phù, nôm na xem như mười phần hung giải được hai, ba phần. Tuy nhiên ngũ hành không có điểm dừng, phong không tàng thì khí không tụ, thành ra cầu được chữ bình an đã là may mắn phúc dày. (5)


Quý hóa duyên lành. Cảm ơn thầy đã sử dụng bát tự của tôi.

Tôi xin nói rõ về vài điểm:

(1) mệnh này tuy cường, nhưng tinh khí nó suy: Tôi từ nhỏ thân thể yếu kém nhưng bổ sung hậu thiên khá tốt thông qua ăn uống (ăn rất nhiều cá và nội tạng động vật) và cả luyện khí công

(2) văn thần khoa bảng nhập mộ hoặc nhập trạch. Tức người này có mộ tổ phát thư hương hoặc ngôi nhà của tổ tiên hoặc nhà cha mẹ phát thư hương: ông nội và ông ngoại từng nắm quyền trong thôn xóm và khu dân cư nhỏ. Ba của tôi thì đi bộ đội đánh Khơ me đỏ, còn ông bác bên nội thì tham gia quân đội Bắc Việt làm đến cấp trung/thượng tá. Bản thân tôi thì nghiền ngẫm cả văn thơ lẫn quân sự. Hiện tại tôi đang làm quản lý trong lĩnh vực giáo dục

(3) phúc nhà, phúc bản thân thì có mà mình có số hưởng hay không có số hưởng. Đương số có thể hưởng được Lộc Thần và Xương Khúc này nên người này học giỏi: Tôi không rõ là có tính là hưởng phúc hay không vì từ năm 16 tuổi đã cùng cha mẹ và anh chị em di cư sang Mỹ. Sau đó thì phần lớn thời gian tôi sống xa và độc lập với cha mẹ cũng như anh chị em. Bây giờ thì sống một mình tại Trung Quốc, họ tên cũng thay đổi (phát âm, thứ tự chữ).

(4)Chứng tỏ trạch hoặc mộ chủ phát thư hương, thứ phát tài lộc, tuy nhiên Ngọ Mùi vẫn là kỵ thần tiết khí, thâu khí, chứng tỏ trạch hoặc mộ cách cục có chỗ bị phá, khó mà phát lớn Cảm ơn thầy vì đã chỉ điểm. Cha mẹ tôi trong giai đoạn trước 10-12 tuổi rất khó khăn về tài chính, sau này khá hơn nhiều. Tôi cũng nghi ngại ngôi mộ mà tôi hưởng phúc có tay Long (bên Tả) có vấn đề dựa theo lá số Tử Vi (cung Di có Cự hóa Lộc ngộ Triệt).

(5) thành ra cầu được chữ bình an đã là may mắn phúc dày. Giai đoạn trước 12 tuổi tôi ốm yếu và mắc bệnh kỳ quái về da, nứt nẻ ứa máu rất đau đớn. Sau 12 tuổi bệnh này biến mất hoàn toàn. Có thể do Hỏa trọng thương Kim (chủ về da) chăng? Bây giờ thì tôi cao to vạm vỡ hơn, cao trên 1.75m. Có người nói cao trên 1.75m là ứng vào nhật chủ Ất phát phúc phát tướng. Thêm vào đó, từ nhỏ tôi đã được đặt tên tục là Cang, một trong Nhị Thập Bát Tú ~ Cang Kim Long ứng với sao Thanh Long để hộ thân (ba tôi nói có ông cụ giúp chọn tên tục này).

Sửa bởi CaspianPrince: 17/11/2016 - 10:44


Thanked by 2 Members:

#7 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 17/11/2016 - 23:51

Cảm ơn bạn Caspian Prince đã phản hồi thông tin chi tiết cho ví dụ thực tế. Không ngờ là bát tự của bạn, vì tôi chỉ ghi lại bát tự chứ không ghi lại nick. Tôi cũng hơn bạn vài tuổi thôi bạn gọi tên được rồi, đừng gọi thầy vì tôi cũng không xem bói lấy tiền. Tôi thấy cũng có duyên, tôi xem thử phần mộ tổ của bạn xem sao. Phần này chưa nghiệm lí đầy đủ nên bạn xem như tạp kĩ giúp vui là được.

Phần mộ dòng họ của bạn nằm ở địa hình đất trải rộng, nhưng nhấp nhô không bằng phẳng, có cây cối nhưng không tươi tốt. Khu đất này đáng lẽ có mạch nước ngầm ẩm thấp tuy nhiên hiện nay đất khá khô. Trong dòng họ có mộ thất lạc. Hai bên trái phải gần như ngang nhau về mặt hình thế tuy nhiên về bên Bạch Hổ nổi trội hơn và vấn đề nằm ở bên Bạch Hổ này, không phải ở bên Thanh Long.

Nhà tổ / nhà thờ tự / nhà ông bà nội của bạn có khí trường hài hoà hơn, không khí mát mẻ, cây cối xung quanh cũng tươi tốt hơn. Ngôi nhà này xuống cấp, cần phải tu sửa nhiều chỗ.

Ông cụ đặt tên tục cho bạn thuộc hàng cao thủ, lấy đúng dụng thần, đồng thời giúp hoá giải bớt sát khí từ phần mộ.

Thanked by 1 Member:

#8 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 18/11/2016 - 13:35

Hôm qua tôi mới viết về việc dùng 12 vị trí vòng trường sinh như hệ thống 12 Thần Sát. Hôm nay ở diễn đàn khác liền có người xuất quan sau mấy tháng "bế quan", với thành quả "bế quan" là dùng 12 Thần Sát vòng Trường Sinh luận bát tự theo kiểu lấy nó làm nòng cốt đoán cát hung tại vận hạn. Cũng thật là một sự trùng hợp lạ lùng. Điểm danh vậy thôi chứ khi viết mấy cái này tôi cũng đã chuẩn bị tâm lý sẽ có chuyện trùng hợp lạ lùng như thế này xảy ra rồi.

Sửa bởi ThienKhanh: 18/11/2016 - 13:38


Thanked by 3 Members:

#9 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 29/11/2016 - 01:21

Giải thích thêm cho phần thần sát vòng Trường Sinh.

Phía trước tôi cho rằng Mộc Dục mang một phần tượng của Đào Hoa vì nó chính là vị trí Đào Hoa. Ví dụ: Hợi Mão Mùi tam hợp mộc, Đào Hoa tại Tý. Xét vòng Trường Sinh, mộc trường sinh tại Hợi, mộc dục cũng tại Tý. Vì vậy mà mộc dục mang một phần tượng của Đào Hoa.

Như vậy nếu nói vị trí Tử mang một phần tượng của Kiếp Sát, ai tinh ý sẽ nhận ra điểm thiếu sót. Ví dụ, Hợi Mão Mùi mộc cục, Kiếp Sát của nó nằm ở chi Dậu, không phải chi Ngọ. Đây là chỗ tôi muốn giải thích thêm cho rõ, tránh nhầm lẫn.

Lấy mộc làm ví dụ. Mộc trường sinh tại Hợi, tử tại Ngọ. Tức là tại Ngọ, hành mộc đã là bại khí. Vậy Ngọ là Kiếp Sát của ai? Nó không phải là Kiếp Sát của mộc, mà là Kiếp Sát của thuỷ, nguyên thần của mộc (thuỷ sinh mộc). Đó là lí do tại sao vị trí Tử được tác giả chú trọng như vậy. Bởi vì tại Tử, hành bản khí hoá thành bại khí, còn nguyên thần của nó lại gặp Kiếp Sát. Hành bản khí đã lâm vào đất chết, lại không có nguyên thần sinh cho, tức là khó mà hoàn hồn, không còn bất kì sinh cơ nào.

Như vậy, tại Ngọ mộc Tử, nguyên thần thuỷ của nó gặp Kiếp Sát. Tại Dậu, hoả tử, nguyên thần mộc của nó gặp Kiếp Sát. Tại Tý, kim tử, nguyên thần hoả của nó gặp Kiếp Sát (nam phương hoả vượng, thổ tướng, kim tiến khí, một đường tương sinh, gặp Kiếp Sát phá cục). Tại Mão, thuỷ tử, nguyên thần kim của nó gặp Kiếp Sát.

Kiếp Sát này không phải là Kiếp Sát bản khí mà là Kiếp Sát nguyên thần.

-----

Câu 7: 土宿休行亥,临官在己富;南方根有旺。西北莫相逢。

Thổ tú hưu hành Hợi, lâm quan tại Tỵ cung; nam phương căn hữu vượng, Tây Bắc mạc tương phùng
(Thổ không nên đi đến đất Hợi, gặp lâm quan tại cung Tỵ; phương nam thì có căn mà vượng; đất Tây Bắc lại không nên tới)

Phía trước tác giả đã diễn giải vòng trường sinh của bốn hành: kim, thuỷ, mộc, hoả. Ở câu 7 này, tác giả đề cập đến sinh vượng của hành thổ.

Thổ tú: sao Thổ, là một cách nói để chỉ hành thổ.

Thổ tú hưu hành Hợi: thổ không nên đi đến đất Hợi là vì sao? Hợi là đất thuỷ vượng, mộc tướng, mộc lại được trường sinh, trong Hợi tàng mộc căn là Giáp. Vậy mộc tại Hợi có thế rất vững. Mậu Kỷ đến sinh tháng Hợi vốn thất tiết, sinh khí yếu ớt. Chỉ cần thấu mộc, thì mộc dựa vào thế của Hợi khắc phạt thổ rất nặng. Thành ra Hợi là đất bất lợi hàng đầu của thổ.

Lâm quan tại Tỵ cung: thổ trường sinh tại Dần là qui tắc cổ điển của Tử Bình. Cá biệt có lưu phái phân thổ thành hai loại khác nhau, một loại trường sinh tại Dần, một loại trường sinh tại Thân. Lại có trường hợp cho thổ trường sinh tại Tý. Vì vòng trường sinh của thổ là đề tài gây tranh cãi như vậy, nên tác giả dành hẳn riêng một câu để luận sinh vượng của thổ. Như vậy theo tác giả Ngũ Ngôn Độc Bộ, thổ lâm quan tại Tỵ, cũng tức là tác giả cho rằng thổ trường sinh tại Dần cung.

Nam phương căn hữu vượng: thổ vượng tại tứ quý Thìn Tuất Sửu Mùi, tuy nhiên công năng tại từng quý lại khác nhau, không bàn ở đây vì là vấn đề không liên quan. Trong bốn phương Đông Tây Nam Bắc, nếu phải chọn ra một phương thổ vượng nhất, thì đó là phương Nam, hoả vượng thổ tướng. Thổ tại phương Nam là gặp căn, vượng. Tại Tỵ lâm quan, tàng căn Mậu thổ. Tại Ngọ đế vượng, tàng căn Kỷ thổ. Tại Mùi có dư hoả khí sinh, Kỷ lại là bản khí của Mùi. Như vậy nam phương Tỵ Ngọ Mùi đều tàng chứa căn và tương sinh cho thổ.

Tây Bắc mạc tương phùng: Tây Bắc là Càn cung, Tuất Hợi toạ ở đó. Thổ đến đất Hợi đã diễn giải phía trên. Thổ đến Tuất vì sao cũng xấu? Thổ đến Tuất gặp căn khí vì Tuất bản khí là Mậu. Nhưng Tuất đã là cuối thu, trời đã trở lạnh. Tuất tuy là hoả khố, nhưng hoả tại khố vùi sâu cần được kích phát thì mới phát huy công năng. Mà dù cho hoả khố được kích phát, hoả tại mùa thu vẫn là đất tù, thất khí, tự mình yếu nhược; lấy nhược sinh nhược vẫn là nhược, trừ phi hoả là thực khí. Tuy nhiên thổ tại Tuất vẫn có sinh cơ tốt hơn ở Hợi, đó là điều dĩ nhiên.

Như vậy tóm lại, câu 7 Ngũ Ngôn Độc Bộ luận sinh vượng của hành thổ. Kỵ nhất của hành thổ là cung Càn, phương Tây Bắc. Tốt nhất cho hành thổ là phương Nam hoả vượng. Phương Đông tuy mộc vượng là Sát của thổ, nhưng đồng thời hoả tướng, chỉ cần hoả được kích phát thì sẽ phát huy đầy đủ công năng hoá mộc sinh thổ. Thổ tại phương Tây và phương Bắc đều thất tiết, kém.

Ở đây cần làm rõ, vòng Trường Sinh hoặc Tứ Thời đều chỉ phản ánh tinh khí thụ bẩm (tiên thiên) của thiên can. Muốn kết luận nhật chủ hoặc một can nào đó vượng hay suy cần phải làm một phép cân đo tinh tế, trong đó những dữ liệu đầu vào là tinh khí tiên thiên, căn khí, và bố cục bát tự. Mộc sinh tháng Hợi tuy rất bất lợi nhưng chưa chắc đã suy, Mộc sinh tháng Tỵ đắc lộc nhưng chưa chắc đã vượng. Đừng thần thánh hoá uy lực của vòng Trường Sinh hay Tứ Thời mà dẫn đến việc cân đo vượng suy bị sai lệch, vô cùng đáng tiếc.


-----

Ví dụ thực tế:

1. Mậu sinh tháng Dậu suy.

Càn: Ất Sửu - Ất Dậu – Mậu Ngọ - Bính Thìn

Mệnh này tôi xem vào năm 2013. Hôm nay thấy đương số gọi lại nhờ xem tiếp. Vừa đúng có mệnh Mậu sinh tây phương nên lấy làm ví dụ cho phần này. Xét ra thì có duyên thật vì bát tự mệnh thổ lại sinh tháng Dậu, Tuất, Hợi tôi hầu như không tìm được trong kho tư liệu. Đều do thói lười biếng, chỉ xem số mà không ghi lại vào tư liệu mà ra cả.

Mậu thổ sinh tháng Dậu thất tiết, thấu nguyên thần Bính, Bính tại tháng Dậu cũng thất tiết. Mậu Ngọ - Bính Thìn hoả thổ tương sinh nhưng xét ra mẹ - con cả đảng vẫn là thất tiết, có sinh cho nhau vẫn là lấy nhược sinh nhược. Mừng Mậu gặp Ngọ - Thìn đều là đắc căn, vững. Mệnh thấu hai Ất thất tiết, nhưng đắc căn tại Thìn, có lực khắc Mậu. Dậu vô tình. Thân nhược.

Vận Giáp Thân lơ là việc học: Giáp - Ất - Ất Quan Sát hỗn tạp. Giáp tuyệt xứ phùng sinh, tải thêm hai Ất, thân nhược càng nhược. Vận Quý Mùi học tốt: Mậu – Quý – Bính – Ngọ – Mùi thổ cục, thân chuyển vượng, Ất Sát từ kỵ chuyển hỷ lại đắc căn có lực tại Thìn Mùi. Vận Nhâm Ngọ kiếm tiền được, tiêu tiền cũng lắm: Ngọ - Ngọ - Mậu – Bính – Thìn thân vượng. Thấu Nhâm vô căn, gần như hư phù. Nhâm trợ mộc chế thân, tuy nhiên Mộc thổ tương tranh Nhâm t*o ương.

Ví dụ phía trên còn có thể minh hoạ cho tác dụng tại vị trí Tử của vòng Trường Sinh. Nguyên thần gặp Kiếp Sát.

2. Mậu sinh tháng Tuất vượng.

Càn: Đinh Mão – Canh Tuất – Mậu Thân – Nhâm Tuất

Mậu sinh tháng Tuất Càn cung, bất lợi theo lời tác giả. Tuy nhiên tháng Tuất vẫn tính đắc căn. Đinh – Mão – Tuất hoả cục, Mậu lại đắc căn tại nhật, thời chi. Tài Nhâm đắc tiết, căn khí tại Thân, Canh kim gốc vững nhưng bị hoả khắc khó lòng tú khí thổ. Thân Mậu vượng. Dụng kim thuỷ.

Người này mập, tóc xoăn, mắt sáng. Gia đình cha mẹ kinh tế khá giả, vợ đẹp, hiện đã có hai con khoẻ mạnh, người con thứ hai sinh năm nay 2016. Đường học vấn chậm chạp. Năm nay 2016 vẫn đang theo học cao đẳng quản trị kinh doanh bằng cấp quốc tế, đồng thời học CFA (tài chính).

Ví dụ phía trên minh hoạ cho kỵ thần tại cung Phụ Mẫu nhưng cha mẹ không nghèo hèn. Lý do xin tự suy xét.

Sửa bởi ThienKhanh: 29/11/2016 - 01:49


Thanked by 3 Members:

#10 thienmatuongquan

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 354 Bài viết:
  • 163 thanks

Gửi vào 29/11/2016 - 09:51

bát tự của mình thiên khánh luận giúp được ko, coi như làm ví dụ cho thổ tú
Đinh mão - canh tuất - mậu thân - Kỷ mùi

Sửa bởi thienmatuongquan: 29/11/2016 - 10:07


#11 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 01/12/2016 - 23:38

Chào Thienmatuongquan, thật ra anh muốn tìm bát tự có nhật can thổ sinh tháng Hợi, thân vượng, hành vận hữu tình để minh hoạ ngược lại với tác giả, nhưng bát tự như vậy hơi hiếm.

Bát tự của em vượng suy dễ xem. Mậu thổ sinh tháng Tuất đắc khí, Đinh - Mão - Tuất hoả cục, Mậu - Kỷ - Mùi toàn thổ. Bát tự này hoả thổ thành tượng lấy kim làm dụng tiết tú. Mừng toạ chi Thân nhập chủ vị là đắc tú khí, đắc luôn Tài khí, lại thấu Canh là tú khí hiển lộ. Đáng tiếc thấu tại hoả cục, bị khắc đáng kể. Đó là điểm xấu nhất trong mệnh.

Bát tự này là người sống nội tâm, yêu bản thân mình hoặc luôn có xu hướng tìm hiểu bản thân, đối thoại với bản thân, nhưng không đủ bền chí, bên trong tự ngạo 1 chút. Em là người biết suy nghĩ, khá sắc sảo, ngoài mềm trong cứng, biết cách ăn nói. Em dáng đi vững chải, người có thể hơi ốm. Sức khoẻ nhìn chung là tốt, chỉ có vấn đề về tiêu hoá và bài tiết nhẹ.

Xin lỗi, trong số anh chị em của em có thể có người mất sớm như trường hợp lưu thai chẳng hạn. Nếu em có anh chị em thì khả năng sẽ là người có trực giác mạnh, có thể có tiếp xúc với tâm linh.

Ba hoặc mẹ của em có thể làm bên nhà nước, chức vụ có thể không cao nhưng có quyền lực nhất định, là loại quyền lực ngầm, có thể tác động bên trong chẳng hạn. Công việc hoặc phòng ban, cơ quan làm việc có liên quan đến tiền bạc, vật tư, hậu cần. Nơi mà ba mẹ em kiếm tiền thường đông đúc, ồn ã, nhiều thị phi, nhưng thị phi không nặng. Ba mẹ của em là người biết tính toán, kín kẽ, chi tiêu kĩ, tài sản thường không phô ra mà có tài sản ngầm là chủ yếu. Cha mẹ em có quen nhiều người nghiên cứu huyền thuật hoặc tu hành. Cha hoặc mẹ của em có ai tu hành hoặc nghiên cứu huyền học không?

Em thích hợp làm bên kinh doanh, mua bán. Em khá đào hoa, hơi lăng nhăng, chi cho người yêu hơi sang. Em chi tiêu cho các mối quan hệ xã hội cũng nhiều, nhưng thông qua các mối quan hệ đó em có thể kiếm được tiền. Tức là em biết cách xài tiền. Em có duyên với huyền học, vận Mậu Thân có thể đã bắt đầu nghiên cứu rồi, không biết đang nghiên cứu môn gì?

Anh nói cái này thì hơi kỳ, nhưng kết hợp vài yếu tố, cho thấy có khả năng thận yếu. Việc sinh hoạt riêng tư nên điều độ.

Thanked by 2 Members:

#12 thienmatuongquan

    Hội viên

  • Hội Viên TVLS
  • Pip
  • 354 Bài viết:
  • 163 thanks

Gửi vào 02/12/2016 - 13:45

anh thiên khánh, anh đoán nhiều cái chuẩn ghê, đúng là em có 1 đứa em, em trai, mẹ em bỏ, đi xem bảo thấy vẫn đi theo em, ngày xưa nghèo nên mẹ em bỏ.
Mẹ em tu hành và theo đạo thờ mẫu, mẹ em tín tâm.
tính cách em anh nói cũng chuẩn ạ, em cũng khá đào hoa, vì em sống nhiệt tình và chịu chi
em cũng thích huyền học, bị ảnh hưởng bởi mẹ và ông ngoại
em thấy các vận sau này của em, hỏa khí quá mạnh, nên cũng hơi lo ạ
cảm ơn anh đã xem giúp

Thanked by 1 Member:

#13 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 02/12/2016 - 15:03

Cám ơn Thienmathantuong đã phản hồi nhé. Nếu có thời gian nhờ em phản hồi luôn những thông tin anh coi sai còn lại, nếu em thấy thuận tiện, còn nếu em không muốn tiết lộ thông tin cá nhân cũng không sao. Tại vì 1 lần coi sai thì mình học được bằng 4,5 lần mình coi đúng nên anh muốn biết thêm.

Lúc đầu anh nghĩ bát tự của em không giúp ích được cho topic này, nhưng sau khi luận và em phản hồi thì nó quả thật giúp ích cho điều mà anh muốn đạt được qua việc viết topic này. Cám ơn em nhé.

Như em cũng đã biết sang 3 đại vận tới Đinh Mùi, Bính Ngọ, Ất Tỵ đều là kỵ thần, vậy thì bây giờ mình tranh thủ chuẩn bị trước, đầu tư cho bản thân, ví dụ như học thêm 1 số kĩ năng, làm thêm 1 ít việc thiện, làm việc chăm chỉ hơn 1 chút, xây dựng thêm những mối quan hệ lành mạnh.

Sửa bởi ThienKhanh: 02/12/2016 - 15:04


Thanked by 2 Members:

#14 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 02/12/2016 - 23:52

View Postthienmatuongquan, on 02/12/2016 - 15:17, said:

vâng em cảm ơn anh, em muốn hỏi nữa là bát tự của em, có thể luận theo manh phái, hỏa thổ thành đảng chế kim thủy được ko, cảm ơn anh

Ý em là nói Manh phái Đoàn Kiến Nghiệp? Theo MP ĐKN, nếu em luận đây là kết cấu khử dụng thì là mệnh xấu vì (1) nguyên cục không khử triệt để (toạ Thân, Tỵ bị hợp trói trong hoả cục), (2) trụ giờ Kỷ Mùi là phế thần.

Ông Đoàn sau này luận không chỉ có 1 kết cấu chế/khử dụng như ban đầu, mà còn có kết cấu sinh dụng, hoá dụng, tiết dụng, hợp dụng, mộ dụng; rất rắc rối và phức tạp. Anh vẫn chưa đọc hết vì không đủ kiên nhẫn, đọc được vài trang là lại bực mình. Anh đang định Tết này có thời gian, đầu óc thanh thản, sức kiên nhẫn tốt hơn thì sẽ cố đọc hết.

View Postmewtoo, on 02/12/2016 - 20:59, said:

anh V ơi, bát tự của em trước anh có luận qua
nam quý dậu- ất sửu - bính ngọ - ất mùi
em muốn hỏi bát tự của em thuộc dạng có bệnh hay dạng cân bằng.
Thân chào anh

Bát tự của em thân vượng. Bát tự rất hiếm dạng cân bằng ngũ hành. Anh không biết em là ai vì nick em lạ quá, nhưng em không nên nói tên thật hay thông tin cá nhân của anh khi anh chưa đồng ý. Bát tự của em không liên quan đến nội dung hiện tại của Ngũ Ngôn Độc Bộ nên anh chỉ luận đến đây, không luận tiếp nữa, để cho nội dung topic được xuyên suốt.

Sửa bởi ThienKhanh: 02/12/2016 - 23:59


Thanked by 4 Members:

#15 ThienKhanh

    Pro Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPip
  • 1016 Bài viết:
  • 1500 thanks

Gửi vào 21/12/2016 - 17:41

Câu 8: 阴日朝阳格,无根月建辰,西方还有贵,干怕火来侵。

Âm nhật triều dương cách, vô căn nguyệt kiến Thìn, Tây phương hoàn hữu quý, can phạ hoả lai xâm.
(Cách cục Âm Nhật Triều Dương, không có căn tháng là chi Thìn, hoặc gặp phương Tây cũng quý, can Tân sợ hoả đến khắc)

Câu này còn có bản ghi là “Minh nhật triều dương”. Sau khi tra cứu, cụ thể là dùng quyển Tam Mệnh Thông Hội của nhà xuất bản Thời Đại, đồng thời tham khảo các trang mạng tiếng Trung về Tử Bình, tôi nhận thấy cách ghi “Âm nhật triều dương” chính xác hơn.

Thế nào là “Âm nhật triều dương cách”?

Âm nhật là ngày âm, tức ngày lục Tân; ý chỉ các bát tự có nhật can Tân. Triều dương tức giờ Mậu Tý. Tý là giờ cực âm sinh dương, lại thêm tượng Mậu ám hợp Quý trong Tý là hoả cục, thành ra gọi triều dương, tức là khí dương chưa hiển hiện rõ ràng, mà còn ẩn tàng, đang có xu hướng đi lên.

Âm nhật triều dương có hai cách quý: nên có căn khí, hoặc nếu không có căn khí thì nên gặp tháng Thìn.

Để hiểu hỷ kỵ của cách Âm nhật triều dương, cần hiểu vấn đề thực và hư ngũ hành trong bát tự.

Bát tự có bốn trụ: niên, nguyệt, nhật, thời. Trong đó niên nhật là hư ngũ hành, nguyệt thời là thực ngũ hành. Tại sao gọi là thực ngũ hành? Vì chỉ có nguyệt trụ (tháng) và thời trụ (giờ) mới phản ánh sự tuần hoàn của ngũ hành trong trời đất. Đối với tháng, có xuân hạ thu đông. Xuân mộc vượng, hoả tướng, kim tù, thuỷ hư, thổ tử; hạ hoả vượng, thổ tướng; thu kim vượng, thuỷ tướng; đông thuỷ vượng, mộc tướng. Đối với ngày, có sáng trưa chiều tối. Sáng mộc vượng, hoả tướng; trưa hoả vượng, thổ tướng; chiều kim vượng, thuỷ tướng; tối thuỷ vượng, mộc tướng. Chính vì vậy nguyệt trụ và thời trụ nắm vai trò điều hoà khí hậu chủ yếu trong bát tự. Đó cũng là lí do dụng thần đắc khí, đắc thế, đắc địa tại nguyệt trụ và thời trụ thường có sức mạnh to lớn hơn, và bát tự thường được đánh giá là quý hơn so với những vị trí khác.

Điển hình cho tư tưởng này có Thời thượng nhất vị quý, và Qui lộc là hai khái niệm thường thấy dựa trên tầm quan trọng của trụ giờ.

Đó là xét về mặt ngũ hành. Dĩ nhiên trường hợp Thời thượng nhất vị quý và Qui lộc còn có thể biện luận dựa vào công năng thu cục của thời trụ. Tượng loại của thời trụ là lão niên, tức là về già. Lão niên là thời gian “thu cục” của cả một đời người. Thời thơ ấu cha mẹ giàu sang, chưa chắc đã là quý, còn nhìn sự nghiệp bản thân. Hai mươi tuổi tự lập nghiệp giàu sang hơn người chưa chắc đã là quý, còn nhìn vợ. Ba mươi lăm tuổi giàu sang hơn người, vợ đẹp giỏi, chưa chắc đã là quý, còn nhìn con. Năm mươi tuổi giàu sang hơn người, vợ đẹp giỏi, con cái ngoan ngoãn, thành đạt, chưa chắc đã là quý, còn nhìn sức khỏe của bản thân và sự hiếu thảo của con cái khi mình về hưu, không làm ra tiền. Trăm năm đời người, đến cuối cùng mới biết ai là người cười, ai là kẻ khóc. Vì vậy thời trụ được xem trọng hơn những trụ khác một chút.

Ở đây tôi chỉ dùng ngũ hành hư thực để biện luận Âm nhật triều dương cách. Tân kim sinh giờ Tý hưu địa, thất thời. Mừng Mậu thấu tại Tý. Mậu - Quý ám hợp, Mậu thổ ẩm sinh kim. Xem như thuỷ ám có tình mà kim được lợi. Tý là đất giả trường sinh của Tân kim (biện luận theo lối sử dụng vòng Trường sinh âm tử dương sinh); thấu Mậu thì từ hư chuyển thực, giả trường sinh thành thật trường sinh. Mậu tại Tý thất thời nên không thể làm tổn hao Tý thái quá, lại có Tân kim thông quan. Tý tưởng là tiết kim, nhưng lại ám sinh; Mậu nghĩ là tổn thuỷ nhưng lại thông quan; giờ Tý xem là âm cực thịnh, nhưng Mậu – Quý lại ám sinh dương khí. Cục này do đó mà đạt được sự cân bằng vi diệu.

Tuy nhiên, dùng thời trụ biện ngũ hành, Tân giờ Tý thất thời, Mậu cũng thất thời, chỉ nhìn thời trụ thì rõ ràng nhật chủ Tân suy. Nên tốt nhất vẫn là gặp Tây phương Thân Dậu, hoặc nếu bát tự tứ trụ kim vô căn thì cần trợ Mậu sinh kim, nhưng đồng thời cần phải đảm bảo Mậu thổ không khắc phạt Tý thuỷ thái quá. Do đó hỷ sinh tháng Thìn, Mậu thổ đương lệnh, Mậu thấu từ thuỷ khố Thìn thì dễ dung thuỷ.

Thành ra mới có câu “Âm nhật triều dương cách, vô căn nhật kiến Thìn, Tây phương hoàn hữu quý”.

Bây giờ lại chú thích “can phạ hoả lai xâm”. Tân kim lấy hoả làm Quan Sát, sợ hoả đến làm hại, theo Tam Mệnh Thông Hội giải thích thì Mậu - Quý ám hợp hư hoả; lấy hư hoả làm quý (mệnh Tân kim, Bính hoả là Quan) thì sợ hoả điền thực. Ở đây tôi giải thích theo thực ngũ hành, không luận hư thực.

Giả sử cục Âm nhật triều dương gặp Tây phương, kim trong cục vượng, hỷ lấy Tý thuỷ tú khí, hoặc hoả chế kim khí làm quý khí. Hoả thuỷ đều là hỷ dụng. Tuy nhiên gặp Ngọ hoả thì sẽ xung Tý. Quý khí – tú khí tương xung, lẫn nhau khắc phạt, hỷ không ra hỷ, dụng không ra dụng, còn gì là quý? Đây là trường hợp dụng thần trở mặt thành hung. Hoặc nếu gặp Bính Đinh thấu can, có Mậu hoá thì Tân vượng càng vượng, Mậu đắc hoả khí khắc phạt tú khí Tý thuỷ; hoả khí lúc này cũng trở mặt, không chế kim mà lại ám sinh kim. Thân vượng, tú khí bị chế thì nguyên khí trì trệ.

Lại giả sử cục Âm nhật triều dương không gặp Tây phương, tức trong bát tự không có căn kim. Tân nhược cần phù trợ. Gặp Ngọ hoả xung Tý, Mậu thổ đắc hoả thế khắc phạt Tý thuỷ, toàn cục chỉ có một điểm kim khí tại nhật chủ thì Tý thuỷ không có cứu, phá cục. Lại tuỳ vào bố cục bát tự mà xem có phải trường hợp thuỷ - hoả tương tranh kim t*o ương hay không. Dù có hay không thì trong trường hợp này, Tân kim vẫn tính là được Mậu sinh cho thành ra vẫn không quá xấu. Tuy nhiên đã có tiêu chí thị phi, con cái gặp nạn. Hoặc nếu gặp Bính Đinh thấu can được Mậu thổ hoá thì thường là tốt, không phải xấu; tuy nhiên muốn biết cụ thể tốt hay xấu lại phải áp dụng các kĩ thuật như thiết nhập mệnh cục, cung tinh, và động tĩnh.

Qua việc luận cục Âm nhật triều dương, dễ thấy việc chỉ dùng một vài chữ trong tám chữ bát tự tạo thành kì cách dị cục rất mông lung, thâm ảo. Muốn ứng dụng luận cát hung của kì cách dị cục cần phải nắm vững các điều kiện kèm theo, mà thường đối với một kì cách dị cục, điều kiện kèm theo có hai, ba, thậm chí là bốn cái. Lấy Âm nhật triều dương chẳng hạn, là ba cái. Vậy nếu học một trăm cục thì phải học kèm ít nhất hai trăm điều kiện, là một khối lượng kiến thức khổng lồ, chưa kể có cục không thể dùng chính lý âm dương, ngũ hành để lý giải thì nói chi đến việc tìm ra điều kiện đi kèm.

Trước sau gì cũng phải dùng chính lý âm dương, ngũ hành để biện giải các điều kiện kèm theo từng kì cách. Vậy tại sao không trực tiếp dùng âm dương, ngũ hành để luận mệnh? Xem như là phản phác quy chân vậy.

Qua câu tám này, bằng việc mượn dùng một cách cục đặc biệt là Âm nhật triều dương, tác giả Ngũ Ngôn Độc Bộ đề cập đến các vấn đề ngũ hành hư thực, khí hậu, và minh ám. Trong đó, thực hư và minh ám là các vấn đề hết sức thâm ảo trong Tử Bình, hầu như là bí truyền trong nội bộ từng môn phái. Điển hình trong số các tác giả có sách tại Việt Nam, Lý Cư Minh luận minh ám khá rõ. Tuy nhiên các yếu quyết đều đã được giấu đi. Để đọc, tập hợp các luận điểm, lý luận ngược dòng để nội suy ra hệ thống lý luận về minh ám cần có căn cơ vững chắc về Tử Bình mà đặc biệt là về cung tinh, đồng thời cần một lượng thời gian rất lớn để tra chéo các tài liệu liên quan.

Đối với vấn đề minh ám và hư thực tôi cũng chỉ nắm được một phần da lông, vẫn chưa tính là nhập môn, thành ra việc bình chú câu tám này tôi cảm thấy khó khăn gấp hai, ba lần so với các câu phía trước.

-----

Ví dụ minh hoạ:

Âm nhật triều dương là cách cục hiếm nên phần này tôi mượn hai ví dụ của ông Hoàng Đại Lục để luận. Phần này do bác Thientam đăng tại diễn đàn Huyền Không Lý Số. Ở phía dưới, những phần tôi in nghiêng là trích nguyên văn (có thay đổi thứ tự một chút).

Càn tạo 1 (Châu Chi Bình): Mậu Tý – Tân Dậu – Tân Dậu – Mậu Tý

Càn tạo 2: Canh Ngọ - Giáp Thân – Tân Dậu – Mậu Tý

Châu Chi Bình, tự Hạc Cao, đậu tiến sĩ năm Gia Tĩnh thứ ba mươi tám (1559). Được bổ nhiệm làm Tri huyện Lật Thuỷ (Nam Kinh), sau thành Tri phủ Cát An (Hoa Liên). Có công dẹp loạn ở phủ Cát An. Đời làm quan của Châu Chi Bình rất hanh thông. Ông đảm nhiệm rất nhiều chức vị, công việc khác nhau như Bố chánh sứ, Lang Trung chuyên coi việc khảo thí ở bộ Lại, Nam Kinh.

Càn tạo Châu Chi Bình được ông Hoàng Đại Lục làm ví dụ cho mệnh vô Tài, vô Quan nhưng vẫn làm quan, vẫn phú. Hoàng Đại Lục: “Mệnh vô Tài, vô Quan thì không phải mệnh phú quý, phải không? Không phải vậy. Tân nhật sinh giờ Mậu Tý cấu thành Lục âm triều dương cách. Tý thuỷ có thể ám hợp Quan tinh hoả Ẩn trong Tỵ mà đắc quý. Đại vận phương Bắc lại không thấy Quan Sát phá cách, cho nên mệnh chủ văn chương siêu quần, xuất thân là tiến sĩ, làm quan đến chứ Bố chánh sứ tỉnh Giang Tây.”

Càn tạo thứ hai được bình: Bát tự có Ngọ hoả Sát tinh, phá cách. Cho nên mệnh chủ là một lão nông nghèo khổ.

Thiên Khánh bình: Vốn dĩ Lục âm triều dương cách đã có thư hương khí trong người. Ngày Tân, giờ Mậu Tý, Tý là Văn Xương văn thần, lại ám hợp Ấn tinh mà sinh cho Tân thì ôm văn khí vào người.

Mệnh ông Châu Chi Bình thân toạ Dậu là Lộc tinh, cũng là văn tinh, đắc hai Tý tú khí tại niên thời. Thân vượng, toạ lộc văn thần, tú khí cũng là văn thần, kim-thuỷ hàm tiếp, thì tinh hoa phát lộ, văn khí lộ ra ngoài. Điều đặc biệt là tuy thấu hai Mậu nhưng có Tân kim thông quan, thành ra Tý thuỷ dụng thần xem như vẹn toàn, tháng Dậu giờ Tý thì thuỷ có lực. Tú khí vốn là sáng tạo, lao động. Vậy mệnh này là lao động về mặt văn chương, nghệ thuật. Lộc tinh còn là quý tinh (công danh), Ấn thụ là cơ quan, cũng là quyền lực. Vậy thì Lộc Ấn cùng gặp, phải là mệnh quan. Ở đây có thể tranh luận Ấn là kỵ thần thì làm sao nói là đắc Ấn? Có điều phải nhìn lại, Ấn Mậu ám sinh Tý thuỷ tú khi văn thần.

Mệnh vô Quan mà lại làm quan, chủ yếu dựa vào Lộc Ấn. Vậy nó có đặc điểm là gì? Đó là tính sát phạt không đủ, khó làm đến lãnh đạo đứng đầu triều đình hoặc hình sát. Chủ yếu qua tóm lược cuộc đời, vẫn thấy ông làm quan ở những vị trí văn chương, hành chính hoặc sát hạch văn chương là đỉnh cao sự nghiệp, ứng với mệnh lao động về mặt văn chương, nghệ thuật.

Càn tạo thứ hai, ông Hoàng Đại Lục luận mệnh là nông dân vì niên chi toạ Ngọ hoả phá cách, tôi cho là có phần gượng ép.

Tân – Thân – Dậu tây phương kim cục, kim vượng. Thời chi toạ Tý tú khí. Niên chi toạ Ngọ hoả đáng lẽ chế kim khí, nhưng bát tự mùa thu lại ban đêm, Ngọ hoả có thể xem nôm na như bị Tý xung xa mà tán mất. Hoả lại không gặp mộc, thì nguyên thần không có. Hành vận gặp Bính Đinh không luận quý mà luận tổn Tài (xem phía dưới), gặp Dần Mão trợ hoả thì đã ngoài sáu mươi. Xem như vô duyên quan trường.

Nhưng điểm xấu nhất của bát tự không phải tại Ngọ hoả, mà tại nguyệt trụ thấu Chính Tài Giáp. Giáp thất tiết, vô căn thấu tại kim cục, hai bên trái phải lưỡng thấu kim khí khắc phạt, nên không thể luận tuyệt xứ phùng sinh. Giáp Tài tứ cố vô thân, bị khắc phạt, mộc lại không thấy thuỷ, xem như Tài mộc tận diệt, vậy là mệnh bần cùng.

Mệnh Châu Chi Bình hành vận khởi Tây Bắc sang Bắc, là hưởng trọn tú khí. Hành vận có thấu Tài thì Tài vẫn không thể bị khắc tán mất, do lực bát tự sinh khắc niên vận yếu. Mệnh tạo thứ hai hành vận khởi Tây phương phá Tài; sau đó lại hành Tây Bắc hoả - kim tương tranh mộc t*o ương (ở đây giải thích cho phần mở ngoặc phía trên). Hành đến đất Đông Bắc và Nam, Tài mộc trát căn thì lại gặp Tân Canh cái đầu. Sáu mươi năm, hết bốn mươi năm phá Tài, đặc biệt là về già càng gặp phá tài. Vậy bần cùng vẫn hoàn bần cùng.

Cho nên tôi cho là điểm xấu nhất trong mệnh cục thứ hai không phải toạ Ngọ hoả phá cục, mà thấu Giáp bị khắc tử.

Mệnh tạo thứ hai vô duyên quan trường, lại dùng thuỷ mộc, lấy Nhi sinh Tài, ngành nghề tự do. Xem như làm nông dân (mộc là chủ yếu) thì hợp mệnh vậy.

Sửa bởi Đinh Văn Tân: 17/08/2017 - 04:49







Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |