Jump to content

Advertisements

Luận Dụng thần biến hóa


40 replies to this topic

#16 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 24/07/2011 - 18:20

Chương 4: Cách xử lý trường hợp Tạp Khí
Nguyên văn: Đất tứ mộ chứa nhiều khí, vì sao mà gọi là Tạp Khí vậy ta ? Bởi vì chứa nhiều quá ấy mà, Dụng Thần bất nhất nên gọi là Tạp Khí. Như Thìn vốn tàng Mậu, lại còn là thủy khố, lại còn có dư khí của Ất mộc, cả ba khí đều có thì dùng làm sao ? Nhưng mà dễ thôi, thấu Can ra là Tạp thành Không Tạp ý mà.
Giải nghĩa: Nguyệt lệnh Thìn Tuất Sửu Mùi là đất tứ mộ chứa nhiều can khí khác nhau nên không thuần, gọi là tạp khí vì khí khắp nơi đổ về tụ hội, làm dụng thần không chuyên nhất. Tý Ngọ Mão Dậu là đất tứ chính khí vượng như Quý thủy tại Tý, Đinh hỏa tại Ngọ, Tân kim tại Dậu, Ất mộc tại Mão. Dần Thân Tỵ Hợi thì đều chứa khí sinh vượng như Bính hỏa Mậu thổ trường sinh ở Dần, Giáp mộc thì đang vượng, vân vân ... Chỉ có Thìn Tuất Sửu Mùi thì khác, như trong Thìn chứa Ất mộc là dư khí của mộc, Mậu thổ thì quan đới cho đến Quý thủy, toàn là khí suy nhược. (thatsat chú: Đoạn này Hoàng đại ca tham cứu chưa sâu vẫn chỉ là nhắm mắt đọc theo sách của người xưa, khơi khơi bề mặt mà thôi, nên vào đây tham khảo siêu phẩm Đường về Vô Cực của Sát mỗ khi diệu dụng Hà Đồ đưa 4 khí nhập thổ mới có thể hiểu được, căn cơ vững chãi sau này còn đi vạn dặm đường xa chứ). Trong Tuất thì chứa Mậu thổ nhập mộ và Tân kim quan đới Đinh hỏa đều là suy nhược. Tàng can trong Sửu Mùi cũng tương tự như vậy đều gọi là tạp khí.
Khi định cách từ nguyệt lệnh, cần phải lấy can đang vượng (đương vượng) hoặc can thấu ra (thấu ra nghĩa là có lực). Nhưng tại Thìn Tuất Sửu Mùi chẳng có can nào là đang vượng, mộc trong Thìn có khí, kim trong Tuất có khí, thủy trong Sửu thổ không yếu, hỏa trong Mùi vẫn đang còn khỏe, làm cách nào dùng đây hả trời ? Như ba can Ất Mậu Quý trong Thìn, phải lấy can nào làm dụng thần ? Ôi trời quá dễ đi thôi, lấy can thấu ra hoặc lấy hội chi (chi tháng hội hoặc hợp) làm dụng. Thế là từ tạp loạn là hết tạp loạn nha.
Làm sao xác định được can nắm lệnh đương vượng ở trong nguyệt lệnh ? Người xưa có hai cách: một cách là của Thẩm đại ca: thấu can hội chi. Hoặc dựa vào một nhân nguyên trong nguyệt lệnh mà lấy như “nhân nguyên tư lệnh ca quyết” sau:
Tháng Dần: từ Lập Xuân, Mậu thổ 7 ngày, Bính hỏa 7 ngày, Giáp mộc 16 ngày.
Tháng Mão: từ Kinh Trập, Giáp mộc 10 ngày, Ất mộc 20 ngày.
Tháng Thìn: từ Thanh Minh, Ất mộc 9 ngày, Quý thủy 3 ngày, Mậu thổ 18 ngày.
Tháng Tỵ: từ Lập Hạ, Mậu thổ 5 ngày, Canh kim 9 ngày, Bính hỏa 16 ngày.
Tháng Ngọ: từ Mang Chủng, Bính hỏa 10 ngày, Kỷ thổ 9 ngày, Đinh hỏa 11 ngày.
Tháng Mùi: từ Tiểu Thử, Đinh hỏa 9 ngày, Ất mộc 13 ngày, Kỷ thổ 18 ngày.
Tháng Thân: từ Lập Thu, Mậu Kỷ thổ 10 ngày, Nhâm thủy 3 ngày, Canh kim 13 ngày.
Tháng Dậu: từ Bạch Lộ, Canh kim 10 ngày, Tân kim 20 ngày.
Tháng Tuất: từ Hàn Lộ, Tân kim 9 ngày, Đinh hỏa 3 ngày, Mậu thổ 18 ngày.
Tháng Hợi: từ Lập Đông, Mậu thổ 7 ngày, Giáp mộc 5 ngày, Nhâm thủy 18 ngày.
Tháng Tý: Từ Đại Tuyết, Nhâm thủy 10 ngày, Quý thủy 20 ngày.
Tháng Sửu: Từ Tiểu Hàn, Quý thủy 9 ngày, Tân kim 3 ngày, Kỷ thổ 18 ngày.
Ví dụ: Giáp mộc sinh vào tháng Dần, trong vòng 7 ngày từ Lập Xuân thì Mậu thổ nắm lệnh, sau đó Bính hỏa nắm lệnh 7 ngày và cuối cùng là Giáp mộc nắm lệnh 16 ngày. Xem phía trên thì biết mỗi tháng mỗi ngày có một can nắm lệnh mà lấy dụng thần nha.
Phương pháp này có chính xác không vậy ta ? Cho đến nay chưa có ai và chưa có sách nào hoàn toàn khẳng định điểm này. Nếu không dùng thấu can hội chi thì nghe có vẻ buồn cười nhưng trên thực tế các tay mệnh lý giang hồ sử dụng rộng rãi phương pháp “nhân nguyên tư lệnh ca quyết” bên trên. Nhưng mà bọn họ đồng thời cũng dùng thấu can hội chi. Nên phương pháp thứ hai này cũng chỉ dùng để tham khảo thêm. (thatsat chú: trên thực tế, nếu không tìm được can thấu và chi hội, nhiều sách của Việt Nam và Trung Hoa viết rằng tùy lấy một can mà dụng, có dòng Tử Bình của Nhật Bản dùng bảng nhân nguyên phía trên như giải pháp cuối cùng, tức là vẫn ưu tiên thấu can hội chi hơn).
Nguyên văn: Như nào là thấu can vậy ta ? Như Giáp sinh tháng Thìn, thấu Mậu thì dùng Thiên Tài, thấu Quý thì dùng Chính Ấn, thấu Ất thì dùng nguyệt kiếp. Như nào là hội chi vậy ta ? Như Giáp sinh tháng Thìn gặp Thân và Tý hội cục, tất dùng thủy ấn vậy. Thấu một can thì dùng một can, thấu nhiều can thì dùng nhiều can. Đã thấu lại còn hội thì kết hợp dùng cả hai. Kết hợp có tình thì tốt, kết hợp vô tình thì ôi thôi chán lắm nói chi thêm buồn.
Giải nghĩa: Cái gì gọi là thấu can vậy ta ? Ví như Giáp mộc sinh vào tháng Thìn, thấu Mậu thổ thì dùng Tài cách. Thấu Quý dùng Ấn cách, Thấu Ất dùng nguyệt kiếp cách. Cái gì gọi là hội chi vậy ta ? Như Giáp mộc sinh vào tháng Thìn, địa chi có Thân và Tý, Thân Tý Thìn hội thành thủy cục nên lấy thủy ấn làm dụng. Thấu một can thì dùng một can, thấu nhiều can thì phối hợp dùng nhiều can, vừa thấu can lại vừa hội chi thì kết hợp mà luận. Kết hợp có tình thì cát, kết hợp vô tình thì hung nha.
Người xưa vì sao phải cường điệu chuyện thấu can kinh vậy ta ? Bởi vì địa chi như là gốc cây, còn thiên can coi như thân cành, tàng can coi như hạt giống, chỉ có thấu can và hội chi mới thực sự có lực nổi trội . Sao phải sợ rằng không đương lệnh, thậm chí còn có lực hơn là can đương lệnh trong lệnh tháng mà không thấu ấy chứ. Do đó, Tử Bình Chính Tông Đại Pháp cần phải lấy thấu can làm dụng thần vậy.
Nguyên văn: Như nào là hữu tình vậy ta ? Là thuận mà thành vậy. Như Giáp sinh tháng Thìn thấu Quý là Ấn, lại còn hội Tý Thân thành cục gọi là cách cục Ấn thụ. Cách cục Ấn thụ thanh mà không tạp, sự phối hợp giữa thấu can và hội chi này là hữu tình vậy. Lại như Bính sinh tháng Thìn thấu Quý là Quan lại phùng Ất làm Ấn, Quan Ấn tương sinh hơn nữa Ấn còn khứ ám thổ (Mậu) tàng ở trong Thìn mà thanh Quan, đây là trường hợp hai can cùng thấu lại kết hợp hữu tình. Lại như Giáp sinh tháng Sửu thấu Tân là Quan, hoặc Tỵ Dậu hội thành kim cục lại thấu thêm Kỷ Tài để sinh Quan, là hai can thấu cùng phối hợp hữu tình với hội chi vậy.
Giải nghĩa: Như thế nào là hữu tình vậy ta ? Đều là hội chi và thấu can phối hợp hài hòa vậy. Phối hợp hài hòa nghĩa là Thiện Dụng Thần được sinh còn Ác Dụng Thần thì gặp khắc chế vậy.
Ví như Giáp mộc sinh tháng Thìn thấu Quý thủy Ấn tinh, mà địa chi lại có Thân Tý Thìn tam hợp thủy cục, thấu can và hội chi đều là Ấn thụ, nên gọi là cách cục thuần Ấn. Ví dụ về hữu tình của thấu can và hội chi như dưới đây:
Mệnh của Hữu Nhiệm:
Tài Tài Nhật Ấn
Kỷ Mậu Giáp Nhâm
Mão Thìn Tý Thân
Nguyệt lệnh vốn là tài tinh, đang là tài cách, do can thấu Nhâm thủy ấn tinh, chi có Thân Tý Thìn hội thủy cục nên hóa Tài cách thành Ấn cách. Mệnh không theo đường kinh thương mà theo con đường văn chương, nhiều năm làm Viện Trưởng. Là một vị đạt đến tinh luyện của thư pháp, người đời xưng tụng là “đương đại thánh thư”. Đây đều là biểu hiện của cách cục Ấn tinh thuần mà không tạp.
Lánh Hữu Mỗ nam mệnh:
Ấn Tỷ Nhật Thương
Nhâm Giáp Giáp Đinh
Thân Thìn Tý Mão
Mệnh này không khác mấy so với mệnh Thư Thánh đại ca phía trên. Đều là thấu can hội chi thành cách cục thuần Ấn, mệnh này chỉ vì giờ sinh có Đinh hỏa Thương Quan mà cách cục biến hóa, Ấn cách biến thành Thương Quan tiết khí sinh thổ, Thương Quan sinh thổ cách rồi thì không nên có can năm là Nhâm thủy từ xa hợp với Đinh hỏa, làm cho Đinh hỏa không thể tận lực sinh thổ. Cho nên người này chỉ học hết lớp 8, là một lão thợ thủ công khéo tay đan lát mây tre tại một làng nhỏ.
Như Bính hỏa sinh tháng Thìn, thấu Quý thủy Chính Quan, đồng thời lại thấu Ất mộc Ấn tinh, vậy là Quan Ấn tương sinh, Ất mộc lại có khả năng chế ngự Mậu thổ tàng trong Thìn làm cho Mậu thổ không khắc Quan được. Hai can thấu như vậy gọi là hữu tình tương sinh vậy.
Ví dụ nam mệnh:
Ấn Tài Nhật Quan
Ất Canh Bính Quý
Mùi Thìn Ngọ Tỵ
Quan Ấn đều thấu, chỉ có điều Canh kim Tài tinh hợp trụ Ất mộc ấn tinh gây bất lợi. Tuy nhiên, Ất mộc tọa căn, Canh kim không thể hoàn toàn hợp được. Nhưng Ất tinh cũng không thể phát huy toàn lực làm cho công lực của mệnh cách này bị giảm đi rất nhiều. Nên người này chỉ là một quản đốc đại ca ở một xí nghiệp quốc doanh nhỏ, quan không cao lộc không nhiều.
Nam mệnh:
Thực Tỷ Nhật Quan
Mậu Bính Bính Quý
Tuất Thìn Dần Tỵ
Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Thấu Quan không thấu Ấn, Thìn Tuất lại xung làm thương tổn căn khí của Quý thủy trong Thìn phá mất Quan cách. Phá Quan cách rồi vốn có thể lập thành cách cục Thương Quan phối Ấn, không may dần mộc ấn tinh gặp tử tuyệt tại đại vận nên mất hết quý khí. Người này từ khi tham gia công tác chỉ làm kịch cỡ đến tổ trưởng đại ca mà thôi.
Giáp mộc sinh vào tháng Sửu thấu tân kim quan tinh hoặc địa chi có Tỵ Dậu Sửu hội thành Quan cục lại thấu Kỷ thổ Tài tinh đến sinh Quan, là một điển hình của kết hợp hữu tình giữa thấu can cùng hội chi.
Nguyên văn: Như thế nào là vô tình vậy ta ? Như Nhâm sinh tháng Mùi, thấu Kỷ là Quan, địa chi lại hội Hợi Mão thành Thương Quan cục, vậy thấu can và hội chi là tương hợp vô tình vậy. Như Giáp sinh tháng Thìn thấu Mậu là Tài hoặc thấu Nhâm Quý là Ấn, thấu Quý tất nhiên Mậu sẽ hợp Tài Ấn đều mất. Thấu Nhâm thì Tài Ấn đều thụ thương hoặc tham Tài hoại Ấn đều là vô tình vậy. Giáp sinh tháng Tuất thấu Tân là Quan lại thấu Đinh là Thương, chi tháng hội Dần Ngọ Tuất thành cục Thương Quan đều là vô tình vậy.
Giải nghĩa:
Vô tình là như nào vậy ta ? Là thấu can và hội chi tương nghịch lẫn nhau. Tương nghịch có nghĩa là Thiện Dụng Thần bị khắc còn Ác Dụng Thần lại được sinh.
Như Nhâm thủy sinh tháng Mùi có Kỷ thổ Quan tinh thấu xuất lại có Hợi Mão Mùi tam hợp Thương Quan cục phá Quan cục là vô tình vậy.
Nữ mệnh:
Kiếp Quan Nhật Thương
Quý Kỷ Nhâm Ất
Mão Mùi Tý Tỵ
Vốn là Quan cách chỉ vì Mão Mùi hợp phá mất Quan cách lại thêm chi giờ Tỵ hỏa sinh Quan tinh nên Quan tinh không bị tuyệt nhưng cũng không thể trở thành kỳ cách được nữa. Người này học hành không xong, làm việc cũng không dở, học nghề cũng không thành, hôn nhân thì không thuận cuối cùng thành gái điếm.
Lại như Giáp mộc sinh vào tháng Thìn, thấu Mậu thổ Tài tinh lại thấu Nhâm Quý thủy Ấn tinh, Ấn tinh bị Tài tinh khắc, kết quả là cả Tài và Ấn đều bị mất là vô tình vậy.
Giáp mộc sinh vào tháng Tuất thấu Tân kim quan tinh nhưng lại thấu Đinh hỏa Thương Quan. Địa chi có Dần Ngọ Tuất tam hợp Thương Quan cục phá mất Quan cách mà vô tình vậy.
Nguyên văn: Lại còn có hữu tình mà thành vô tình nha, tò mò chưa ? Giáp sinh tháng Thìn gặp Nhâm là Ấn lại gặp thêm Bính, Ấn thụ vốn hỉ tiết Thân thành tú khí tự thành cách, lại thêm hỏa có thể sinh thổ hỗ trợ Mậu thổ ở trong Thìn, Ấn cách không thanh. Tất nhiên nếu thấu Nhâm can, nguyệt chi lại hội Thân hội Tý thì sẽ không ngại thấu Bính hỏa nữa. Lại như Giáp sinh tháng Thìn thấu Nhâm là Ấn, trong tứ trụ lại có Tuất, Tuất Thìn tương xung mà thổ động (thatsat chú: chỗ này Thẩm đại ca chiết nghĩa chưa đến chỗ thâm ảo, Tuất Thìn dương xung bản chất là thủy hỏa ám xung rung chuyển đất trời xung nhau từ thuở Tý Ngọ xung đến tận Thìn Tuất, thủy hỏa mới là vấn đề chứ không phải thổ, thổ chỉ là cái vỏ hời hợt bên ngoài, nếu thi triển các chiêu thức siêu cấp luận bát tự sẽ phải kể tới) làm cho can Nhâm khó thông với nguyệt lệnh nên không thành Ấn cách. Đều là hữu tình hóa vô tình, phú mà không quý vậy.
Giải nghĩa: Chiêu thức này mới đầu bát tự hữu tình sau lại chuyển thành vô tình, là sao vậy ta ? Giáp mộc sinh tháng Thìn thấu Nhâm thủy Ấn tinh lại thấu Bính hỏa Thực Thần, Ấn vượng Thân cường rất mừng Thực Thần tiết khí của Thân nha, cứ ngỡ như đã thành cách hay, nhưng ôi thôi Bính hỏa sinh trợ Thìn thổ, Mậu thổ trong Thìn thổ liền quay sang khắc Quý thủy là căn của Nhâm thủy làm cho Ấn cách không còn thanh thuần giảm đi giá trị của bát tự. Cũng tình huống đó, nhưng nếu địa chi có Thân Tý tam hợp thủy cục với Thìn thì cho dù có thấu Bính hỏa đi nữa cũng không vấn đề gì.
Lại như Giáp mộc sinh tháng Thìn thấu Nhâm thủy ấn tinh mà không thấu Bính hỏa Thực thần chỉ có điều Tuất thổ tới xung Thìn thổ làm thổ động mà khắc Quý thủy vốn là căn của Nhâm thủy, Ấn cách tan tành. Đều thuộc loại kết hợp trước có tình mà sau vô tình, những người đó đều giàu mà không sang. Vì sao mà phá Ấn vẫn còn giàu kinh vậy ta ? Vì tuy mất Ấn nhưng Bính hỏa Thực thần có thể cùng với nguyệt lệnh cấu thành cách cục Thực Thần sinh Tài.
Ví dụ ba mệnh phổ sau đây:
1. Mậu Thìn Bính Thìn Giáp Dần Nhâm Thân, công nhân phổ thông, học hết lớp 12.
2. Tân Dậu Nhâm Thìn Giáp Tuất Ất Hợi, Vương Tiểu Thăng bảng nhãn, có bốn con đều đỗ đại học nguyện vọng 1.
3. Nhâm Tuất Giáp Thìn Giáp Thìn Bính Dần, Gián quan, phú quý không lớn.
Người thứ nhất, Bính hỏa sinh Thìn thổ, thổ vượng ám khắc Quý thủy làm Ấn cách bất thuần cách cục không cao, một cuộc đời bình thường.
Người thứ hai không có Bính hỏa Thực thần mà có Tân kim Quan tinh thành cách Quan Ấn tương sinh, người này quan trường đắc ý, có 4 con thi đại học đều đỗ nguyện vọng 1.
Người thứ ba tuy có Tuất thổ xung Thìn nhưng trên Tuất có Giáp mộc chế thổ hộ thủy, nên có thể dùng Nhâm thủy Ấn tinh. Bính hỏa tiết Thân sinh thổ làm cho Nhâm thủy không có gốc vững nên cách cục không cao, giàu sang không lớn.
Nguyên văn: Lại có từ vô tình mà chuyển thành hữu tình nha. Như Quý sinh tháng Thìn thấu Mậu là Quan lại hội Thân Tý thành thủy cục, thấu can và hội chi tương khắc, tương đương với Kiếp Tài cách, ví như nguyệt kiếp dụng Quan sợ chi thương tổn nữa ? Lại như Bính sinh tháng Thìn thấu Mậu là Thực lại thấu Nhâm là Sát, vậy là hai can thấu khắc nhau, may mà can bị khắc lại là Sát ví như Thực Thần đới Sát, Sát phùng Thực chế. Đều là cách đẹp cục hay, vô tình mà hóa ra hữu tình vậy.
Giải nghĩa: Nghe nói có chiêu từ vô tình chuyển thành hữu tình là sao vậy ta ? Ví như Quý thủy sinh tháng Thìn thấu Mậu thổ Quan tinh, địa chi có Thân Tý Thìn tam hợp thủy cục, can thấu và hội chi tương khắc, tạm xem là vô tình nha, may thay là Kiếp Tài ác thần bị khắc mà không còn là vô tình nữa. Như nguyệt kiếp dụng Quan chế Kiếp, không có gì tổn hại, là hữu tình vậy.
Lại như Bính hỏa sinh tháng Thìn thấu Mậu thổ Thực Thần, thêm Nhâm thủy Thất Sát, Thực Sát hai can thấu mà tương khắc. May mà can bị khắc là Thất Sát ác thần ví như Thực chế Sát cách và Sát cần Thực chế cách đều là chế Sát đều là tốt đẹp mà đắc đại quý vậy. Hai ví dụ trên đều là vô tình mà biến thành hữu tình vậy.
Nam mệnh:
Tỷ Sát Nhật Thực
Bính Nhâm Bính Mậu
Thân Thìn Thìn Tý
Nguyệt lệnh có Thực Sát cùng thấu, địa chi lại Thân Tý Thìn tam hợp Sát cục nhưng mà địa chi có hai Thìn thổ nên không tận lực mà hóa thủy, cho nên Mậu thổ Thực thần vẫn còn căn có thể chế Sát thành cách “Sát cần Thực chế”. Người này trung niên kinh doanh thành công thành đại gia, tiền cứ gọi là nhiều như nước.
Nguyên văn: Cách cục như trên nhiều vô số, chỉ giới thiệu vài ví dụ thôi nha, coi chừng sau này gặp ngoại lệ đó nha.
Giải nghĩa: Bát tự kiểu này cứ gọi là nhiều như nước, đếm không có xuể nên chỉ đưa ra vài ví dụ tham khảo, chủ yếu là người học phải học một biết mười mới có thể thấu tỏ hết được.

Sửa bởi thatsat: 24/07/2011 - 18:21


Thanked by 1 Member:

#17 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 24/07/2011 - 20:07

Chương 5. Luận phá cách của 4 cát thần
Nguyên văn: Bốn cát thần Tài Quan Ấn Thực nếu không dùng được, đều là phá cách.
Giải nghĩa: Chính Tài, Thiên Tài, Chính Ấn, Thiên Ấn, Chính Quan, Thực Thần đều là bốn loại cát thần, cần được bảo hộ. Nhưng có những thần có số lượng quá nhiều hoặc không nằm tại nguyệt lệnh hoặc không giúp gì cho dụng thần và hỉ thần thì đều là phá cách dẫn đến mất tác dụng.
Nguyên văn:
Như Thực Thần đới Sát thấu Tài là phá cách. Mùa xuân mộc hỏa vượng, gặp Quan thì không tốt, Quan có thể phá cách. Sát gặp Thực chế, thấu Ấn là phá cách. Tài vượng sinh Quan, lộ Thực là tạp, phá cách.

Giải nghĩa:
Ví như Thực chế Sát, thấu Tài tiết Thực sinh Sát là có hại, Tài tinh mất tác dụng. Mộc sinh tháng Dần Mão, bát tự hỏa vượng, nếu gặp Quan sẽ thành Thương Quan kiến Quan phá cách cục làm Quan tinh mất tác dụng. Sát tinh nắm lệnh cần Thực đến chế, nếu thấu Ấn đoạt Thực tất phá cách, Ấn tinh mất tác dụng. Tài vượng sinh Quan thấu lộ Thực chế Quan phá cách, Thực mất tác dụng.
Nguyên văn:
Do đó, dùng Thực phá Quan, dùng Tài phá Ấn, cũng như thuốc quý cứu người không được sẽ quay ra hại người. Quan kỵ Thực Thương, Tài sợ Tỷ Kiếp, Ấn lo Tài phá, Thực lo Ấn đoạt, làm cách cục biến hóa không lường. Nếu lấy sinh phù làm tốt đẹp, sinh phù cho hành cường vượng ngược lại sẽ có hại, đã suy còn gặp ức chế cũng không tốt, quá vượng gặp ức chế lại tốt. Cát hung hỉ kỵ đều ở chỗ phù hợp hay không mà ra, chứ không dựa vào tên gọi mà đánh giá.

Giải nghĩa:
Vì sao mà khi Quan tinh vô dụng lại cần Thực thần đến phá, vì sao mà Ấn tinh vô dụng lại cần Tài tinh đến phá. Giống như lấy thuốc nhân sâm phục linh hoàng kỳ trị bệnh đều tùy cơ thể mà dùng. Nếu dùng không đúng cách, trị không đúng bệnh hoặc dùng lượng quá lớn đều gây hại cho cơ thể. Chính Quan sợ Thương Thực, Tài tinh sợ Tỷ Kiếp, Ấn tinh sợ Tài tinh, Thực thần sợ Kiêu Ấn, mười thần tương hỗ chế ước phối hợp mà tạo ra các kịch bản khác nhau. Nếu cần sinh phù, cường giả được sinh phù mà có hại, suy thì sợ bị khắc chế, quá vượng gặp khắc chế lại tốt. Tám chữ là cát là hung là hỷ là kị đều do có phù hợp với cách cục hay không. Thành cách thì luận kị, phá cách thì luận hung, không chỉ phân biệt từ tên gọi.
Chương 6. Luận khả năng phá cách của 4 ác dụng thần
Nguyên văn:
Bốn ác dụng thần là Sát Thương Kiêu Nhận, tùy chỗ dụng mà thành cách. Như Ấn thụ căn nhẹ thấu Sát là trợ, Sát có thể thành cách. Tài gặp Tỷ Kiếp, Thương có thể giải, Thương thành cách. Thực đới Sát, có thể dùng Kiêu thành cách. Tài phùng Sát, Nhận có thể giải, Nhận thành cách.

Giải nghĩa:
Sát Thương Kiêu Nhận là bốn ác dụng thần, khi định cách vốn cần khống chế để dụng. Nhưng chỉ cần đưa vào đúng chỗ là có thể dụng. Ví như Ấn cách căn nhẹ, gặp Thất Sát có thể cấu thành Sát Ấn tương sinh cách, vậy là Sát tinh có chỗ phát huy tác dụng. Tài gặp Tỷ Kiếp tất phá cách, nhưng lại có Thương hóa Thân sinh Tài, Tài được cứu ứng, Thương có thể phát huy dụng. Thực chế Sát gặp Kiêu là phá cách nhưng chỉ cần Kiêu thần có lực có thể bỏ Thực dụng Sát thành Sát Ấn tương sinh cách, là Kiêu thần có thể tác dụng tốt. Tài cách gặp Sát tiết Tài là phá cách nhưng có Kiếp hợp trụ với Sát mà thành cứu ứng, Kiếp Nhận có thể phát huy tác dụng tốt.
Nguyên văn:
Do đó, Tài không kỵ Thương, Quan không sợ Kiêu, Sát không kỵ Nhận, như trị quốc với trường thương đại kích, kích vốn chẳng phải dụng cụ tốt đẹp gì nhưng nếu dùng đúng chỗ có thể dẹp loạn vậy.

Giải nghĩa: Sở dĩ Tài không sợ Thương, Chính Quan không sợ Kiêu, Thất Sát không sợ Dương Nhận. Cùng lý với việc trị quốc bằng trường thương đại kích, vốn là binh khí, nhưng chỉ cần sử dụng phù hợp là có thể dẹp loạn mà phát huy tác dụng tốt.

Sửa bởi thatsat: 24/07/2011 - 20:07


Thanked by 1 Member:

#18 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 30/07/2011 - 16:29

Chương 7. Luận dụng thần thành bại cứu ứng
Nguyên văn:
Dụng thần được tìm ở lệnh tháng, phối hợp cùng tứ trụ, mà có thành bại. Như thế nào là THÀNH? Như Quan gặp Tài Ấn lại không có hình xung phá hại, là thành Quan cách. Tài sinh Quan vượng hoặc Tài được Thực sinh trong khi Thân cường lại có thêm Tỷ Kiếp. Hoặc Tài cách thấu Ấn mà vị trí phù hợp, đều không tương khắc mà thành Tài cách. Ấn yếu gặp Sát, hoặc Quan Ấn song toàn, hoặc Thân Ấn đều vượng mà dùng Thực Thương tiết khí. Hoặc nhiều Ấn lại gặp Tài Tài thì thấu căn nhẹ, thì thành Ấn cách. Thực sinh Tài hoặc Thực thêm Sát mà không có Tài, bỏ Thực lấy Sát mà thấu Ấn, thì thành Thực cách. Thân cường Sát gặp chế, Sát cách thành. Thương sinh Tài hoặc Thương bội Ấn mà Thương vượng Ấn có gốc, hoặc Thương Quan vượng Thân nhược mà thấu Sát Ấn, hoặc Thương Quan đới Sát mà không có Tài, thành Thương Quan cách. Dương nhận thấu Quan Sát mà lộ Tài Ấn không thấy Thương Quan thì thành Dương Nhận cách. Kiến lộc nguyệt kiếp thấu Quan mà gặp Tài Ấn, thấu Tài mà gặp Thực Thương, thấu Sát mà gặp chế phục, thì thành cách Kiến Lộc Nguyệt Kiếp.
Giải nghĩa:
Theo lệnh tháng mà tìm Dụng Thần. Sau đó phối hợp với can chi của tứ trụ mà thành cách cục, có thành cách có bại cách. Tính như thế nào là Thành Cách vậy ta ? Thẩm đại ca giới thiệu 8 cách như sau:
1. Chính Quan cách.
Cách này cần Ấn và Tài phối hợp, lại cần Tài Ấn phối hợp nhau chứ không phá hoại lẫn nhau, Quan tinh thì không bị hình xung phá hại.
2. Tài cách.
Tài cách có ba loại. Một là Tài vượng sinh Quan. Hai là Tài được Thực sinh. Ba là Tài cách phối hợp với Ấn cách. Tài vượng ở lệnh tháng, không có Thương Thực tương sinh, không có Quan tinh vẫn quý vì Tài vượng có thể tự sinh Quan. Nếu có Tỷ Kiếp khắc Tài gặp Quan tinh chế Kiếp hộ Tài, đều coi là Tài vượng sinh Quan cách. Tài vượng ở lệnh tháng có Thương Thực tương sinh tất mừng nhật chủ có gốc hoặc thêm Tỷ đều là cách Tài được Thực sinh. Tài vượng lệnh tháng có Thực tương sinh lại có Ấn hộ Thân coi là Tài Ấn tương hỗ chứ không tương phá mà thành Tài cách phối hợp với Ấn.
3. Ấn cách.
Ấn cách có ba loại. Một là Sát Ấn tương sinh. Hai là Thực Thần tiết khí của Thân cường. Ba là bỏ Ấn lấy Tài. Lệnh tháng là Ấn, có Quan Sát đến sinh Ấn, thành cách Quan Ấn tương sinh hoặc Sát Ấn tương sinh. Ấn vượng ở lệnh tháng, Thân vững gốc, không có Quan Sát Tài mà có Thực Thương, thành cách Thực Thương tiết khí của Thân. Gặp từ hai Ấn tinh trở lên gọi là “quá nhiều dụng thần” nếu Tài có gốc, thì bỏ Ấn mà dùng Tài thành cách cục “bỏ Ấn dụng Tài”.
4. Thực thần cách.
Thực cách có ba loại. Một là Thực sinh Tài, hai là Thực chế Sát, ba là bỏ Thực dùng Sát. Thực Thần nắm lệnh Tỷ Kiếp tràn ngập, mệnh cục dù không có Tài tinh vẫn coi là quý cách, gọi là “Thực Thần có khí lực mà thắng Tài Quan”, nếu có Tài tinh tiết khí Thực Thần cũng tốt, coi như Thực sinh Tài. Nếu Thực Thần nắm lệnh lại không có Tài và Ấn chỉ có Quan Sát cùng Thương Thực đối kháng, thì gọi là Thực Thần chế Sát cách. Nếu Thực Thần chế Sát mà thấu Ấn hóa Sát chế Thực, thì thành cách cục bỏ Thực dùng Sát.
5. Thất Sát cách.
Thẩm đại ca nói rằng: “Thân cường mà Sát gặp chế thì thành Sát cách vậy”. Nhưng mà “chế” cũng có ba kiểu chế. Một là Sát gặp Ấn hóa. Hai là Sát gặp Thực chế. Ba là Sát hợp với Kiếp. Sát tinh nắm lệnh, có Ấn hóa Sát sinh Thân là Ấn hóa Sát luận như cách Sát Ấn tương sinh. Sát nắm lệnh, không có Ấn mà có Thực Thương chế Sát, thành cách Thực chế Sát. Sát nắm lệnh mà chẳng có Ấn hóa với cả Thực chế chỉ có Kiếp Nhận hợp Sát thì thành cách Sát gặp Kiếp hợp còn gọi là Dương Nhận hợp Sát.
6. Thương Quan cách.
Có bốn loại:
-Thương sinh Tài
Thương nắm lệnh, có Tài tiết Thương, không có Quan Sát tiết Tài, thành cách Thương Quan sinh Tài.
-Thương phối Ấn
Thương Quan nắm lệnh không có Tài tiết Thương mà có Ấn chế Thương, thành cách Thương Quan phối Ấn.
-Thương Quan giá Sát
Thương Quan nắm lệnh chỉ có Quan Sát tương khắc, thành cách Thương Quan giá Sát, còn gọi là Thương Quan hỉ Quan.
- Thương Quan thương tận
Thương nắm lệnh, không Tài không Ấn, có Quan Sát tương khắc, có điều Thương Quan thương tận (khống chế toàn diện) Quan tinh đi mà thành cách cục đại quý, còn gọi là Thương Quan loại trừ Quan tinh.
7. Dương Nhận cách.
Lệnh tháng Dương Nhận, mừng có Quan Sát chế Nhận, lại có Tài Ấn phối hợp, không tạp Thương Quan, thành cách Dương Nhận giá Sát hoặc Dương Nhận dụng Quan.
8. Kiến Lộc cách.
Lệnh tháng Kiến Lộc, có Quan tinh lại có Tài Ấn phối hợp, luận như Chính Quan cách. Lệnh tháng Kiến Lộc, không có Quan mà có Sát, giống như cách Thực Thần chế Sát, lệnh tháng Kiến Lộc, không có Quan Sát mà có Tài, lại có Thực Thương sinh Tài, luận như cách Tài sinh Thực.
Chú ý, giảng cách cục là giảng phối hợp của Bát Tự, giảng kết cấu của Mệnh chớ có quan trọng hóa điều kiện Thân Cường Thân Nhược. Vì chỉ cần phối hợp Bát Tự tốt thì Thân cường hay nhược đều tốt. Cách chính cục thanh là đều phát phúc. Ngược lại, cho dù Thân cường Tài Quan vượng mà phối hợp Bát Tự không tốt thì chẳng ra gì đâu.
Nguyên văn:
Thế nào là Bại ? Quan gặp thương khắc hình xung, hỏng Quan cách. Tài nhẹ Tỷ nặng, Tài thấu Sát, hỏng Tài cách. Ấn nhẹ gặp Tài hoặc Thân cường Ấn trọng mà thấu Sát, hỏng Ấn cách. Thực gặp Kiêu hoặc sinh Tài lộ Sát, hỏng Thực cách. Sát gặp Tài không có chế, hỏng Sát cách. Thương Quan không có kim thủy gặp Quan, hoặc sinh Tài đới Sát, hoặc bội Ấn mà Thương nhẹ Thân vượng, hỏng Thương Quan cách. Dương Nhận không có Quan Sát, hỏng cách Dương Nhận. Kiến Lộc Nguyệt Kiếp không có Tài Quan lại thấu Sát Ấn, thì hỏng cách Kiến Lộc Nguyệt Kiếp.
Giải nghĩa:
Như thế nào là Bại ? Thẩm đại ca phân ra cách cục mà luận như sau:
1. Quan cách, gặp thương khắc hình xung mà không có cứu ứng, thì phá cách. Quan nhiều lẫn Sát mà Bát Tự không có chữ nào thanh cách là phá cách.
2. Tài cách, gặp Tỷ Kiếp cường vượng, hoặc gặp Sát tiết Tài là phá cách.
3. Ấn cách, có mỗi một Ấn lại còn gặp Tài phá hoại, hoặc có từ hai Ấn tinh mà Nhật chủ lại vững gốc là phá cách.
4. Thực cách, có mỗi một Thực lại bị Kiêu thần đoạt mất. Hoặc Thực sinh Tài lại thấu Sát tiết Tài là phá cách.
5. Sát cách, có Tài sinh mà không có Thực chế hoặc Ấn hóa là phá cách.
6. Thương cách. Không có kim thủy Thương Quan mà lại gặp Quan tinh hoặc Thương Quan sinh Tài mà đới Sát, hoặc Thương phối Ấn mà Thân cường Ấn đa đều là phá cách.
7. Nhận cách, không có Quan Sát là phá cách.
8. Lộc cách, không có Tài Quan, thấu Sát thấu Ấn là phá cách.
Bạn đọc để ý, sở dĩ gọi là phá cách vì có loại cách cục nào đó không được thành lập chứ không phải là không thành lập được bất cứ cách cục nào. Ví như Quan cách bị Thực thần phá, nhưng có thể thành lập cách cục Thực Thần sinh Tài, cái đó gọi là bỏ Quan lấy Thực. Lại như Dương Nhận cách mà không có Quan Sát nên phá mất Nhận cách, nhưng chỉ cần có Thực Thương là có thể tạo thành Thực Thương tiết tú. Nếu không có Thương Thực Tài tình mà lại có Ấn tinh, có thể thành cách chuyên vượng. Cách cách khác cũng như vậy mà tìm, nếu không lập được cách cục nào thì gọi là Bát Tự “không nghèo cũng chết sớm”.
Nguyên văn:
Trong thành có bại, chắc chắn phải đới kị; trong bại có thành nhất định phải có cứu ứng. Như thế nào là đới kị ? Như Chính Quan gặp Tài lại còn gặp Thương, thấu Quan mà lại gặp hợp, Tài vượng sinh Quan mà lại gặp Thương hợp. Ấn thấu Thực tiết khí lại gặp thêm Tài. Thấu Sát sinh Ấn lại thấu thêm Tài, phá Ấn còn Sát, ôi thế là xong xèng. Thực Thần đới Sát Ấn mà lại gặp Tài. Thực chế Sát mà lại gặp Ấn. Thương Quan sinh Tài mà Tài gặp hợp. Bội Ấn mà Ấn lại gặp Thương, thấu Tài mà lại gặp Sát. Đều là đới kị đấy nha.
Giải nghĩa:
Trong thành cách lại gặp phần tử phá hoại, gọi là Đới Kị, hay là có Kị Thần. Trong bại cách mà có chữ cứu ứng, gọi là trong bại có thành. Vậy Kị Thần là chi nghe kinh vậy ta ? Có gì đâu, như Chính Quan cách có Tài sinh thì tất nhiên là thành cách, ai dè lại có Thương Quan chế Quan. Thương Quan này gọi là Kị Thần phá cách. Chính Quan thì không nên gặp Quan, lại có chữ nào trong Bát Tự hợp mất Quan tinh, đều coi là Kị Thần. Tài vượng sinh Quan, Quan gặp Thương gặp hợp đều là phá cách. Khi đó Thương Quan và chữ nào hợp Quan tinh đều gọi là Kị Thần. Ấn vượng Thân cường ôi yêu sao có Thực Thần tiết khí, nhưng ôi thôi thấu Tài khắc Ấn phá mất Thực Thần tiết khí cách. Tài đó gọi là Kị Thần. Sát Ấn tương sinh mà thấu Tài phá Ấn, phá Ấn rồi còn mỗi Sát, Tài tinh này là Kị Thần. Thực chế Sát mà gặp Kiêu Ấn đoạt Thực hoặc gặp Tài tiết Thực sinh Sát, Ấn đó Thực đó đều là Kị Thần. Thương Quan phối Ấn mà Ấn gặp tổn hại, Thương sinh Tài mà gặp Sát tiết Tài đều là các trường hợp có Kị Thần trong Bát Tự.
Đọc kĩ mà xem Thẩm đại ca giải thích thế nào là Kị thần ? “Kị Thần trong Tử Bình Chân Thuyên là chữ phá cách của Bát Tự. Có bốn Thiện Dụng Thần lại có thêm một chữ Kị Thần (nếu Dụng Thần nhiều thì không phải), thì Kị Thần này phá mất cách cục tốt đẹp của bốn Thiện Dụng Thần vậy.
Kị Thần trong mệnh lý hiện đại có hai ý nghĩa: Thứ nhất, trong Bát Tự có chữ quá thiên lệch mà thành bệnh, có người gọi là bệnh thần. Thứ hai, chữ khắc chế dụng thần gọi là Kị Thần. Cách xem này khác xa cách xem mà Thẩm đại ca nói trên. Ví như Chính Quan nắm lệnh, Thẩm đại ca không hề xem vượng suy cường nhược của Bát Tự mà nói rằng Thương Quan là Kị Thần, không có Thương Quan thì chữ nào hình xung hợp hại Quan tinh đều là Kị Thần. Còn mệnh lý hiện đại yêu cầu trước tiên phải phân tích kỹ lưỡng vượng suy cường nhược của Bát Tự sau đó xem Thân cường hay nhược, nếu mà Thân nhược nha thì hay gọi Tài Quan là kị thần, lấy Ấn hoặc Tỷ Kiếp làm dụng thần, thậm chí còn lấy cả Thương Quan làm dụng thần nữa nha. Nếu mà Thân cường á, thì hay lấy Ấn tinh cùng Tỷ Kiếp làm kị thần, có người còn lấy Thương Quan làm dụng thần. Bất kể lấy cái gì làm dụng thần kị thần, trước tiên mà không phân tích vượng suy cường nhược của Bát Tự là không được đâu nha. Phương pháp lấy dụng thần cùng kị thần này cứ tạp nham loạn xà ngầu, chẳng có điểm nào nhất quán, tính ứng dụng thì không cao. Mười thầy lấy dụng thần kị thần cho một Bát Tự thì ít nhất có năm kết quả khác nhau. Trong khi đó, các thầy tử bình truyền thống chỉ cần nói Bát Tự thuộc cách cục gì là cho ra kết quả dụng thần kị thần thống nhất oh yeah. Ví dụ, chỉ cần nói Chính Quan cách là xong.
Hãy nghĩ mà xem, các đại ca khiếm thị đoán mệnh ngoài đời, nếu quả thực phương pháp của họ đơn giản, nhất quán và dễ học hơn phương pháp của tui đây thì tại sao họ lại không có đất dụng võ như vậy.
Sau đây là hai ví dụ trong thành có bại, gặp bại lại thành.
Mệnh Lưu Trừng Như:
Quan Thực Nhật Ấn
Nhâm Kỷ Đinh Giáp
Tuất Dậu Sửu Thìn
Can năm thấu Quan, Can tháng thấu Thực, Quan tinh bị khắc nên phá Quan cách, nhưng mà có thể bỏ Quan lấy Thực, không thành Quan cách sao không thử lấy Tài cách. Tài cách có Thực lại có Ấn tinh nên có thể thành. Đường học hành thì chẳng ra gì mà đường buôn bán lại gặp gỡ. Tuổi trung niên giàu có một vùng.
Mệnh Trần Lập Phu:
Tài Kiêu Nhật Thực
Canh Giáp Bính Mậu
Tý Thân Dần Tuất
Thân kim nắm lệnh là Tài cách, nhưng Thân Tý bán hợp, hóa Tài thành Sát. Sát có dần mộc Ấn tinh hóa Sát sinh Thân thành Sát Ấn tương sinh. Người này hoạt động cách mạng sau này lên đến chức Bộ Trưởng.
Nguyên văn:
Như thế nào là cứu ứng ? Như Quan gặp Thương mà thấu Ấn, Quan Sát hỗn tạp mà Sát bị hợp, gặp hình xung mà có cứu giải. Tài gặp Kiếp mà thấu Thực hóa Kiếp, sanh Quan chế Kiếp. Phùng Sát mà Thực Thần chế Sát để sinh Tài, hoặc hợp Sát giữ Tài. Tài phá Ấn mà Kiếp Tài phá Tài, hoặc hợp Tài mà giữ Ấn. Thực gặp Kiêu lấy Sát mà thành cách hoặc sinh Tài hộ Thực. Sát gặp Thực chế, lấy Ấn hộ Sát mà phùng Tài khứ Ấn giữ Thực. Thương Quan sinh Tài thấu Sát mà Sát bị hợp. Dương Nhận dụng Quan Sát đới Thương Thực, lấy Ấn để hộ. Kiến Lộc Nguyệt Kiếp dụng Quan, gặp Thương mà Thương bị hợp. Dụng Tài đới Sát mà Sát bị hợp, đều là cứu ứng.
Giải thích:
Khi Kị Thần tới phá mệnh cục, nếu có chữ nào trong tám chữ tới chế phục Kị Thần thì cách cục có thể thành. Ví như Chính Quan bị Thương Quan tới phá cách, nếu có Ấn tinh tới khắc chế Thương thì có thể cứu vãn cách cục. Khi Chính Quan cách có nhiều Quan hoặc có Sát hỗn tạp, nếu có chữ nào có thể đẩy Sát đi thì Quan cách có thể được phục hồi. Khi Quan cách gặp hình xung, nếu có chữ nào có thể giải hình xung thì Quan cách được phục hồi.
Ví dụ:
Thương Ấn Nhật Quan
Mậu Giáp Đinh Nhâm
Ngọ Tý Dậu Dần
Mệnh này độc thấu Nhâm thủy Quan tinh, lại thấu Mậu thổ thương Quan, Tý Ngọ tương xung nên phá cách. May mà can tháng Giáp mộc khắc phá Thương Quan giải nguy cho Quan tinh. Chi giờ dần mộc hợp xa với Ngọ hỏa giải cái nguy Tý Ngọ tương xung. Quan cách được cứu nên người này thành Hoàng Đế nhà Thanh đại ca Ung Chính.
Quan Ấn Nhật Ấn
Quý Giáp Bính Giáp
Tỵ Tí Thân Ngọ
Mệnh này độc thấu Quan tinh, không có dần cũng không có chữ nào cứu giải Tý Ngọ tương xung, Quan cách bị phá mà không có gì cứu chữa. Nên người này chỉ là một đại ca nông dân, năm 36 tuổi ly hôn mà cho đến nay chưa thấy đại ca này lấy vợ nha.
Tài Quan Nhật Sát
Quý Ất Mậu Giáp
Mão Sửu Dần Dần
Địa chi có hai dần mộc Thất Sát một mão mộc Chính Quan thành cách cục Quan Sát hỗn tạp, tuy Sửu Dần tương hợp (Kỷ Tân Quý trong Sửu hợp với Giáp Bính Mậu trong Dần), có thể hợp khứ đi một Sát tinh nhưng còn một dần mộc nên vẫn là Quan Sát hỗn tạp, trường hợp này phá cách không thể phục hồi. Nhật nguyên trông chờ mỗi Bính hỏa trong dần tới hóa Sát sinh Thân, không may đại vận chạy một mạch phương Bắc lệnh thủy nên là người tai điếc mắt mờ, sống bằng nghề xem bói ven đường.
Tài cách gặp Kiếp Tài đến phá cách, nếu gặp Thực Thương hóa Tỷ Kiếp sinh Tài, hoặc gặp Quan tinh chế trụ, nên Tỷ Kiếp không có khả năng phá Tài, thì Tài cách đều không bị phá. Tài cách gặp Sát tiết Tài là phá cách, may gặp Thực Thương chế Sát hoặc hợp Sát đều là cứu ứng.
Như các mệnh sau:
Kiêu Tỷ Nhật Thương
Nhâm Giáp Giáp Đinh
Dần Thìn Tuất Mão
Thìn thổ tài tinh nắm lệnh vốn là Tài cách, nhưng Dần Mão Thìn hợp mà phá mất Tài cách. Can giờ có Thương Quan nhưng không thể trực tiếp hóa Tỷ Kiếp sinh Tài, vậy là trong cách có bệnh mà không có thuốc chữa. Vận trình lại chạy một mạch qua phương Nam vận hỏa, Thân cường Tài vượng không gì cứu vãn. Mệnh chủ không cách nào gặp được thần tài. Người này cả ngày chỉ chui ra chui vào ở mỏ than tăm tối, khó khăn lắm năm 30 tuổi lấy được cô vợ, chỉ được vài năm thì cô vợ đã bỏ đi tìm chồng tốt hơn.
Nữ mệnh:
Quan Tài Nhật Quan
Canh Kỷ Ất Canh
Dần Tỵ Mão Thìn
Dựa trên nguyên tắc “có Quan luận Quan, không có quan tinh mới lấy dụng thần”. Trước tiên, tôi thử các khả năng lập Quan cách. Bát tự có hai Canh kim quan tinh, nhiều thì không quý, người ta nói gặp Quan thì phải tìm Ấn vậy mà ở đây chẳng thấy Ấn, cho nên rất khó lập Quan cách. Lại thử tìm Tài cách, lệnh tháng Tài tinh bị chi năm dần mộc khắc phá nên “hỏng hết bánh kẹo”. May mà có quan tinh chế ngự dần mộc cứu được cách cục. Tài cách được thành lập nên rất giàu có. Người này là một đại gia ngân hàng, tiền bạc không phải ngợi, một cuộc đời ăn ngon mặc đẹp phú quý xông xênh.
Nam mệnh:
Tài Kiếp Nhật Tỷ
Bính Quý Nhâm Nhâm
Thìn Tỵ Thìn Dần
Thiên tài trong lệnh tháng thấu ở can năm, gặp Quý thủy kiếp tài lại không có cứu ứng nên Tài cách bị phá hỏng. Hơn nữa, chi Tỵ hỏa sinh chi năm Thìn thổ là Tài sinh Sát, Sát không bị chế. Mới thấy vừa hỏng Tài cách mà Sát cách cũng hỏng luôn, ôi thôi, chẳng lập được cách cục nào vậy ta. Người này lúc nhỏ thì mất cha, trung niên thì mất vợ, cả cuộc đời cô đơn nghèo khổ.
Nếu Ấn cách bị Tài cách phá mà có Tỷ Kiếp chế Tài hộ Ấn, hoặc tài tinh bị hợp thì vẫn có thể thành lập được Ấn cách.
Tỷ Quan Nhật Thưc
Đinh Nhâm Đinh Kỷ
Dậu Dần Mùi Dậu
Lấy dần mộc làm Ấn cách, ai dè tài tinh dậu kim đứng ngay bên cạnh nhiệt tình khắc dần mộc. Vậy là tài hoại ấn, can năm đinh hỏa lẽ ra giúp sức khắc chế dậu kim cứu vãn cách cục, nhưng ôi thôi em Nhâm thủy bên cạnh lại đòi hợp mới chết chứ lị, đinh hỏa tham hợp mà quên khắc nên tài tinh đại phá ấn cách. Người này hai mắt mù lòa, cả cuộc đời khốn khổ vất vả chưa có ngày nào sung sướng.
Mệnh Lý Gia Huấn đại ca:
Tài Thương Nhật Tài
Canh Mậu Đinh Canh
Thân Dần Mùi Tý
Mệnh này lấy ấn tinh dần mộc làm cách cục, ai dè có thân kim xung khắc dần mộc, may mà có Tý thủy hợp từ xa với dần mộc nên cứu vãn được Ấn cách. Vận trình trước tiên qua mộc củng Ấn sau đó đến vận hỏa chế kim bảo vệ mộc, cuối đời gặp Thân vận có thể hợp Tý thành thủy mà sinh mộc, người ta gọi là mệnh tốt không bằng vận tốt là như thế đấy. Người này lập chiến công nên trong vận Nhâm Ngọ được thăng chức quân trưởng. Vận Giáp Thân lại được thăng chức Phó Tổng Tư Lệnh lính thủy đánh bộ.
Thực cách không may gặp phải Kiêu Thần nên phá cách. Nếu có sát tinh sinh Ấn thì có thể bỏ Thực mà dùng Sát Ấn tương sinh. Nếu không gặp tài tinh chế Kiêu bảo vệ Thực thì cũng ok, có thể giữ được Thực Thần cách.
Nam mệnh:
Kiêu Quan Nhật Tài
Kỷ Bính Tân Giáp
Sửu Tý Sửu Ngọ
Lệnh tháng có tý thủy Thực thần gặp Sửu thổ Kiêu thần khắc hại nên phá mất Thực Thần cách. May mà can tháng Bính hỏa Quan tinh có gốc tại chi giờ lại có giáp mộc tương sinh nên có thể bỏ Thực dùng Quan. Nhưng trước tiên hãy xem thử có lập được Quan cách không, nếu được thì dùng Quan cách để luận. Người này là manager của công ty kiến trúc, tiểu phú tiểu quý. Vì tài tinh không có gốc, quan tinh lại rơi vào tuyệt địa tại đại vận nên không thể thành đại phú đại quý.
Nam mệnh:
Thực Tài Nhật Kiêu
Quý Giáp Tân Kỷ
Sửu Tý Sửu Sửu
Mệnh này mới trông cứ tưởng tý thủy thực thần bị sửu thổ kiêu thần khắc đoạt mà phá mất cách cục, ai dè Quý thủy vững căn tại sửu thổ, tý thủy bị khắc đoạt rồi nhưng vẫn còn quý thủy đại ca ngồi đó. Mặt khác, mới trông có vẻ trụ này chỉ có một thực thần nhưng thực ra có hai, dụng thần nhiều thậm chí còn cần sửu thổ khắc chế bớt cho thanh cách cục. Ấn nhiều lại có Tài chế Ấn hộ Thực thành cách cục Thực Thần tiết khí. Người này thông minh, là thủ khoa đầu vào của trường đại học Quảng Đông, sau này đạt học vị tiến sỹ ở Mỹ, hiện nay làm chuyên gia kinh tế thế giới.
Lệnh tháng Thất Sát có Thực Thần đến chế thì quá đẹp. Không may có Kiêu Thần đến đoạt Thực thì nguy to, lúc đó chỉ chờ Tài chế Kiêu để bảo vệ Thực. Cũng như vậy, Sát cần Thực chế không may gặp Tài tiết Thực sinh Sát nên cách cục bị phá.
Nữ mệnh:
Tỷ Kiêu Nhật Thực
Giáp Nhâm Giáp Bính
Dần Thân Thìn Dần
Lệnh tháng là Sát, may có Nhâm Ấn hóa Sát và Bính hỏa chế Sát, chế hóa lưỡng lập, không có tài tinh chế Kiêu hộ Thực nên phá cách. Thậm chí tuế vận có tài tinh tới chế Kiêu thì cũng bị giáp mộc Tỷ Kiếp khắc chế mà hỏng việc. Cách bị phá mà hỏng mất mệnh cục. Người này học hành và công việc đều không thành hôn nhân thì không thuận nên đành làm gái điếm nuôi thân qua ngày.
Mệnh Hải Thụy:
Kiêu Sát Nhật Thực
Quý Tân Ất Đinh
Dậu Dậu Tỵ Hợi
Mệnh này Sát vừa bị Thực chế vừa bị Ấn hóa, nửa nạc nửa mỡ mà hỏng mất cách cục. Lúc còn nhỏ vận trình không có cứu ứng nên cha mất sớm, gia cảnh khó khăn. Vận Kỷ Mùi tài tinh chế kiêu hộ thực cứu vãn cho cách cục, người này thi đỗ mà nhận chức Tri huyện. Vận Mậu Ngọ cũng tốt, được tiếng là liêm minh. Vận Đinh Tỵ Bính Thìn kiêu thực giao chiến, người này mắng vua là mê tín tà thuật hơn nữa còn đắc tội với bọn tham quan ô lại nên sau đó bị thất sủng 16 năm. Nguyên do chủ yếu vì trong mệnh cục vừa có chế lại vừa có hóa, lại thêm tỵ hợi tương xung. Sau này gặp vận mộc tiết thủy sinh mộc nên cứu vãn được cách cục, người này được cất nhắc lên làm Đô Ngự Sử, nhà nhà xưng tụng là Hải Thanh Thiên đại ca.
Cách cục Thương Quan sinh Tài mà gặp Thất Sát tiết Tài là phá cách. Lại gặp Thực Thương chế Sát hoặc Sát bị hợp mà cách cục được cứu vãn.
Nam mệnh:
Kiếp Tài Nhật Sát
Kỷ Quý Mậu Giáp
Dậu Dậu Tý Dần
Dậu kim Thương Quan là dụng thần, có Quý thủy tài tinh tiết khí Thương Quan vốn có thể lập thành cách cục Thương Quan sinh Tài, nhưng trụ giờ có Thất Sát tiết tài lại không gặp chế ngự cũng như bị hợp, Thất Sát không bị chế phục mà phá hỏng béng mất cách cục. Sát nặng không có chế tất nhiên cuộc đời phải chịu nhiều tổn hại. Người này từ nhỏ hai chân bị tàn phế không thể đi lại, gia cảnh lại nghèo khổ, nghe mà rớt cả nước mắt.
Nam mệnh:
Kiếp Thương Nhật Sát
Quý Ất Nhâm Mậu
Tị Mão Thân Thân
Người này là đồng nghiệp của Hoàng tôi đây. Đã nhiều lần nhờ cách vị đại ca đoán mệnh xem cho. Bọn họ đều là cao thủ của mệnh lý hiện đại. Họ đều cho rằng mệnh này Thương Quan phối Ấn mà quý cách. Có người nói rằng: Bát Tự Thương Quan yếu nhược, mệnh chủ trước tiên chạy một mạch phương Bắc thủy vận nên học hành và sự nghiệp đều tốt đẹp. Nhưng cũng có người nói rằng: Mệnh chủ này ứng với kim vận về sau, sẽ phát đạt cỡ như Sư Trưởng Lữ Trưởng.
Nhưng thực tế thì sai tóe loe.
Người này ít học, sau khi làm loanh quanh hơn chục năm trong xí nghiệp của tôi thì ra ngoài làm. Trong vài năm tuy có kiếm được chút đỉnh nhưng rốt cuộc tay trắng vẫn là trắng tay. Hiện nay hơn năm mươi tuổi đầu mà không tiền không vợ không gia đình, người thì không ra cái hình người, dở hơi chập mạch, sống ngày nào biết ngày đó.
Vậy Bát Tự trên phá cách chỗ nào mà nghe kinh vậy ta ? Phá cách ở Quý thủy, mão mộc Thương Quan sinh tị hỏa Tài tinh, suýt nữa thì thành cách Thương Quan sinh Tài ai dè, Quý đè Tị chỉ còn trông chờ vào vận trình đến chế phục Quý thủy thì cứu vãn được cách cục. Ai dè chờ mỏi cả mắt có thấy vận nào cứu đâu, cho nên cuối cùng vẫn chỉ là một người nghèo khổ thất bại.
Hoàng tôi xem lại mệnh của Trương Huân Biện Soái đại ca:
Tài Sát Nhật Kiếp
Giáp Bính Canh Tân
Dần Tý Thân Tị
Dụng thần tý thủy Thương Quan sinh giáp mộc tài tinh nhưng giáp mộc lại sinh Bính hỏa Thất Sát mà phá hỏng mất cách cục Thương Quan sinh Tài. May mà Thất Sát có Tân kim hợp trụ gọi là Kiếp hợp Sát cách, phát về võ nghiệp. Người này khi gặp vận phương Nam, làm đề đốc Giang Nam, sau lại làm tuần phủ Giang Tô kiêm tổng đốc lưỡng giang một thời cực thịnh. Năm Đinh Tỵ dùng 3000 quân phế vua phục quốc, cuối cùng thành một trò hề.
Dương Nhận cách dùng Quan Sát. Không may gặp phải Thương Quan chế Quan tinh hoặc Thất Sát quá mạnh, nếu có Ấn tinh khắc chế Thương Quan là cứu vãn được cách cục. Nhận cách dùng Thực Thương sinh Tài mà gặp Sát tiết Tài là phá cách, nếu Sát bị hợp là cứu vãn được cách cục.
Nữ mệnh:
Kiêu Kiếp Nhật Thực
Mậu Tân Canh Nhâm
Tý Dậu Thân Ngọ
Lệnh tháng dương nhận, không có dụng thần. Cơ bản sẽ lấy Quan tinh ngọ hỏa ở chi giờ làm dụng thần. Vì Nhâm thủy đè đầu còn Tý thủy xung từ xa nên phá mất Quan cách. Chỉ cần bỏ Quan lấy Thực là lập được cách cục Thực Thần tiết tú. Nhưng không may can năm mậu thổ Kiêu Thần đè đầu Tý thủy, nên Thực Thần không tài nào mà tiết tú được. Nhưng không phá mất cách cục mà chỉ làm cách cục bị thấp đi mà thôi. Người này là giáo viên cấp 2, không chức không quyền, lại không có chồng, nên sớm tối tự do thích yêu ai thì yêu, vô cùng thoải mái.
Hoàng tôi đây lại xem hai mệnh sau:
Tài Thực Nhật Quan
Kỷ Đinh Ất Canh
Mùi Mão Hợi Thìn
Kiếp Thực Nhật Quan
Giáp Đinh Ất Canh
Thìn Mão Hợi Thìn
Hai mệnh này gần giống nhau, đều là cách cục kiến lộc dụng quan đều có đinh hỏa Thực Thần đến phá cách. Khác nhau ở chỗ: mệnh thứ nhất thì có kỷ thổ Tài tinh tiết Thực sinh Quan nên tuy phá cách nhưng có cứu ứng. Mệnh này vốn là doctor, sau làm quan to ở Trung Ương, cả đời là quan thanh liêm, kiến thức sâu rộng, là một vị mệnh lý đại ca sánh vai cùng với Chu Hy đại ca. Thế mới thấy, có Thực Thần tiết tú mà lại có Quan tinh cũng ngon lành nha. Mệnh thứ hai vì không có Tài tiết Thực sinh Quan mà phá mất Quan cách. Người đàn bà này nghĩ thì lắm nhưng chẳng làm được việc gì ra hồn, không biết mình là ai, dở hơi chập mạch.
Nguyên văn:
Xem Bát Tự, cần vận dụng khéo léo thành bại cứu ứng. Không những cần xem “nặng nhẹ”, “có thể dùng” và “không thể dụng” mà còn phải xem cách cục thành hay bại, phải chú ý hết sức linh hoạt đừng cứng nhắc đó nha. Phần nói trên chỉ là nguyên lý cơ bản nhất, người học phải chú ý biến hóa của dụng thần, trong thiên biến vạn hóa của cách cục phải biết dung hội quán thông. Phân tích rõ ràng cụ thể dụng thần thành bại cứu ứng, sẽ hiểu thế nào là mệnh lý.
Giải nghĩa:
Thẩm đại ca một lần nữa lại nhất mạnh sự quan trọng của dụng thần, cho rằng thành bại cứu ứng của dụng thần là con đường chân chính của mệnh lý.

Thanked by 1 Member:

#19 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 31/07/2011 - 03:35

Chương 8. Luận dụng thần, do thành mà bại, do bại mà thành.
Nguyên văn:
Trong Bát Tự có nhiều biến hóa, nên mới phân làm Thành Bại, trong Thành Bại cũng biến hóa khôn lường, nên có chiêu: do thành mà bại, do bại mà thành.
Giải nghĩa:
Biến hóa cách cục trong Bát Tự rất phức tạp, có thành có bại, trong thành bại lại có, do thành mà bại do bại mà thành.
Mới học mệnh lý khó nhằn nhất là biến hóa của cách cục. Đa số người học mệnh lý dù đã nhiều năm vẫn nhăm nhăm tìm thân cường thân nhược, không biết ý nghĩa chân chính của cách cục lại càng không biết cách biến hóa cách cục. Các kinh điển như Uyên Hải Tử Bình, Thần Phong Thông Khảo, Tam Mệnh Thông Hội đều có giới thiệu về cách cục nhưng lại quá sơ sài khi hướng dẫn phương pháp lấy dụng thần, biến hóa về cách cục lại càng sơ sài hơn. Chú giải của Nhậm Thiết Tiều đại ca trong Tích Thiên Tủy chưa chắc đã phải nguyên bản, phần giảng về cách cục cũng rất ít. Không phải nhân tài trăm năm hiếm có thì khó mà hiểu được. Ôi la la, chỉ có Tử Bình Chân Thuyên là hết sức cơ bản, luận cách cục rất tinh tế, giảng lý lẽ rất thấu triệt, là một tiêu chuẩn trong các sách mệnh lý kinh điển. Sách mệnh lý hiện đại dùng khái niệm dụng thần kị thần lẫn lộn, cho nên không đánh giá đúng cách cục, rất ít người giảng về cách cục, thậm chí không thấy ai giải thích cách cục một cách rõ ràng. Đến thầy mệnh lý siêu cấp như Từ Lạc Ngô đại ca khi giải thích các khái niệm quan trọng trong Tử Bình Chân Thuyên còn loạng choạng, thì Hoàng tôi đây còn mong gì các thầy mệnh lý phổ thông không phạm sai lầm khi lấy dụng thần.
Nguyên văn:
Thương Quan sinh Tài mà thành cách cục, như Tân kim sinh tháng Hợi, thấu Đinh là dụng thần, Mão Mùi hội Tài, thế là hỏng mất cách cục, đó là trong thành mà bại.
Ấn dụng Sát thành cách cục, như Quý thủy sinh tháng Thân. Mùa thu kim dày, nên Tài bị tổn thương nghiêm trọng, gặp Sát tất nhiên Sát Ấn kị Tài, đều là các ví dụ trong thành mà bại.
Giải nghĩa:
Hóa Thương làm Tài, mà thành Tài cách. Như tân kim sinh vào tháng Hợi, thấu đinh hỏa Thất Sát, vốn là Thương Quan giá Sát cách. Nếu địa chi có mão mùi hợp với hợi thành mộc cục tài tinh. Mặc dù hợi thủy Thương Quan hóa thành Tài tinh là hay nhưng tài nhiều sinh sát, sát trọng không bị chế ngự thành ra phá hỏng mất cách cục. Đây là hiện tượng thành cách biến thành phá cách.
Dùng Ấn hóa Sát thành cách cục Sát Ấn tương sinh. Nhật chủ quý thủy sinh vào tháng thân, kim vượng, dụng thần quá nhiều cần phải dùng Tài phá bớt Ấn đi, gọi là bỏ Ấn lấy Tài. Ai dè gặp ngay ông Thất Sát đến tiết Tài sinh Ấn thế là hỏng béng mất cách cục.
Các ví dụ trên đều là trong thành có bại.
Nguyên văn:
Quan Ấn gặp Thương, là bại cách.
Ví đụ:
bính mậu tân nhâm
ngọ tuất dậu thìn

Tân sinh tháng mậu tuất năm bính giờ nhâm, nhâm không thể vượt qua mậu khắc bính, nhâm thủy vào trường hợp này ngược lại sẽ tiết Thân tú khí, nên phá cách lại biến thành ngon lành.
Dương nhận bị sát chế nhưng thực thần lại đến chế sát, là phá cách.
Bính Đinh Canh Nhâm
Thân Dậu Dần Ngọ
Như nhật chủ canh kim sinh vào tháng dậu, can năm bính hỏa thất sát, can tháng đinh hỏa chính quan, trụ giờ gặp nhâm thủy thực thần nên đinh nhâm hợp, gọi là hợp quan lưu sát, cách cục quan sát hỗn hợp trở nên dương nhận giá sát thanh thuần. Từ phá cách mà biến thành ngon lành. Các tổ hợp này đều là ví dụ về trước phá sau thành.
Nguyên văn:
Trong thực tế, mọi việc đều đa dạng thay đổi biến hóa khôn lường,nhưng dù khôn lường vẫn có chỗ bất biến. Người xem mệnh phải có chủ kiến nhưng cũng phải biến biến thông.
Giải nghĩa:
Thành biến ra phá, phá lại biến ra thành, trong thành có phá, trong phá có thành, biến hóa khôn lường. Thẩm tôi đây chỉ dùng các phép tắc căn bản, rõ ràng, phân tích mệnh lý cụ thể rõ ràng. Dù có biến hóa muôn hình vạn lối cũng phải có chỗ bất biến. Người học mệnh lý đừng có hoang mang chạy theo biến hóa mà đánh mất chủ kiến của mình, cũng đừng có nhăm nhăm cứng nhắc mà không biết biến thông.
(thatsat chú: chỗ này là bệnh xã hội của mấy anh Tàu, nói gọn là bệnh Tây Du Ký, thích thổi phồng vấn đề, làm phức tạp hóa không cần thiết, suy diễn khái quát cả những thứ mình không nắm rõ. Không có gì biến với bất biến, chỉ có những nguyên tắc xem không rõ ràng, lúc thế này lúc thế kia. Cách xem một lá số và vạn lá số phải như nhau, còn lại là sai số của phương pháp. Trong thành có bại, trong bại có thành là phân tách ra hai chặng đường xét mệnh cục, xét đến cùng rồi mới phát biểu thì chỉ có thành hoặc bại.)

Sửa bởi thatsat: 31/07/2011 - 03:47


Thanked by 1 Member:

#20 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 31/07/2011 - 14:09

Chương 9. Luận sinh khắc phân ra cát hung trước sau
Nguyên văn:
Dụng thần tìm ở lệnh tháng, phối hợp với tám chữ, sinh khắc với mỗi chi lại phân ra cát hung. Tuy cùng là sinh khắc nhưng có phân ra cát hung trước sau để luận chỗ thâm ảo sâu kín của mệnh. (thatsat chú: trước sau là vị trí các trụ so với trụ ngày).
Giải nghĩa:
Lệnh tháng là dụng thần, phối hợp với can chi của tứ trụ mà thành cách cục. Dùng sinh khắc của từng chữ để luận cát hung chính là dùng sinh khắc của tám chữ. Nhưng do thứ trước sau của 8 chữ khác nhau mà kết quả khác nhau. Chính là vấn đề tổ hợp của Bát Tự đồng thời chính là vấn đề cách cục. Chính là chỗ thâm ảo trong các chiêu thức luận mệnh.
Đây là hai ví dụ mượn của Từ Lạc Ngô đại ca để bàn luận.
Bính Nhâm Bính Bính
Tuất Thìn Thân Thân
Bính Bính Bính Nhâm
Tuất Thân Thân Thìn
Mệnh cục thứ nhất là mệnh cục của chính Từ Lạc Ngô đại ca. Mệnh cục thứ hai là người thân của Từ Lạc Ngô đại ca.
Tuy nhiên, Từ Lạc Ngô đại ca thọ 64 tuổi còn người kia thì chết trẻ. Vì sao vậy ta ? Từ Lạc Ngô đại ca nói rằng mệnh của ông ấy sinh sau tiết Thanh Minh một ngày nên Ất mộc trong Thìn có dư khí nên có thể sinh trợ nhật chủ bính hỏa nên Từ đại ca thọ hơn một hoa giáp. Nếu mà sinh sau tiết Thanh Minh 12 ngày, lệnh thổ, thì chỉ sợ chúng ta đều không biết trên thế giới này có một người tên là Từ Lạc Ngô. Người còn lại sinh vào tháng Bảy sau tiết Lập Thu Ất mộc dĩ nhiên điêu tàn rồi nên không thể sinh trợ Nhật chủ, cho nên sớm đã yểu mệnh.
Hoàng tôi thấy rằng Từ đại ca đối với mệnh phổ của mình phân tích có vẻ rất hợp lý. Ất mộc trong Thìn nắm lệnh cùng với Thân Thìn trợ thủy, nên Ất mộc có khả năng hóa Sát. Về sau trong đại vận Ất mộc Từ đại ca đã thi đỗ biên chế và làm công chức.Đối với mệnh còn lại, e rằng phân tích của Từ đại ca không phù hợp với Tử Bình Chính Tông. Bởi vì nguyên nhân đoản thọ của vị này, không phải do ất mộc vô khí không sinh trợ nhật nguyên mà là Tài cách gặp Thất Sát tiết khí tài tinh, tài sinh sát thân suy thành ra mệnh yểu. Chính là phá cách tài phùng sát mà trước đây Thẩm đại ca từng nói qua. Giả sử mệnh này có trụ năm không phải là bính tuất mà là bính tý, khi đó thân tý thìn hợp sát cục, Nhật chủ không có gốc nên thành cách tòng sát thì người này không đến nỗi phải chết sớm như vậy.
Ví dụ Bát Tự của một vị đại ca như sau:
Nhâm Mậu Bính Bính
Thìn Thân Thân Thân
Tại đại vận nhâm tý, tam hợp sát cục thành cách, người này phát tài giàu có một phương. Không phải mệnh này ất mộc cũng vô khí sao Từ đại ca ơi ? Vậy mà đâu có yểu. Mấu chốt nằm ở chỗ cách cục thành bại cao thấp chứ không phải ất mộc có khí hay không nhật nguyên được sinh phù hay không Từ đại ca ạ.
Nguyên văn:
Cùng là Chính Quan gặp Tài Quan thấu nhưng thứ tự vị trí trong Bát Tự khác nhau thì kết quả luận đoán cũng khác nhau. Giáp mộc sinh vào tháng dậu đinh hỏa Thương Quan thấu can tháng hoặc can năm, can giờ thấu mậu thổ tài tinh tiết khí đinh hỏa Thương Quan để giải cứu cho quan tinh, bát tự kiểu này không quý nhưng về hậu vận có thể tốt. Nếu mậu thổ thấu can năm hoặc can tháng, bính hỏa thấu can giờ, là cách cục quan gặp tài sinh, về sau có thương quan mà phá cách. Bát tự kiểu này tiền vận tốt, hậu vận xấu, thậm chí còn sợ về sau không có con cháu nối dõi tông đường.
Tổ hợp Bát Tự chỉ khác nhau một chữ là sai một ly đi một dặm. Lý thuyết của Thẩm đại ca là nói các trường hợp chung nhất, chứ không thể nhất nhất áp dụng cho các trường hợp đặc biệt. Tức là nếu Thương Quan đứng trước còn tài tinh đứng sau thì không thể giải mối nguy Thương Quan phá Quan. Thương Quan tại hậu cũng không nhất định là hậu vận không có con cái. Từ đại ca bình chú đoạn này rất hay, mời bạn đọc tự tham khảo.
Nguyên văn:
Ấn cách gặp Tài hoại Ấn, có phân biệt trước sau khác nhau. Như Giáp lấy Tý làm Ấn, Kỷ trước Quý sau, thì tuy không giàu nhưng về già còn khá khá chút. Ngược lại nếu Quý trước Kỷ sau thì về già vất vả hơn nhiều.
Giải nghĩa:
Ấn cách bị tài tinh phá hoại nhưng còn tùy vị trí của tài tinh mà có khác biệt. Ví dụ như giáp mộc sinh vào tháng Tý là ấn cách. Kỷ thổ tài tinh thấu ở can tháng hoặc can năm, quý thủy ấn tinh thấu ở can giờ, trước tài sau ấn. Tuy người này không giàu có nhưng về hậu vận sẽ đỡ khổ. Nếu quý thủy tại năm tháng còn kỷ thổ tại giờ, trước ấn sau tài tất hậu vận sẽ vất vả. “Tứ Ngôn Độc Bộ” nói rằng: trước tài sau ấn, hóa ra là phúc, trước ấn sau tài, hóa ra là nhục.
Nam mệnh:
sát ấn nhật tài
quý giáp đinh tân
mùi dần tị sửu
Trước ấn sau tài là điềm không hay, gặp ấn tìm quan, tiền vận phương Bắc quan tinh, người này thông minh xuất chúng, trí nhớ kinh người, được xưng tụng là thần đồng. Năm 26 tuổi được đề cử làm quan, đảm nhiệm cũng được vài vị trí như chủ tịch phường chủ tịch quận bí thư thành ủy, là học giả có tiếng. Khi qua vận kim, tỵ dậu sửu hợp cục phá ấn cách. Bị cách chức về quê, người nhà cũng bị liên đới, không bao lâu sau bệnh nặng qua đời.
Nam mệnh trong Tích Thiên Tủy:
Ấn Tài Nhật Ấn
Tân Bính Quý Canh
Sửu Thân Tỵ Thân
Mới xem thấy trước tài sau ấn, người này chắc là về già ngon nghẻ đây. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Bởi vì dụng thần ấn tinh quá nhiều nên cần tài hủy ấn, bỏ ấn mà dùng tài. Lúc nhỏ hành vận phương nam hỏa, được hưởng phúc ấm của cha mẹ nên nhàn tản phong lưu. Đến vận quý tị, quý tị khắc bính hỏa, tị thân lại hợp kim phá mất cách cục “bỏ ấn lấy tài”, người này thất bại tan tành mây khói, nên đã gia nhập cái bang.
Nguyên văn:
Thực Thần gặp Tài Kiêu cùng thấu, cũng phân ra trước sau mà luận khác nhau. Như nhâm dùng giáp thực thần, trước canh sau bính, hậu vận ngon lành vừa phú vừa quý. Nếu trước bính sau canh, hậu vận tan tành, không quý cũng chẳng phú.
Giải nghĩa:
Thực Thần cách có Kiêu Ấn cùng thấu, tùy theo vị trí trước sau mà luận khác nhau. Như nhâm thủy sinh tháng dần là thực cách, canh kim kiêu thần đóng tại can năm hoặc can tháng, tài tinh bính hỏa đóng can giờ, trước kiêu sau tài, bát tự kiểu này, hậu vận rất tốt. Nếu như bính hỏa tài tinh đóng ở can năm hoặc can tháng, mà canh kim kiêu thần đóng ở can giờ, trước tài sau kiêu, hậu vận rất kém, chưa nói đến phú quý.
Thực Tài Nhật Kiêu
Giáp Bính Nhâm Canh
Thân Dần Thân Tý
Tài tinh bính hỏa phía trước, canh kim kiêu thần phía sau, như Thẩm đại ca nói thì hậu vận không tốt, phú quý như mây. Nhưng vì thân tý hợp thủy sinh dần mộc, can giờ kiêu thần mất căn, cho nên không thể đoạt thực thần. Đến năm có chi là thân kim, vì trên dần mộc còn có bính hỏa nên thân kim không dám lộng hành. Lại thêm đại vận đông nam mộc hỏa cứu ứng cho dần mộc, làm cho thân kim vẫn không phá được cách cục. Cho nên người này thiếu niên đắc chí, 22 tuổi đỗ tiến sĩ làm đến tuần phủ đại ca, lưỡng quảng tổng đốc, cuối đời được phong đại học sĩ. Một cuộc đời danh cao trọng vọng.
Nguyên văn:
Thất Sát gặp Tài Thực cùng thấu, chia ra trước sau để luận. Như kỷ sinh tháng mão, trước quý sau tân, nên lấy tài hỗ trợ dụng thần, sau đó dùng thực chế sát, không mất đi quý cách. Nhưng nếu trước tân mà sau quý, tất sát gặp thực chế, tài tiết khí thực thần sinh cho sát, không quý. Hậu vận như mây, khó có thể sống lâu.
Giải nghĩa:
Thất Sát cách, cùng thấu Tài Thực, tùy vị trí khác nhau mà cho kết quả luận đoán khác nhau. Như kỷ thổ sinh tháng mão, là sát cách. Quý thủy tài tinh đóng can tháng hoặc can năm, tân kim thực thần đóng can giờ, tài trước thực sau, tạo thành bố cục tài sinh sát mà sát gặp thực chế là cách đại quý. Nếu tân kim thực thần đóng ở can năm hoặc can tháng, mà quý thủy tài tinh đóng ở can giờ, thực trước tài sau, hình thành cách cục sát gặp thực chế mà tài tinh lại tiết khí thực thần sinh cho sát phá mất quý cách, nên mệnh này không cận quý, hậu vận tan tác như mây khói, không thể sống lâu.
Ví dụ ba mệnh sau:
1. quý mão ất mão kỷ tị tân mùi
2. quý mão ất mão kỷ tị canh ngọ
3. quý mão ất mão kỷ mão tân mùi
Ba mệnh này gần như giống nhau, đều là trước tài sau thực, cách cục đại quý, nhưng thực tế chỉ có mệnh thứ hai là quý cách làm đến tuần phủ.
Mệnh thứ 3 là quan thất phẩm. Mệnh thứ nhất là đầu gấu trên sông làm đau đầu cả hai vị tuần phủ và thất phẩm nói trên. Bốn bát tự này có vẻ giống nhau y đúc, vì sao mà cấp bậc phú quý lại khác nhau đến vậy. Bỏ qua các yếu tố như phong thủy, dòng DNA, hãy xem thành bại của cách cục.
Mệnh thứ hai đại quý, trong bát tự có vẻ thành lập được cách cục Sát cần Thực chế, thực ra do thực thần canh kim không có gốc bị ngọ hỏa địa chi bên dưới khắc, cho nên không thể thành lập. Do có tị ngọ hỏa liên thủ tiết khí mão mộc thất sát tạo thành cách cục sát ấn tương sinh. Đại vận phương bắc thủy khí tài tinh tuy khắc ấn may mà ấn tinh có tị có ngọ, tài tinh đời nào mới phá được hết. Ấn nhiều còn mừng được tài tinh khắc bớt, nên mệnh cục thành sát nhiều ấn ít, là cách cục đại quý.
Mệnh thứ ba phú quý đều không lớn, vì tân kim thực thần không có cường căn, không đủ để chế sát trọng. Mệnh chạy vận phương Bắc thủy khí, không có tiếng tăm gì. Khi đại vận từ từ tiến vào canh tuất, thực thần chế sát càng ngày càng mạnh nên làm đến chủ tịch huyện.
Mệnh thứ nhất làm trộm cướp vì gặp đại vận tài tinh hoại ấn, phá mất cách cục. Nói chung, Sát cần thực chế gặp ấn hóa sát, nên dùng sát ấn tương sinh để luận. Mệnh thứ nhất rơi vào tình huống này, có tị hỏa hóa sát, nên dùng sát ấn tương sinh. Hành vận phương bắc thủy địa, tài đến phá ấn, có mỗi tị hỏa thì bị tài tinh khắc mất, nên người này vì khó khăn tài chính, nên mới đi làm trộm cướp.
Nguyên văn:
Những mệnh cục như vậy, chỉ đề cử vài ví dụ, thực tế mức độ dễ khó khác nhau. Bính sinh tháng dần, năm quý giờ mậu, quan có thể sinh ấn, mà không sợ mậu hợp, mậu có thể tiết khí bính mà không vượt can giáp sang đến can năm để hợp quý, nên là cách cục đại quý. Giả sử năm tháng mậu quý mà giờ giáp, hoặc năm giáp mà tháng quý giờ mậu, tất mậu sẽ toàn lực hợp quý phá mất cách cục.
Giải nghĩa:
Những bát tự kiểu này, đều chỉ dùng làm ví dụ để học đoán mệnh. Tuy có ví dụ dễ thấy nhưng cũng có ví dụ khó luận.Như bính hỏa sinh tháng dần, can năm là quý thủy chính quan, can giờ là mậu thổ thương quan, quan có thể sinh ấn mà không sợ can giờ từ xa đến khắc, vì có giáp mộc ở giữa cách trở. Khi đó không những mậu thổ thương quan không thể khắc quan, mà ngược lại còn tiết tú cho nhật chủ, thành cách cục đại quý. Nếu can năm là quý thủy, can tháng là mậu thổ, can giờ là giáp mộc, thì mậu thổ thương quan có thể trực tiếp khắc quý thủy quan tinh, đại phá mất cách cục.
(thatsat chú: phần nguyên văn có nói mậu hợp quý, Hoàng đại ca không nhắc đến “hợp” mà chỉ nói mậu khắc quý)
Nói đến thương quan và quan, tài trước ấn sau và sát trước thực sau là cùng một logic, phù hợp mới nhiều tình huống. Nếu gặp tình huống đặc biệt, khó có thể dựa vào đó mà nói chắc được. Ví như trong “Thần Phong Thông Khảo” có ghi bát tự của Viên Ứng Long đại ca:
quan ấn nhật thực
quý giáp bính mậu
mão dần ngọ tuất
năm quan tháng ấn, can giờ là thực thần, hoàn toàn phù hợp với lý thuyết “cách cục đại quý” của Thẩm đại ca. Nhưng mà người này không những không phú quý mà còn yểu. Vì sao vậy ? Vì quý thủy quan tinh không có gốc, lại không có tài sinh quan, không thể thành lập quan cách. Chỉ có thể lập cách cục thực thần tiết tú, tại vận hợi, năm giáp tuất, kiêu đoạt thực, mang đi cái đẹp nhất của cách cục.
Nguyên văn:
Bính sinh tháng tân dậu, năm quý giờ kỷ, giữa thương và sát là tài, nên thương không có lực khắc chế, cách cục tiểu quý. Nếu quý kỷ không cách xa nhau như vậy, cách cục đã bị phá tan nát rồi.
Giải nghĩa:
Bính hỏa sinh tháng tân dậu, can năm quý thủy quan tinh, can giờ kỷ thổ thương quan, vì có tân kim tài tinh đứng ở giữa, nên kỷ thổ thương quan không khắc đến can năm quan tinh, cùng lắm là làm quan tinh xước sát một tí chứ không vấn đề gì, nên thành cách cục tiểu quý. Nếu không có tân kim ở giữa quý thủy và kỷ thổ, kỷ thổ có thể trực tiếp khắc phá quý thủy, sẽ đại phá mất cách cục.
Nam mệnh:
quan tài nhật quan
quý tân bính quý
mão dậu dần tị
Bát tự có đủ tài quan ấn, không có thương quan phá cách, hơn nữa thân cường tài vượng, có người nói: không dùng quan chỉ cần phát tài. Tuy nhiên người này đã ngoài bốn mươi tuổi, vẫn chưa có một ngày an nhàn. Ngày ngày đều lặng lẽ bán rau ở cái chợ vô danh.
Vì sao mệnh này thân tài đều vượng mà không phát tài vậy ta ? Nguyên nhân nằm ở cách cục. Bởi vì tài cách không có tỷ kiếp khắc chế, gặp quan là phá cách. Quan tinh thì không có gốc nên khó mà lập được quan cách. Vậy bát tự này có thể theo cách cục nào ? Không có cách cục nào có thể thành lập được hết. May mà phá cách không quá nghiêm trọng, nên người này có một cuộc đời bình thường như bao người bình thường khác.
Nam mệnh:
Thương Quan Nhật Tài
Kỷ Quý Bính Tân
Mùi Dậu Tuất Mão
Mệnh này là ví dụ quá đẹp cho quan điểm của Thẩm đại ca nêu trên: “quý kỷ không có tân ở giữa là phá cách”, nhưng mà sự nghiệp của người này không hề tầm thường chút nào, sao vậy ta ? Do Thẩm đại ca nói bậy chăng. Không phải. Do đại vận đã cứu cách cục.
Vốn mệnh cục này Thương Quan khắc Quan, phá mất Quan cách, cái đó là chắc rồi. Tiền vận nhâm thân, không có gì cứu quan cách, nên người này xuất thân nghèo hèn, 15 tuổi tự mình bôn ba kiếm sống. Không lâu sau thì gia nhập Đảng Cộng Sản, chuyên theo lệnh đi phá hoại tại các địa phương. Thương Quan gặp Quan cho nên không ngần ngại chặt đầu bỏ tù để triệt hạ đối phương.
Vận Tân Mùi, tân kim tiết khí kỷ thổ sinh quý thủy, “thương quan gặp quan, có tài tinh giải cứu”, phục hồi cách cục bị phá hỏng. Người này như rồng về biển, đảm nhận trọng trách. Vận Canh Ngọ cũng cùng một lý trên, làm đến quan lớn trong Trung Ương, bà con lối xóm cũng được thơm lây.
Nhập vận Kỷ Tị, không có tài tinh cứu vãn cách cục, mệnh cục quay trở về thương quan gặp quan, người này đang như mặt trời chính ngọ thì bệnh nặng qua đời, thọ 45 tuổi, mệnh như thế bảo sao không như thế ?
Nguyên văn:
tân sinh tháng thân, năm nhâm tháng mậu, giờ bính hỏa quan tinh, không bao giờ sợ mậu phá nhâm, quý cách. Nếu năm bính tháng nhâm giờ mậu, hoặc năm mậu tháng bính giờ nhâm, tất nhâm khắc bính, hi vọng gì quý cách đây.
Giải nghĩa:
Tân kim sinh tháng thân, can năm là nhâm thủy thương quan, can tháng là mậu thổ ấn tinh, can giờ là bính hỏa quan tinh. Quan tinh không sợ nhâm thủy từ can năm đến khắc, vì ở giữa có mậu thổ đại ca ngăn cản, cho nên cách cục này đắc quý. Nếu can năm là bính hỏa quan tinh, can tháng là nhâm thủy thương quan, can giờ là mậu thổ ấn tinh, hoặc can năm mậu thổ, can tháng bính hỏa, can giờ nhâm thủy, lúc đó ôi thôi thương quan lập tức khắc chế quan tinh, phá cho cách cục tan tành hoa lá, không bao giờ dám mơ đến hai chữ phú quý.
Nữ mệnh:
Thực Ấn Nhật Quan
Nhâm Kỷ Canh Đinh
Tý Dậu Thân Hợi
Đinh hỏa quan tinh không có gốc, cho nên bỏ quan lấy thực làm thực thần tiết tú thân chủ. Gặp thủy vận quan tinh khí tuyệt khí, người này thành ngôi sao màn bạc. Không may, đến vận đinh mùi, đinh nhâm tương hợp nên thực thần không thể tiết tú, quan tinh đắc căn khắc ngược lại nhâm thủy, phá nát cách cục. Người này thi trượt đại học, vô công rồi nghề chỉ giỏi uống rượu rồi lải nhải mấy bài hát. Vận Bính Ngọ không có cứu tinh nên không có gì tốt đẹp. Người này sau khi chia tay bạn trai, bức xúc không có chỗ xả nên đi múa khỏa thân. Báo thù thì không sai, nhưng người này cũng không dám đi gặp bạn trai. Vì sao mệnh cách này không thích kim thủy thương quan vậy ta ? Vì phá mất quan cách đó mà.
Nguyên văn:
Mệnh cách kiểu này đếm cả năm không xuể. Cát hung khôn lường. Nghĩ kỹ sẽ hiểu. Cái khó là rót được vào tai của mấy tay nông cạn.
Giải nghĩa:
Cách cục mà vị trí trước sau khác nhau ảnh hưởng đến thành bại cao thấp của cách cục thì rất nhiều. Khó có thể nói hết tốt xấu tiềm tàng trong mệnh cách kiểu đó. Nhưng nếu suy nghĩ cân nhắc kỹ càng nguyên nhân thành bại, thì sẽ thấy logic trong đó. Có điều khó mà giảng rõ ràng cho người mới học hiểu hết được.
Vậy là, cho dù học cái gì, cơ bản đều là tâm ý, chân lý giản đơn, mà cao thâm nhất chính là sự linh hoạt.
Như Nhạc Phi đại ca đọc rất nhiều sách chiến lược quân sự, sau khi thắng nhiều trận đúc kết kinh nghiệm rằng: “ mấu chốt vận dụng nằm ở nhất tâm”. “Nhất tâm” này Thẩm đại ca có nói bên trên, chính là cái mà “người nông cạn khó có thể hiểu được”.


Thanked by 1 Member:

#21 toahuongqui

    Hội viên

  • Hội Viên
  • PipPip
  • 114 Bài Viết:
  • 237 thanks

Gửi vào 31/07/2011 - 20:40

Các bạn để ý, chương 9 -: Luận sinh khắc trước sau phân cát hung, ông Hoàng Đại Lục có một ví dụ nhầm

Quan tài nhật quan(thương?)

Quý tân bính quý(kỷ?)

Mão dậu dần tị(hợi?)

Ngày Bính Dần, để phù hợp với ví dụ cho nguyên văn thì giờ phải là Kỷ Hợi




#22 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 02/08/2011 - 17:01

Chương 10. Luận dụng thần cách cục cao thấp.
Nguyên văn:
Bát Tự đã có dụng thần, tất có cách cục, có cách cục, tất có cao thấp, tài quan ấn thực sát thương kiếp nhận, cách cục nào không quý ? cách cục nào không tiện ? Từ cực quý cho đến cực tiện, thiên biến vạn hóa, có nói hết bằng lời. Lý lẽ đại cương nằm trong hữu tình hữu lực vô lực.
Giải nghĩa:
Bát Tự vốn có dụng thần, nên tất có cách cục, có cách cục tất phân ra thành bại cao thấp. Tài quan ấn thực sát thương kiếp nhận là tám cách, vốn không có cao thấp, chỉ cần phối hợp hỉ kị hợp lý, từng cách cục đều có cái hay cái đẹp riêng biệt. Nếu cách cục bị phá hoại, như tài cách quan cách, sẽ làm cho người ta khốn đốn điêu linh. Từ bát tự đại phú đại quý cho đến bát tự cực nghèo cực hèn, tổng cộng có 52 vạn loại phối hợp, về hình thức thì thiên biến vạn hóa, không biết nói sao cho hết.Các biến hóa trong đó có hai điều trọng yếu nhất, cơ bản nhất, và hệ thống nhất là: có tình và có lực. Hữu tình là phối hợp của mười thần trong bát tự, hữu lực là sức mạnh của ngũ hành trong bát tự. Trước tiên cần nhất bát tự phối hợp hữu tình, thành cách thành cục, tiếp theo cần dụng thần trợ thần và hỉ thần có gốc có lực. Nếu được như vậy thì phúc quý phú thọ đều toàn vẹn. Nếu trong mệnh cách có chữ nào khuyết hãm, thì ngoài đời thực cũng có khuyết hãm tương tự như vậy.
Nguyên văn:
Chính Quan bội Ấn không bằng thấu tài, mà tứ trụ có thương quan thì đành dừng bội ấn. Giáp thấu dậu quan, thấu đinh hợp nhâm, chính là hợp thương giữ quan, thành quý cách, chính là hữu tình. Tài kị tỷ kiếp, mà có sát tác hợp, thì ngược lại kiếp hữu dụng. Giáp sinh tháng thìn, thấu mậu thành cách, ngộ ất là kiếp, gặp canh là sát, ất canh tương hợp mà đắc dụng thành quý cách, chính là hữu tình.
Giải nghĩa:
Ví như chính quan phối ấn, tại tứ trụ nếu không có thương quan, không bằng thấu tài sinh quan, quý khí cực lớn. Nếu tứ trụ có thêm Thương Quan, tất không bằng phối ấn, đầu tiên cần khứ bệnh trong cách cục. Giáp mộc sinh vào tháng dậu, thấu xuất đinh hỏa thương quan nên phá cách, gặp nhâm thủy hợp trụ, nên có thể bảo toàn quan cách, những bát tự kiểu này đều là các tổ hợp hữu tình.
Lại như Tài cách, gặp tỷ kiếp là phá cách. Nhưng trong trường hợp có sát tiết tài, gặp kiếp hợp sát, làm sát không thể tiết tài, khi đó kiếp sát đã cứu cho tài cách một bàn thua trông thấy. Giáp mộc sinh vào tháng thìn, thấu xuất mậu thổ là phá cách, thấu thêm ất mộc kiếp tài hoặc canh kim thất sát đều là phá cách hết lượt. Tuy nhiên nếu ất mộc và canh kim cùng thấu, ất canh tương hợp kiếp không thể đoạt tài, sát không thể tiết tài, hai phần tử phá hoại cách cục lại trở thành phần tử cứu vãn cho cách cục, tổ hợp này gọi là hữu tình đó nha.
Mệnh Hoàng Dĩ Lâm đại ca:
thương tài nhật tài
đinh kỷ giáp mậu
tị dậu tí thìn
Giáp mộc sinh tháng dậu, là chính quan cách, có đinh hỏa thương quan phá vỡ cách cục, may mà đinh hỏa bị kỷ thổ tài tinh tiết khí rút ruột sinh cho quan tinh, tị hỏa cùng dậu tương hợp, làm thương quan mất gốc, nên có thể giữ quan cách. Tổ hợp này là tổ hợp hữu tình, người này xuất thân cử nhân, nhiều năm làm tri phủ đại ca, có tiếng là thanh liêm.
Nguyên văn:
Thân cường sát lộ mà thực thần lại vượng, như ất mộc sinh tháng dậu, thấu tân kim thất sát, đinh hỏa cường, thu mộc thịnh, ba yếu tố trên đều tốt, đưa quý cách đến cực điểm, đó gọi là hữu lực. Quan cường lại thấu tài, thân gặp lộc nhận, như bính sinh tháng tí, thấu quý thủy, lộ canh kim, mà tọa dần ngọ, cân bằng nên đại quý, cũng gọi là hữu lực.
Giải nghĩa:
Nhật chủ có trọng căn, thất sát có lực, thực thần cũng cường, là dạng bát tự cực quý. Như ất mộc sinh tháng dậu, thấu xuất tân kim thất sát, đinh hỏa và ất mộc đều có cường căn, nên là mệnh cực quý, bởi vì sát thực thân đều có lực. Quan tài cường vượng, nhật chủ có căn lộc nhận, cũng là một tổ hợp đại quý. Như bính hỏa sinh tháng tí, thấu xuất quý thủy quan tinh, lộ canh kim tài tinh, nhật chủ tọa dần hoặc tọa ngọ, tài quan thân đều có lực nên thành cách cục đại quý.
Đọc lướt qua đoạn văn trên, cảm giác như Thẩm đại ca đã quan trọng hóa thân cường thân nhược. Nếu chúng ta cho là vậy thì chúng ta chưa thấy được bản nghĩa của Tử Bình Chân Thuyên. Nhìn rộng ra toàn văn, cứ khoảng mười câu thì có đến bảy tám câu nói về cách cục mà nói về thân cường thân nhược chỉ lèo tèo vài ba câu. Vì sao Thẩm đại ca không giảng thân cường thân nhược như các sách mệnh lý hiện đại mà yêu cầu điều kiện tiên quyết phải là dụng thần. Từ lời giảng của Thẩm đại ca thì thân cường thân nhược và việc lấy dụng thần không hề liên quan chút nào.
Tuy vậy, phía trên Thẩm đại ca nói cũng không đúng hoàn toàn. Từ nhiều mệnh cục cho thấy, các bát tự mà thực sát đều vượng hoặc tài quan đều vượng thì nhật chủ đều không có cường căn, đương số không có khả năng đại phú đại quý. Hoàng tôi đây tiện tay lấy chục mệnh cục nhật chủ không có cường căn nhưng phú quý thì siêu khủng ra xem cái chơi.
1. Danh tướng nhà Thanh, Tăng Quốc Phiên đại ca:
tân mùi kỉ hợi bính thìn kỉ hợi
2. Chủ tịch tỉnh An Huy Trần Điệu Nguyên đại ca:
bính tuất kỉ hợi bính tí nhâm thìn
3. Binh bộ thượng thư, Lô Thượng Thăng đại ca:
canh tí canh thìn đinh mùi tân hợi
4. Hỏa sài đại vương, Lưu Hồng Sinh đại ca:
mậu tí bính thìn bính thìn mậu tí
5. Nông thương thượng thư, Đường Văn Trị đại ca:
ất sửu đinh hợi đinh mùi tân hợi
6. Tổng trưởng hải quân, Lâm Kiến Chương đại ca:
giáp tuất bính tí đinh mùi tân hợi
7. Thừa tướng triều nguyên, Thoát Thoát đại ca:
nhâm thìn giáp thìn bính tuất mậu tuất
8. Viện trưởng đại lý, Uông Lịch Viên đại ca:
quý mùi giáp tí bính tuất nhâm thìn
9. Tuần phủ Hà Nam, Vương Tử Xuân đại ca:
canh tí kỉ sửu đinh hợi quý mão
10. Tổng trưởng tài chính, Dương Sĩ Thanh đại ca:
tân dậu tân sửu đinh hợi giáp thìn
Nguyên văn:
Hữu tình hữu tình mà hữu lực, hữu lực mà hữu tình. Như giáp dùng dậu quan tinh, nhâm hợp mà thanh quan, mà nhâm thủy căn sâu nên vừa hữu tình vừa hữu lực. Ất dụng dậu sát, tân gặp đinh chế, mà lộc của đinh là đất trường sinh của đinh, cùng căn ở lệnh tháng, đó là hữu lực kiêm hữu tình. Đều là các cách cục rất đẹp.
Giải nghĩa:
Còn có những cách cục gọi là hữu tình hữu lực đều có. Như giáp mộc sinh tháng dậu, dụng thần chính quan, có đinh hỏa thương quan đến phá cách, gặp nhâm thủy hợp đinh hỏa cứu quan, nếu nhâm thủy lại có cường căn, là cách cục có lực có tình vậy.
Lại như ất mộc sinh tháng dậu, tân sát làm dụng, thấu đinh hỏa thực thần chế sát là tương thần (phần sau sẽ nói rõ về tương thần), mà thành cách. Tân kim kiến lộc tại dậu, đinh hỏa trường sinh tại dậu, đều là cách cục có tình có lực, là một loại cách cục tối cao của mệnh lý.
Thẩm đại ca nói rằng: cách cục cao thấp không những cần xem bát tự có tình vô tình mà còn phải xem bát tự có căn vô lực. Nếu mà phần tử phá cách vô lực, thì mức độ phá cách rất nhẹ, sau này vào vận trình phù hợp sẽ cứu vãn được cách cục. Nhưng phần tử cứu ứng cách cục cũng cần phải có lực, nếu tự mình không có lực thì làm sao nhờ được người (thatsat chú: ý nói trong bát tự đã không có lực, thì vận trình làm sao phát huy được). Nếu mà phần tử phá cách có lực, ôi thôi khác gì ôm cọp nằm ngủ, tùy thời vận mà ứng thành sinh tử, khỏi cần xem các yếu tố khác làm chi cho mệt. Tổ hợp có tình có lực đều là tổ hợp lý tưởng.
Ngoài ra, còn vấn đề nữa cần bàn thêm. Như đinh hỏa trường sinh tại tháng dậu, là có lực hay không ? Thẩm đại ca dường như cho là có. Do đó, chúng ta cần quay lại vấn đề “âm dương sinh tử”, đại ca nói rằng: ...nhưng dương trường sinh có lực, còn âm trường sinh thì không có lực nhưng cũng không yếu. Nếu mà gặp mộ khố, tất dương có căn, mà âm thì vô dụng. Theo lý tự nhiên thì dương to âm bé, dương thì kiêm cả âm mà âm thì không kiêm dương.” Ý của đại ca là trường sinh của can dương thì có lực hơn trường sinh của can âm. Nếu tọa khố, thì can dương luận là thông căn, còn can âm thì vô dụng. Nguyên nhân bởi vì dương to âm bé, dương cường âm nhược, đó là quy luật tự nhiên. Theo thuyết này thì đinh hỏa tại dậu không có bính hỏa tại dần, thì cũng không phải là vô lực chỉ là lực yếu mà thôi. Vậy yếu đến mức độ nào ? Người xưa không nói rõ. Hoàng tôi đây tạm mượn hình ảnh mà nói, trường sinh như em bé mới sinh, có sinh khí nhưng chưa đủ mạnh. Dương trường sinh như thân thể của em bé khỏe mạnh, âm trường sinh như thân thể của em bé yếu đuối, dù yếu hay khỏe thì em bé vẫn là em bé sức lực không đáng là bao. Nhưng tóm lại thì dương trường sinh vẫn trội hơn âm trường sinh. (thatsat chú: chỗ này hai đại ca vẫn loay hoay, đoạn trên nói còn đúng tàm tạm, đến đoạn em bé là sai trật khấc trên một ví dụ gượng ép, hai đại ca này cần tham cứu: ngũ dương tòng khí bất tòng thế, ngũ âm tòng thế vô tình nghĩa mới có thể trọn ý. Mới thấy kỹ thuật có thượng thừa nhưng không vững cơ bản thì cũng chỉ loanh quanh loanh quanh cảm tính mà thôi.)
Chúng ta xem ba mệnh sau đây:
1. Chủ tịch tỉnh Sơn Tây, Diêm Tích Sơn đại ca:
quý tân ất đinh
mùi dậu dậu hợi
2. Nhân viên đại ca của công ty bảo hiểm:
bính đinh ất kỉ
thân dậu dậu mão
3. Phạm nhân đại ca bị xử cực hình:
tân đinh ất giáp
sửu dậu hợi thân
Ba mệnh đều là sát cần thực chế, mà cùng là nhật chủ ất mộc, tân kim thất sát, đinh hỏa thực thần. Đều có bệnh sát thì nặng mà thực thì nhẹ. Vì sao trong đời thực lại khác nhau đến vậy ? Nguyên nhân là đinh hỏa chế sát mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Mệnh của Diêm Tích Sơn đại ca chi năm có mùi, là dương nhận của đinh hỏa (theo thuyết của thầy mù), lại thêm chi hợi mùi củng mộc, nên lực của đinh hỏa cực mạnh. Nên người này cai trị một phương, nghênh ngang như ai một thuở.
Mệnh của nữ công nhân đại ca, chi giờ là mão, gặp dậu kim xung khắc tơi bời, nên công lực của đinh hỏa không cao như mệnh Diêm đại ca. Cho nên không giàu không quý, “bình thường thôi”.
Mệnh của nam phạm nhân đại ca, địa chi không có dần mão mộc chi hết, hỏa khí không có căn, nên đinh hỏa cực yếu chế sao nổi sát. Nên vị đại ca này hết đường sống, đi chết ở pháp trường.
Từ ba mệnh trên mà thấy, thấy rằng đinh hỏa trường sinh ở dậu quá yếu để chế sát. Đinh hỏa muốn chế sát, cần có căn khí, lộc nhận là tốt nhất, tiếp đến là dư khí mộ khố, xem tổng quát mới có thể nói chế được sát hay không.

Thanked by 1 Member:

#23 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 02/08/2011 - 17:30

10. luận dụng thần cách cục cao thấp

Nguyên văn:
như giáp lấy dậu quan tinh làm dụng, thấu đinh gặp quý, quý khắc không bằng nhâm hợp, là có tình mà vô tình vậy. Ất gặp dậu là sát, thấu đinh chế sát, hoặc sát cường mà đinh hơi yếu, đinh vượng mà sát nhược, hoặc tân đinh đều vượng mà ất mộc không vững gốc, là có lực mà đều là vô lực, cách cao mà thứ người.

Giải nghĩa:
ví dụ như giáp mộc nhật nguyên sinh vào tháng dậu, thuộc về chính quan cách, lộ ra đinh hỏa thương quan thì phá cách, nhưng nếu lộ ra quý thủy chế đinh hỏa, thì có thể cứu hộ quan cách. Chỉ có điều, lấy quý thủy khắc đinh hỏa không bằng lấy nhâm thủy hợp đinh hỏa, bởi vì đinh nhâm hợp có xu hướng hóa mộc, hóa kỵ thành hỷ là tốt nhất. Lấy quý thủy khắc đinh hỏa tuy rằng cũng là tổ hợp hữu tình, nhưng đều không bằng lấy nhâm thủy hợp đinh hỏa.

Ất mộc sinh vào tháng dậu, lộ ra đinh hỏa thực thần đến chế sát thành cách. Nhưng nếu sát quá mạnh mà thực quá yếu, hoặc thực quá mạnh mà sát quá yếu, hoặc là thực sát đều vượng mà nhật nguyên không có cường căn, những trường hợp này đều là tuy có lực nhưng lực yếu, là một loại cách cục “cao”.

Nguyên văn:
Ấn dụng thất sát, vốn là quý cách, mà thân cường ấn vượng, thấu sát cô bần, Thân vượng vốn không cần ấn sinh, ấn vượng sao để sát trợ? Lệch lại càng lệch, là vô tình. Thương quan bội ấn, vốn tú mà quý, nếu thân chủ rất vượng, thương quan quá yếu, mà ấn lại quá trọng, không quý cũng không tú, trợ thân thì thân cường, chế thương thì thương nhược, vậy thì dùng trọng ấn thế nào? cũng là vô tình. Lại như sát cường thực vượng mà thân không có căn, thân cường tỉ trọng mà tài không có khí, hoặc yểu hoặc bần, đều là vô lực. Là các cách cục thấp mà vô dụng.

Giải nghĩa:
về phần ấn cách, có thất sát tới sinh ấn, vốn là sát ấn tương sinh quý cách, nhưng nếu như thân cường ấn vượng, thấu sát thì chủ nhân cô bần, bởi vì thân cường thì không cần ấn sinh, ấn vượng làm sao cần sát trợ ? Thân cường ấn vượng đã mất cân bằng, lại gặp sát tới sinh ấn không phải là lệch càng thêm lệch sao? Đây là tổ hợp vô tình.
Thương quan phối ấn, vốn là quý cách. Nhưng nếu như nhật nguyên quá vượng, thương quan quá yếu, như vậy thì cũng không quý và không tú, nguyên nhân chính là ấn tinh nếu như sinh thân thì thân vốn đã vượng cường, không cần sinh thêm, lấy ấn chế thương quan, thương quan vốn đã rất yếu, không cần phải chế nữa. Ấn tinh mà như vậy sao có thể dùng đây ? Cái này thuộc về tổ hợp vô tình.

Lại như thất sát với thực thần đều vượng hoặc cường, thế nhưng nhật nguyên không có căn, hoặc là thân cường tỉ kiếp trọng mà tài tinh không có căn khí, thân vượng vô y, mệnh cục kiểu này sẽ sớm yểu hoặc bần cùng, nguyên nhân là tướng thần, hỉ thần vô lực mà dẫn đến. Bát tự như vậy là cách cục rất thấp mà tổ hợp dụng thần thì vô dụng.

Thẩm đại ca ở chỗ này đem cách cục đại thể chia làm ba loại: tổ hợp bát tự vừa có tình lại có lực chính là thượng cách; tổ hợp bát tự có tình nhưng lực không đủ là trung cách; tổ hợp bát tự vô tình là hạ cách.

Nguyên văn:
nguyên nhân cao thấp trong đó, biến hóa rất vi diệu, hoặc một chữ trong trụ xu hướng thiên lệch, hoặc “bán tự” mà làm hỏng vẻ đẹp toàn cục, tùy lúc mà xem xét, khó có thể đưa ra công thức chung, chỉ nêu ra vài điểm đặc biệt mà thôi.

Giải nghĩa:
Cách cục do thành biến phá, do phá biến thành, do cao biến thấp, do thấp biến cao, biến hóa đó rất phức tạp, thông thường một chữ nào đó có xu hướng thiên lệch, có thể làm cho phá cách phục thành, hoặc do bán tự nào đó mà phá hỏng toàn cục, những quy tắc biến hóa rất khó nói rõ ràng cụ thể hoặc định ra quy tắc, chúng ta chỉ có cách nắm vững nguyên lý cơ bản, còn ở đây chỉ nói đại khái mà thôi.

Phía dưới là hai ví dụ cách cục biến hóa:

1) tỷ quan nhật quan

Giáp tân giáp tân

Ngọ mùi thân mùi

2) tỷ quan nhật ấn

Giáp tân giáp quý

Ngọ mùi thân dậu

4 tuổi 14 tuổi 24 tuổi 34 tuổi 44 tuổi 54 tuổi

Đại vận: nhâm thân quý dậu giáp tuất ất hợi bính tí đinh sửu

Trong hai mệnh tạo này, người nào tốt hơn ? Nếu như áp dụng quan điểm mệnh lý phổ biến hiện nay, cả hai mệnh nhật nguyên đều không có gốc, không thể dụng tài quan. Nếu như tòng sát, khi gặp thủy vận sẽ đại phá cách, sinh giờ Dậu tuy rằng mệnh hơn một quý thủy ấn tinh, thế nhưng nhật nguyên không có căn, làm sao có thể thụ sinh? Đi thủy vận vẫn không tốt.

Nhưng nếu áp dụng cách cục tử bình mà xem, giáp mộc sinh vào tháng mùi, thuộc về tài cách. Nếu có quan tinh, thì lúc này lấy tài vượng sinh quan cách. Đặc tính của tháng mùi là trong mùi không chỉ có có kỷ thổ tài tinh, còn có đinh hỏa thương quan, tân kim quan tinh ngồi phía trên, thì sẽ bị đinh hỏa ám khắc, nên phá mất quan cách. May mà mệnh cục có hai quan tinh, khắc mất một thì vẫn còn một, trái lại làm thanh cách cục. Cách cục kiểu này một khi thành lập, mệnh chủ sẽ làm quan phát tài, khả năng lớn là nắm quyền về tài chính và kinh tế.

Mệnh thứ nhất, hai tân kim quan tinh đều tọa mùi thổ, không thể thành lập quan cách. Tòng quan, trong mùi có đinh hỏa khắc quan; bỏ quan, trong mùi có kỷ thổ sinh quan, kiểu gì cũng khó. Cho nên mệnh chủ chỉ văn hóa cao trung, là nông dân, có thời gian từng làm ở trạm máy bơm của xã. Quan tinh là con cái của nam mệnh, bị đinh hỏa khắc là có điềm tổn hại. Vận bính tí năm mậu dần, dần ngọ hợp hỏa, bính hỏa lộ ra khắc tân kim, năm đó nhà có tang.

Người thứ hai, chỉ vì chi giờ có dậu kim quan tinh, đinh hỏa trong mùi không thể gây thương tổn được, cho nên lập được quan cách. Liên tiếp các đại vận không có thương quan phá cách, mệnh chủ suốt đời bình yên không có tai họa, học giỏi, sau khi tốt nghiệp đại học làm cho chính phủ, nắm giữ đại quyền kinh tế. Gần đây hơn mười năm phát tài suôn sẻ, khoe rằng lãi ròng hàng năm hơn mười vạn nhân dân tệ.

11. Luận dụng thần phối hợp khí hậu, có được mất.

Nguyên văn:
luận mệnh chỉ lấy dụng thần lệnh tháng làm mấu chốt, nhưng cần phối khí hậu mà xem thêm. Thí dụ như anh hùng hào kiệt, gặp thời thì lập công to, gặp thời không thuận dù có kỳ tài cũng khó thành công.

Giải nghĩa:
đoán mệnh lấy lệnh tháng là mấu chốt, nhưng cần phối hợp với khí hậu hàn noãn táo thấp. Thí dụ như anh hùng hào kiệt, sinh gặp lúc đó, thời cơ đến sẽ làm ít công to; nếu không tuy rằng văn thắng Khổng Mạnh, võ bạt Lữ Bố, muốn thành công cũng khó khăn vô cùng.

Chú ý! Thẩm đại ca trước tiên cường điệu: "Luận mệnh chỉ lấy dụng thần ở lệnh tháng làm mấu chốt", sau đó mới nói "Cần phối hợp với khí hậu mà xem thêm" . Không như sách mệnh lý hiện nay nói cái gì mà"Điều hậu dụng thần" ! Thẩm đại ca nói phối hợp với khí hậu, căn bản không có xu hướng lấy làm dụng thần, nếu không đã không nói trước "Luận mệnh chỉ lấy lệnh tháng dụng thần là mấu chốt" .

Hơn nữa, Thẩm đại ca ở đây coi điều hậu không quan trọng như lý thuyết mệnh lý ngày nay, nhưng cũng khuyếch đại quá mức tầm quan trọng của điều hậu. Thực ra, kinh nghiệm thực tế cho thấy, tất nhiên điều hậu của bát tự có tác dụng nhất định, nhưng không thể so sách với sự quan trọng của cách cục.
Không tin mời chúng ta xem mười ví dụ sau:

1) tân sửu kỷ hợi giáp thìn nhâm thân. Dị lộ ân phong, vợ hiền con ngoan.

2) mậu thìn quý hợi giáp tý ất hợi. doctor, làm quan tới phủ doãn.

3) tân hợi canh tí giáp thìn ất hợi. Công danh đắc ý, ngự sử.

4) quý sửu giáp tý tân sửu kỷ sửu. Thủ khoa khoa học tự nhiên tỉnh Quảng Đông, chuyên gia kinh tế thế giới.

5) mậu thìn quý hợi tân sửu kỷ hợi. Quảng Đông đốc quân trần bính côn.

6) quý dậu quý hợi canh tí canh thìn. Xuất thân nhà võ, quan đến Thiếu Tướng.

7) ất dậu mậu tí giáp thân ất sửu. Tổng binh Hồ Quảng, Lưu Phụng Tường.

8) mậu thân giáp tý ất sửu canh thìn. Phụ tử tể tướng, Dương Thận.

9) nhâm thìn quý sửu giáp thìn kỷ sửu. Đại gia ngân hàng, Lục Tử Đông.

10) canh thân mậu tí giáp thìn nhâm thân."hổ đầu thiếu bảo, thiên hạ đệ nhất" võ sư, Tôn Lộc Đường.

Mười mệnh kể trên, đều sinh vào ngày đông giá rét mà không có hỏa điều hậu bát tự. Thế nhưng mệnh chủ đều là người rất thành đạt. Với lại, có vài người sẽ cho rằng, tuy bát tự không có hỏa điều hậu, thế nhưng đại vận có hỏa thì cũng là điều hậu. Nhưng trong đó mệnh số 4 số 6 số 10 đều không có hỏa vận mà vẫn dương danh lập vạn. Hơn nữa nếu hỏa là điều hậu dụng thần, không lẽ không thể bị khắc chế? Thế nhưng bát tự đi hỏa vận thì đều không gặp khắc sao? Dụng thần gặp khắc còn có thể phú quý vậy sao? Khắc mất hỏa còn có thể điều hậu sao? Đều không thể giải thích hợp lý.

Bất kể hầu hết sách vở mệnh lý đều nói điều hậu thế nào trọng yếu, thế nhưng mười ví dụ trên cho chúng ta thấy, chỉ cần cách chính cục thanh, đại vận thuận, cho dù không có chữ điều hậu, mức độ phú quý của mệnh chủ cũng không bị ảnh hưởng.

Đương nhiên, vẫn phải chú ý khí hậu. Khí hậu vẫn có ảnh hưởng nhất định đến mức độ vượng suy ngũ hành trong bát tự. Ví dụ tháng dần chỉ sợ thủy trọng, bởi vì đầu mùa xuân hàn khí vẫn dày, thủy trọng sẽ dập tắt bính hỏa trong dần, nếu dụng thần là bính hỏa, thì sẽ phá cách. Ví dụ bát tự: quý hợi giáp dần giáp tý ất hợi. Dụng thần bính hỏa trong dần vì thủy trọng mà tắt, do đó mệnh chủ mắc bệnh tâm thần không khỏi. Tháng tuất, không sợ hỏa trọng, ví dụ Tưởng Giới Thạch: đinh hợi canh tuất kỷ tị canh ngọ. Canh kim thương quan là dụng thần, đinh hỏa ấn tinh là tướng thần, thành cách thương quan phối ấn. Mặc dù bát tự có tị, ngọ, đinh hỏa, còn có một tuất thổ hỏa khố, nhưng hỏa lực không đủ, đến đại vận bính ngọ năm bính dần, bổ túc hỏa lực, mệnh chủ một bước lên trời, làm tổng tư lệnh quân Bắc Phạt. Ngoài ra tháng Hai thổ tử, không thể nhận hỏa sinh, tháng mùi không sợ thủy trọng; tháng sửu không sợ hỏa trọng v.v..., đều là minh chứng ảnh hưởng khí hậu lên ngũ hành bát tự. Cổ nhân lấy dụng thần vì sao coi trọng lệnh tháng? Vì hành nào nắm lệnh, hành đó đanh có sinh khí. Có điều chúng ta không nên lạm dụng chữ "Điều" trong “điều hậu” mà thôi.

Sửa bởi thatsat: 02/08/2011 - 17:34


Thanked by 1 Member:

#24 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 02/08/2011 - 19:25

Do thời gian vàng ngọc của tôi ngày càng eo hẹp. Từ mes 32, tôi sử dụng phần mềm Quicktranslator để dịch thô, đôi chỗ văn phong quái dị không liền mạch mong anh em thông cảm.
Xin cảm ơn chuyên gia dịch chưởng bộ, các đại hiệp Phi Đao Tay To, Thú Nhún Thối Chân, Bão Biển Đang Về, tặng phần mềm đã được train, làm tốc độ dịch xấp xỉ tốc độ bão biển Philippin. Thân cám ơn thư ký Panda Bông Xinh với tốc độ typing tỉ lệ nghịch với độ kiên nhẫn. Và các chiến binh Thiên Ưng Bang.

Thanked by 1 Member:

#25 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 02/08/2011 - 20:36

Mười một, luận dụng thần phối khí hậu đắc thất

Nguyên văn:
Ấn thụ gặp quan, là quan ấn song toàn, không ai không quý. Đông mộc gặp thủy, tuy thấu quan tinh, cũng khó quý, kim hàn mà thủy ích đông lạnh, đông lạnh thủy không thể sinh mộc. Phàm ấn cách, Thân Ấn lưỡng vượng, thấu thực thì quý. Dụng đông mộc, càng thanh tú, đông mộc gặp hỏa, không những có thể tiết thân, mà còn có thể điều hậu.

Giải nghĩa:
Ấn thụ cách gặp phải quan tinh, gọi là quan ấn song toàn, quan sinh ấn mà ấn sinh thân, không ai không quý. Nhưng nếu ngày mộc sinh vào tháng hợi tí, ấn thụ cách gặp phải quan tinh, tất nhiên khó phát quý, vì sao? Vì mùa đông thủy lạnh kim hàn, đông lạnh thủy không thể sinh mộc, cho nên ấn thủy không thể hóa sát sinh thân, đây là lý tự nhiên. Phải có điều hậu làm kim nóng thủy ấm, có thể sinh sôi không ngớt. Bát tự thân cường ấn vượng, muốn lộ ra thực thần (hỏa) đến điều hậu mới quý, ấn cách đều như vậy. Mùa đông ấn cách sẽ càng thanh tú, vì mùa đông mộc gặp hỏa, không những được tiết thân thổ tú lại có thể điều tiết khí hậu.

Không chỉ có Thẩm đại ca nói đông lạnh thủy không sinh mộc mà hầu hết sách mệnh lý xưa nay đều nói vậy. Nhưng mà phía trên người viết đã đưa ra mười ví dụ, không ít ví dụ cho thấy đông lạnh thủy vẫn sinh mộc, may là còn có Nhậm Thiết Tiều đại ca nói "Lạnh tới không cần hỏa điều hậu", cho nên người viết mạnh dạn viết ra, nếu không người viết cũng nghi ngờ rồi. Chỉ có điều, người viết chưa hiểu ý Nhậm Thiết Tiều đại ca, theo lời ông ta "lạnh tới " chính là không có một chút hỏa điều hậu bát tự, nếu bát tự có một chút hỏa thì không phải "lạnh tới", thế nhưng lại nói hỏa điều hậu, còn có hỏa nữa điều hậu sao?
Nguyên văn:
quan gặp quan, làm hại đủ điều, nhưng kim thủy gặp là thanh tú. Không phải Quan không sợ Thương Quan, điều hậu là gấp, tùy cơ mà dụng. Thương quan đới sát, tùy thời khả dụng, nếu dụng đông kim, kỳ tú gấp trăm lần.

Giải nghĩa:
Thương quan cách không thể gặp quan tinh, "Thương quan gặp quan, làm hại đủ điều", thế nhưng kim thủy thương quan thấy quan tinh lại là tốt, có thể tăng thanh tú. Đây không phải quan tinh không sợ thương quan, mà vì quan tinh là hỏa, có thể điều tiết khí hậu. Kim hàn thủy lạnh, nhu cầu cấp bách hỏa đến điều hậu, dù cho thương quan sẽ khắc nó (quan). Thương quan cách đới thất sát, gọi là "Thương quan giá sát cách", tùy lúc có thể thành cách, nếu là kim thủy thương quan cách đới thất sát, thì càng tăng gấp trăm lần thanh tú.

Trước đây, người viết đọc được đoạn văn, lại thấy các sách mệnh lý khác cũng nói "Kim thủy thương quan hỉ gặp quan", chỉ cần là kim thủy thương quan đều hỉ gặp quan tinh, ai biết đâu trong thực tế thiếu chút nữa là bị người chửi! Trải qua kinh nghiệm thực tế, mới phát hiện rằng chỉ cần cách chính cục thanh, có hay không chữ điều hậu cũng như nhau. Các lá số đại quý đại phú, điều hậu hay không điều hậu đều không khác nhau. Ngược lại, nếu như phá cách, cho dù có chữ điều hậu cũng bất cát. Cho dù kim thủy thương quan, gặp quan tinh là có tai họa tiềm tàng. Để rõ hơn mời xem ví dụ dưới đây:

1) nữ mệnh:

Sát thương nhật quan

Đinh nhâm tân bính

Sửu tí tị thân
Đại vận: quý sửu giáp dần ất mão bính thìn đinh tị
Mệnh này là ví dụ lấy từ《 thần phong thông khảo 》. Sách nói cô ấy xinh đẹp không gì sánh được, người thời đó gọi là Dương Phi tái sinh. Năm mười tám tuổi, gả cho kẻ sĩ làm vợ. Sau khi kết hôn một năm, chồng chết bệnh. Từ đó về sau dâm ô không đỡ được, cho đến lúc thân bại danh liệt, không nơi nương tựa, treo cổ tự sát.
Cô gái này sao phải vậy ta ? Không phải kim thủy thương quan sao? Không phải có hỏa điều hậu sao? Đại vận không phải hỉ kiến quan tinh sao? Nguyên nhân đều do bát tự này không lập thành được bất cứ cách cục nào ! Thương quan phát tài cách ? Có quan sát phá cách. Thương quan phối ấn cách ? Sửu thổ là bùn nhão một đống, không có lực chế thương quan. Thương quan giá sát cách ? Tị thân hợp, sát tinh không có căn. Thương quan khí quan cách ? Đại vận liên tiếp mộc hỏa trợ quan tinh, khí bao giờ cho hết. Bính tân hóa thủy cách? Đại vận liên tiếp mộc hỏa, sao có thể hóa thủy ? Xem ra, không cách nào có thể thành lập. Mệnh chủ không bần tiện mới là không có gì để nói.
2) nam mệnh:
Tài quan nhật thực
Ất đinh canh nhâm
Hợi hợi tí ngọ
Đại vận: bính tuất ất dậu giáp thân quý mùi nhâm ngọ tân tị
Địa chi trùng trùng điệp điệp thương quan, vốn có thể tạo thành “thương quan khí quan” cách hoặc “thương quan giá sát” cách, chỉ vì can năm có ất mộc tài tinh sinh quan, nên hai cách đó không thể thành lập. Thương quan phối ấn cách, tự nhiên cũng không thành lập, bởi vì một chút kỷ thổ trong ngọ hỏa sớm đã bị tí thủy xung sạch sẽ. Bởi vậy, mặc dù là kim thủy thương quan, mặc dù có hỏa điều hậu, quan tinh vẫn không ổn. Mệnh chủ mắc bệnh động kinh nghiêm trọng, hơi một chút là ngã xuống đất chuột rút, bất tỉnh nhân sự. Thời gian không phát bệnh thì loanh quanh việc nhà nông, nghèo khó không thể tả.(thatsat chú: khổ)
3) Doãn Kế Thiện mệnh:
Tỷ ấn nhật ấn
Tân kỷ tân kỷ
Tị hợi tị hợi
Đại vận: mậu tuất đinh dậu bính thân ất mùi giáp ngọ quý tị
Đây cũng là mệnh kim thủy thương quan cách, thế nhưng nhưng hỉ gặp quan tinh. Cha là đại học sĩ, mệnh chủ cũng xuất thân khoa bảng, quan vận phương nam trung quý, làm Tổng đốc Lưỡng Giang, quyền khuynh thiên hạ. Vì sao mệnh này kim thủy đều hỉ gặp quan tinh? Nguyên nhân chính là trên thiên can có hai kỷ thổ ấn tinh, tạo thành thương quan phối ấn cách. Nếu tương thần là ấn tinh, như vậy quan tinh chính là hỉ thần, đi quan vận sinh vượng ấn tinh, đương nhiên sẽ đại quý. Cho nên mệnh này không phải quý tại kim thủy thương quan có hỏa điều hậu, mà là quý tại cách chính cục thanh, đại vận lại không có chữ phá hư cách.
4) Tuần phủ Quảng Tây, Hùng Học Bằng đại ca:
đinh nhâm tân đinh
tị tí tị dậu
5) Tử tù giết người Vương Mỗ Nhân đại ca:
nhâm nhâm tân đinh
tí tí tị dậu.
Hai mệnh này ngoại trừ trụ năm khác nhau, còn lại ba trụ không khác nhau một chữ. Mệnh Hùng đại ca, trụ năm hơn một tị hỏa, chính là hơn một mậu thổ ấn tinh ( trong tị tàng mậu ), như vậy đều tạo thành thương quan phối ấn quý cách, hơn nữa đại vận là tuất, kỷ, mậu, ấn tinh lộ ra chế thương quan, cho nên mệnh chủ học cực siêu, làm quan tới tuần phủ.

Mệnh Vương đại ca thì chỉ có chi ngày tị hỏa, đại vận đi ngược đại vận của Hùng đại ca, vận dần mộc thì dần tị tương hình, mậu thổ ấn tinh lọt vào ám khắc, cho nên mệnh chủ học hành không thành. Hơn nữa tài tinh phá hư ấn, cho thấy sẽ vì tiền tài hoặc nữ sắc mà gây tai hoạ. Năm nhâm thân, dần tị thân tam hình, tị thân hợp thủy, ấn tinh bị phá hoại triệt để, mệnh chủ vào năm đó trong lúc lửa giận ngút trời đã giết người lĩnh án, kết thúc một chuyến tàu số mệnh vừa mới khởi hành.
So sánh là thuốc hay trị bệnh hồ đồ. Thông qua việc phân tích mấy mệnh tạo trên. Chúng ta có thể kết luận như sau: tác dụng của điều hậu cũng không phải quá quan trọng, ít nhất không quan trọng đến mức có thể làm "Điều hậu dụng thần". Quan trọng nhất vẫn là cách cục cao thấp thành bại. Phàm là thương quan cách, chỉ có ấn tinh là tương thần, còn tài thì hỉ gặp quan tinh, cho dù là kim thủy thương quan cũng không ngoại lệ.

Nguyên văn: thương quan bội ấn, tùy thời khả dụng, dụng hạ mộc, đẹp đẽ gấp trăm lần, hỏa ích thủy, thủy ích hỏa. Thương quan dụng tài, vốn là quý cách, dụng đông thủy, mặc dù tiểu phú, hầu hết cũng bất quý, đông lạnh thủy không thể sinh mộc. Thương quan dụng tài, là thanh tú, dụng hạ mộc, quý nhưng không tú, táo thổ không thanh tú.
Giải nghĩa:
thương quan gặp ấn, tùy thời đều có thể định cách dụng thần, nhưng nếu ngày mộc sinh vào mùa hè (tháng hỏa) thương quan cách, có thủy làm ấn tinh thì thanh tú hơn nữa. Bởi vì nước lửa vừa ích, lại có tác dụng điều hậu.

Thương quan cách gặp tài tinh, vốn là cách cục quý khí, nhưng nếu ngày kim sinh vào mùa đông (tháng thủy) thương quan cách, đều không có gì quý khí, giỏi lắm là tiểu phú. Vì sao? Bởi vì đông lạnh thủy không thể sinh mộc, tài tinh thùng rỗng kêu to.
Thương quan cách gặp tài tinh, vốn là thanh tú cách, nhưng nếu ngày mộc sinh vào mùa hè thương quan cách, đó chính là quý mà không thanh tú lắm, vì sao? Bởi vì mùa hè thổ thuộc về táo thổ, táo thổ không sinh vạn vật, cho nên tuy quý mà không tú.
Thẩm đại ca nói tất cả thương quan cách chỉ có mộc hỏa thương quan cách là thanh tú nhất. Thực ra, nói vậy rất khó. Như hai chữ "thanh tú" giống hai chữ "mỹ lệ" thế nào, là một loại cảm giác rất khó định lượng. Có người thấy Lâm Thanh Hà khuôn mặt xinh đẹp, kinh ngạc suýt xoa: Ôi chao, mà có người thì nói "thường thôi thường thôi".

Về phần ông ta nói kim thủy thương quan phát tài cách, bởi vì đông lạnh thủy không sinh mộc, cho nên như vậy mệnh cũng không sẽ làm đại quan. Lời này xem ra không đáng tin cậy. Bởi vì mức độ lớn nhỏ phú quý, quyết định bởi thành bại cao thấp của cách cục, chứ không dựa vào chữ điều hậu. Không tin chúng ta xem ba ví dụ:

1) nam mệnh: mậu tí giáp tý tân mão tân mão;

2) nam mệnh: nhâm tí tân hợi tân mão tân mão;

3) nữ mệnh: kỷ hợi bính tí tân mão tân mão.

Ba mệnh tạo này đều thuộc về kim thủy thương quan phát tài cách cục, khác nhau là hai người nam không có hỏa điều hậu, mà người nữ thì có bính hỏa điều hậu. Lẽ ra đông lạnh thủy không sinh mộc, nam mệnh sẽ kém nữ mệnh một chút. Nhưng mà thực tế thì ngược lại, người nam thứ nhất rất ham học, học hành thành công, sự nghiệp trôi chảy. Đại vận kỷ tị năm ất hợi (hợi thủy xung khứ tị hỏa điều hậu), mệnh chủ thăng chức đến cấp sở.

Mệnh nam thứ hai là ví dụ trong《 tích thiên tủy , Nhậm Thiết Tiều đại ca nói rằng mệnh chủ "Đọc sách xem qua là thuộc, từ nhỏ đi học. Giáp dần làm chủ tịch huyện, vận ất mão sĩ lộ trôi chảy, bính thìn bị liên luỵ mà mắc tội, tới năm tuất thổ khắc thủy mà qua đời." Hãy xem xem, trước kia không có đại vận hỏa điều hậu đại vận, mệnh chủ thuận buồm xuôi gió, vừa đến có bính hỏa điều hậu lúc, trái lại trúng tên ngã ngựa, mấy năm tuổi già đều sút kém.

Người thứ ba nữ mệnh, không học hành, không công tác, trung niên đã không có chồng, nghèo đến nỗi cơm cũng không có ăn. Đừng xem cô ta có bính hỏa điều hậu, mọi phá hoại đều do bính hỏa mà ra đó. Người thứ nhất nam mệnh có mậu thổ hư nhược ấn tinh phá cách, bị giáp mộc khắc, khứ ấn đắc ấn, bởi vậy có thể học hành thành công, làm quan phát tài. Này nữ mệnh có hư nhược kỷ thổ ấn tinh, không chỉ không có tài tinh khứ trừ, trái lại có bính hỏa tương sinh, dụng không thể, khứ không xong, kỷ thổ cùng bính hỏa đều thành phá cách oan gia, cho nên mệnh chủ mới mất đi tất cả mà điển hình là quan ấn. Nếu không có bính hỏa điều hậu này, mệnh chủ chắc chắn rất tốt.

Bởi vậy có thể thấy được. Kim thủy thương quan không nhất định hỉ gặp quan tinh. Hơn nữa, nói đến kim thủy thương quan hỉ gặp quan, lý luận và tỉnh lan xoa cách vẫn tồn tại mâu thuẫn. Trên các sách mệnh lý kinh điển cỡ như《 uyên hải tử bình 》, 《 tam mệnh thông hội 》 cùng 《 thần phong thông khảo 》đều nói rõ: "Ngày canh gặp nhuận hạ, kỵ nhâm quý tị ngọ phương" ; "Kỵ phương bắc thương quan, phương nam quan vận" . Tức là, bát tự có ngày canh kim gặp thân tí thìn tam hợp thủy cục, gọi là Tỉnh Lan Xoa cách. Loại mệnh cách này bất lợi khi gặp quan tinh, hoặc đi quan vận. Không phải là mâu thuẫn với kim thủy thương quan hỉ gặp quan sao? Lẽ nào Tỉnh Lan Xoa cách không cần điều hậu sao?
Nếu Tỉnh Lan Xoa cách thấy quan tinh sẽ thế nào? Thẩm đại ca tại 《 tử bình chân thuyên • luận tạp cách 》nói rằng: "Có tỉnh lan thành cách giả. . . nếu thấu bính đinh, có tị ngọ, lại có tài quan, thì không cần xung, đều không phải tỉnh lan cách" . Nghĩa là, kim thủy thương quan một khi thấy quan tinh, thì không hề lấy tỉnh lan cách luận. Từ khía cạnh phá cách Tỉnh Lan mà nói, kim thủy thương quan sẽ không hỉ quan! Đương nhiên, phá tỉnh lan cách, vẫn có thể tạo thành “thương quan giá sát” cách, lúc này kim thủy thương quan đều thích gặp quan tinh. Chỉ có điều mộc hỏa thương quan, thổ kim thương quan, thủy mộc thương quan, đều hỉ gặp quan tinh.

Thanked by 1 Member:

#26 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 02/08/2011 - 21:45

Mười một, luận dụng thần phối khí hậu được mất

Nguyên văn: xuân mộc gặp hỏa, là mộc là thông minh, mà hạ mộc không luận như vậy; thu kim ngộ thủy, thì là kim thủy tương hàm, mà đông kim không luận vậy. Khí có suy vượng, dụng thần không giống nhau. Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh, bất lợi gặp quan; mà thu kim ngộ thủy, kim thủy tương hàm, gặp quan không ngại. Giả như canh sinh tháng thân, mà có chi hoặc tí hoặc thìn, sẽ thành thủy cục, Thiên can thấu đinh quan tinh, chỉ cần nhâm quý không ra lộ can đầu, liền là quý cách, và Thực Thần Thương Quan hỉ gặp quan cũng vậy, đều là lý điều hậu.
Giải nghĩa: ngày mộc sinh vào tháng dần mão ( tháng thìn thì cần gặp mộc cục ), có hỏa tiết mộc, thì thành mộc hỏa thông minh cách. Thế nhưng, mộc sinh vào mùa hè (tháng tị ngọ ) thì không luận vậy, bởi vì đó là mộc hỏa Thực Thương cách;

Ngày kim sinh vào tháng thân dậu (tháng tuất thì cần gặp kim cục), có thủy tiết kim, thì thành kim thủy tương hàm cách, mà ngày kim sinh vào tháng hợi tí thì không luận vậy, bởi vì đó là kim thủy Thực Thương cách;
Lệnh tháng là mùa, chủ tể bát tự ngũ hành vượng suy, cho nên lấy dụng thần định cách căn cứ lệnh tháng bất đồng mà lấy hay bỏ. Mộc đa mộc vượng dụng hỏa tiết thân thổ tú bát tự, mộc đương lệnh còn lại là mộc hỏa thông minh cách, hỏa đương lệnh còn lại là mộc hỏa Thương Quan cách, đây là phương pháp lấy dụng thần căn cứ nguyệt khí vượng suy mà định cách.

Ngày mộc sinh vào tháng dần mão mộc hỏa thông minh cách, bất lợi gặp quan tinh, gặp thì phá cách; thế nhưng ngày kim sinh vào tháng thân dậu kim thủy tướng hàm cách, thấy quan tinh không sao, kim thủy Thương Quan hỉ gặp quan cũng luận như vậy.
Như ngày canh kim sinh vào tháng thân, địa chi hội tý hội thìn thành thủy cục, thiên can thấu đinh hỏa quan tinh, chỉ cần không có nhâm quý thủy thấu can khắc đinh hỏa, là quý cách, luận như kim thủy Thương Quan hỉ gặp quan. Đây là phương pháp điều hậu.
Ở đây Thẩm đại ca cho rằng “mộc hỏa thông minh” cách không thể gặp quan tinh, nên tiến thêm một bước cường điệu tầm quan trọng của điều hậu. Chúng ta thử xem mộc hỏa thông minh cách có thể gặp quan tinh hay không.

1) Lễ bộ Thượng thư đổng kỳ xương: kỷ mão bính dần ất mão canh thìn;

2) Minh triều tể tướng cận quý: giáp thân bính dần giáp thìn bính dần;

3) sự nghiệp thành công hoàng lão sư: giáp ngọ bính dần ất tị canh thìn.

mệnh Đổng thượng thư chi hội mộc cục, can thấu bính hỏa, tạo thành mộc hỏa thông minh cách. Thế nhưng đại vận đi ngược chiều, toàn bộ là đất tử tuyệt của bính hỏa, nên không có thể “mộc hỏa thông minh”. Cũng may trụ giờ có canh kim quan tinh, càng hay bính hỏa Thương Quan có kỷ thổ tài tinh hóa tiết, địa chi ở dưới quan tinh lại có thìn thổ tương sinh, quan tinh có chỗ đặt chân. Đại vận nhâm tuất, tài vượng sinh quan, mệnh chủ cao trung tiến sĩ, quan lộ hanh thông. Vận tân dậu quan đắc cường căn, sát tới thì có bính hợp thanh cách, mệnh chủ đại phát tới Lễ bộ Thượng thư. Đồng thời, bính hỏa Thương Quan trong mệnh cục có thổ tú, ông ta lúc rảnh rỗi tại cơ quan, vẫn nghiên cứu họa kỹ, thành một danh hoạ triều Minh.
Mệnh Cận tướng gia cũng là mộc hỏa thông minh, hơn nữa trung niên hành hỏa vận, quả nhiên chói sáng nữa bầu trời. Thẩm đại ca nói loại mệnh cách này là không thể gặp quan tinh, thế nhưng mệnh cục của ông ta có một thân kim sát tinh, 17 tuổi gặp năm tân sửu, là lúc quan tinh lộ ra, mệnh chủ không chỉ vô tai vô nạn, trái lại đỗ cử nhân. 26 tuổi gặp năm canh tuất, sát tinh lộ ra, mệnh chủ lại cao trung tiến sĩ. Từ đó về sau quan trường đắc ý, quyền khuynh triều đại đương thời, được gọi là "Hiền tướng". Cận gia và Đổng thượng thư mệnh lý sở dĩ đều đại quý, vì trong bát tự có thể dụng quan tinh. Khi Thương Quan vượng cường thì bỏ quan tinh, có thể thành mộc hỏa thông minh cách; khi tài quan vượng cường có thể đề bạt quan tinh, tạo thành Thương Quan giá sát cách hoặc Thương Quan hỉ quan cách. Ví dụ mệnh quyền thần Sử Di Xa triều đại Nam Tống: giáp thân bính dần ất mão tân tị. Thuộc về giả Thương Quan giá sát cách. Mệnh chủ xuất thân tiến sĩ, làm quan đến thừa tướng, độc tài triều chính ở hai triều đại liên tiếp.

Hoàng lão sư là phụ nữ, chỉ nhìn mệnh cục đã thấy cách cục không cao. Bởi vì mộc hỏa thông minh cách rất cần mộc trọng hỏa khinh, lại gặp tuế vận dẫn hỏa đến, mới có thể đại hiển quý khí, gần gũi quý mệnh chính là như vậy. Mệnh này dần ngọ hợp mà hóa hỏa, đương lệnh dần mộc đã biến thành một cây than củi, mộc hỏa thông minh cách kiểu này không có gì quý khí. Đừng thấy Thương Quan rất vượng, lại thấy canh kim quan tinh, mà nói mệnh chủ sẽ ly hôn nha. Bởi vì quan tinh trong mệnh cục của cô ấy ở trạng thái khả dụng, không sợ Thương Quan gặp quan. Tảo vận phương bắc thủy địa, quan tinh vô khí, không thể thành cách “mộc hỏa thông minh” tiêu chuẩn, mệnh chủ học hành trung đẳng, làm giáo viên hơn hai mươi năm tại tiểu học nông thôn, sự nghiệp bình thường. Lúc tuổi già nhập phương tây kim vận, nâng dậy quan tinh, cách thành Thương Quan hỉ quan, mệnh chủ mở nhà trẻ lập nghiệp, hưng hưng thịnh thịnh, xa gần nghe tiếng, hiện tại đã có vài chi nhánh. Hôn nhân, đến nay không có cái gì là dấu hiệu ly hôn.
Nguyên văn:
Thực Thần tuy gặp chính ấn, gọi là đoạt thực, hạ mộc hỏa thịnh, khinh dụng cũng tú mà quý, mộc hỏa Thương Quan hỉ gặp thủy cũng luận như vậy, đó là điều hậu. Loại mệnh cục này có rất nhiều, không thể nói hết, người học từ từ khám phá, rồi sẽ rõ ràng cả thôi.

Giải nghĩa:
Thực Thần cách không chỉ gặp thiên ấn mới gọi là đoạt thực, gặp chính ấn cũng là đoạt thực. Nhưng nếu ngày mộc sinh vào tháng tị ngọ, hỏa lực rất lớn, dụng ấn tinh không chỉ không gặp đoạt thực, còn có thể khiến người tú và quý, mộc hỏa Thương Quan hỉ gặp thủy cũng luận như vậy, đây cũng là điều hậu.
Cách cục như thế này có rất nhiều, không thể nói hết. Người học mệnh lý căn cứ những nguyên lý trên suy một ra ba, loại suy, không ngừng lĩnh ngộ đạo lý trong đó mới được.
Ở phần trước người viết đã lấy ví dụ thực tế, trình bày và phân tích kim thủy Thương Quan không nhất định hỉ gặp quan tinh, không nhất định cần có hỏa điều hậu, trước khi kết thúc chương, chúng ta nhìn lại mộc hỏa Thương Quan có hay không cần thủy điều hậu.
nam mệnh:
Thực ấn nhật thực
Bính quý giáp bính
Ngọ tị dần dần
Đây là bát tự mùa hạ mộc hỏa thịnh, có một chút quý thủy điều hậu, áp dụng cách của Thẩm đại ca là "Khinh dụng cũng tú mà quý". Thế nhưng mệnh chủ lại người ăn mày mù mắt! Cũng không tú, cũng không quý, muốn làm người bình thường đều không đủ tư cách. Vấn đề ở đâu? Tại thành bại cao thấp của cách cục. Quý thủy ấn tinh hư nhược không có căn, không thể tạo thành Thương Quan phối ấn cách. Mệnh cục không có tài, cũng không có thể tạo thành Thương Quan sinh tài cách. Tòng nhi có ấn, cũng không có thể tạo thành tòng cách. Cách cục gì cũng không thành lập, còn có hảo mệnh sao? Sách mệnh lý nói "Bính hỏa đốt khô can quý thủy, hai mắt mù đặc" . Không phải nhằm vào bát tự như vậy nói sao? Nếu như không có quý thủy ấn tinh hư nhược kia, mệnh chủ... ít nhất ... không bị mù mắt.
Nếu như ấn tinh có căn, có thể thành Thương Quan phối ấn cách, như vậy kết quả sẽ không giống vậy rồi. Mời xem:
1) Lễ bộ Thượng thư tiễn bang ngạn: canh thân nhâm ngọ ất hợi nhâm ngọ;

2) bắc đại giáo thụ lưu sư bồi: giáp thân canh ngọ ất tị Đinh Hợi;

3) lục quân tổng trưởng ngô quang tân: nhâm ngọ bính ngọ giáp thân giáp tý;

4) tư pháp tổng trưởng từ khiêm: nhâm thân bính ngọ giáp ngọ giáp tuất;

Bốn bát tự này bởi vì ấn tinh có căn, tạo thành Thương Quan phối ấn cách, cho nên ai cũng văn chương cẩm tú, danh thành lợi tựu.

Rất hiển nhiên, mấy bát tự ấn tinh vừa có căn, lại có quan sát tương sinh, không phải "khinh dụng", mà là "trọng dụng", tác dụng của nó không chỉ như điều hậu mà thôi, mà là hữu lực chế ước Thương Quan, dẫn đến tác dụng quan trọng của tướng thần. So sánh các bát tự, chỉ có lưu sư bồi lực lượng hợi thủy ấn tinh là nhẹ nhất, cũng vì điểm này, ông ta quý khí nhỏ nhất, không có thực quyền. Có thể thấy được, nếu dùng ấn tinh, sẽ trọng dụng, chứ không thể khinh dụng.
Có câu: điều hậu không phải quá trọng yếu, quan trọng là ... cách cục. Nếu như chữ điều hậu không phù hợp cách cục, thì chỉ mang đến bất hạnh cho mệnh chủ. Khi chữ điều hậu là tướng thần thành cách, thì không ngại trọng dụng. Khinh dụng thì chỉ làm hạ thấp cách cục.

Thanked by 2 Members:

#27 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 03/08/2011 - 10:27

Mười hai, luận tướng thần yếu khẩn

Nguyên văn:
lệnh tháng đắc dụng thần, thì vị trí khác cũng có tướng, vua có tướng làm phụ tá. Như quan gặp tài sinh, thì quan là dụng, tài là tướng; tài vượng sinh quan, thì tài là dụng, quan là tướng; sát gặp thực chế, thì sát là dụng, thực là tướng. Đây chỉ là phương pháp cố định, chưa biến hóa. Nói chung, mọi cách cục, dựa vào một chữ mà thành, chữ đó gọi là tướng.

Giải nghĩa: nếu từ lệnh tháng xác định dụng thần, như vậy tại khác vị trí đều tất nhiên còn có tướng thần, như hoàng đế có tể tướng phụ tá.

Ví dụ như lệnh tháng là quan tinh, gặp tài tới sinh, thì quan là dụng thần, tài là tướng thần; lệnh tháng là tài, khi có quan, thì tài là dụng thần, quan là tướng thần; lệnh tháng là Thất Sát, cần Thực Thần đến chế, thì sát là dụng thần, Thực Thần là tướng thần. Đương nhiên, những cái này đều là quy tắc cứng nhắc, không thích ứng biến hóa cách cục. Tướng thần, nói đơn giản, chính là toàn bộ mệnh cục dựa vào một chữ nào đó để thành cách, chữ này chính là tướng thần.

Khái niệm tướng thần chỉ có trong 《 tử bình chân thuyên 》, chứ không có trong các sách mệnh lý khác. Thông thường sách mệnh lý đều đem tướng thần và hỉ thần nhập làm một. Ví dụ như từ nhạc ngô lão sư phó khi chú thích tướng thần nói: "Tướng thần còn gọi là hỉ thần" . Thế nhưng đọc kỹ các chương trong《 tử bình chân thuyên 》 liên quan đến tướng thần và hỉ thần, dễ thấy chú giải tướng thần của Từ lão sư phó là sai lầm.

Thẩm đại ca tại chương《 tử bình chân thuyên • luận hành vận 》nói rằng: "Như thế nào hỉ? Thần mừng thấy ở trong mệnh, thần hỗ trợ cho ta. Như quan dụng ấn chế thương, mà vận trợ ấn; tài sinh quan thân khinh, mà vận trợ thân..." Tức là Chính Quan ( dụng thần ) cách, lấy ấn thụ ( tướng thần ) chế Thương Quan ( kỵ thần ) cứu cách, mà đại vận sinh trợ ấn tinh quan sát, quan sát hỉ thần; tài cách sinh quan, tài là dụng thần, quan là tướng thần, thế nhưng nhật nguyên không có căn, tuế vận gặp phải ấn tỷ trợ thân, ấn tỷ này chính là hỉ thần ( mời xem thêm bài viết《 luận hỉ thần 》 của Hoàng tôi). Nhìn xem, dụng thần, tướng thần và hỉ thần không phải đều phân chia rất rõ ràng sao? Tướng thần là tướng thần, hỉ thần là hỉ thần, hai thứ cũng không phải là một.

Nguyên văn:
thương dụng rất tổn hại Nhật chủ, thương tướng rất vào thương dụng. Như giáp dụng dậu quan, thấu đinh gặp nhâm, thì hợp thương tồn quan thành cách, toàn bộ dựa vào nhâm tướng; mậu dụng tí tài, thấu giáp cùng kỷ, thì hợp sát tồn tài thành cách, toàn bộ dựa vào kỷ tướng; ất dụng dậu sát, năm đinh tháng quý, trụ giờ gặp mậu, thì hợp khứ quý ấn làm cho đinh có thể chế sát, toàn bộ dựa vào tướng thần mậu thổ.

Giải nghĩa:
đối với tầm quan trọng của tướng thần, Thẩm đại ca tiến thêm một bước cường điệu nói, tổn thương dụng thần còn hơn tổn thương nhật nguyên, tổn thương tướng thần còn hơn tổn thương dụng thần. Chú ý! ở đây dụng thần còn quan trọng hơn tướng thần, tại các sách mệnh lý hiện đại thì không hề có như vậy.

Ví dụ như giáp ngày mộc sinh vào tháng dậu, lấy dậu kim quan tinh là dụng thần, lộ ra đinh hỏa Thương Quan đến phá cách, gặp phải nhâm thủy lộ ra đến hợp trụ đinh hỏa, do đó Chính Quan cách có thể thành lập, ở đây toàn bộ dựa vào công cứu cách của nhâm thủy, nhâm thủy này chính là tướng thần;

Mậu thổ nhật nguyên sinh vào tháng tí, tí thủy tài tinh là dụng thần, lộ ra giáp mộc Thất Sát đến phá cách, nhưng gặp kỷ thổ hợp trụ giáp mộc, như vậy đều bảo trụ tài cách không bị Thất Sát phá hoại, gọi "Hợp sát tồn tài" . Ở đây toàn bộ dựa vào kỷ thổ cứu cách, nên kỷ thổ chính là tướng thần;

Ất mộc sinh vào tháng dậu, là sát cách. Can năm thấu đinh hỏa Thực Thần, can tháng thấu quý thủy kiêu thần đến đoạt thực phá cách, can giờ lộ ra mậu thổ đến hợp trụ quý thủy, làm cho đinh hỏa Thực Thần có thể chế sát thành cách, mậu thổ chính là bát tự có thể thành cách tướng thần.

Nguyên văn:
quý sinh tháng hợi, thấu bính là tài, tài gặp nguyệt kiếp, mà mão mùi tới hội, thì hóa thủy là mộc mà chuyển kiếp sinh tài, toàn bộ dựa vào tướng thần mão mùi. Canh sinh tháng thân, thấu quý tiết khí, không thông lệnh tháng mà kim khí không linh, tí thìn hội cục, thì hóa kim thành thủy mà thành kim thủy tương hàm, toàn bộ dựa vào tướng thần tí thìn. Các loại như vậy đều là sự quan trọng của tướng thần.

Giải nghĩa:
quý thủy sinh vào tháng hợi, lộ ra bính hỏa tài tinh, thì sẽ bị lệnh tháng Tỉ Kiếp khắc mà phá cách, nhưng nếu địa chi có hai chữ mão mùi, thì hợi mão mùi tam hợp mộc cục, đem hợi thủy Tỉ Kiếp hóa thành Thực Thương ngược lại sinh tài, tạo thành Thực Thương sinh tài cách. Nhân tố then chốt thành lập tài cách chính là hai chữ mão mùi, bởi vậy hai chữ mão mùi ( thực ra là chữ mão ) chính là tướng thần.

Canh ngày kim sinh vào tháng thân, lộ ra quý thủy tiết khí thổ tú, nhưng nếu quý thủy không thông lệnh tháng thì không thanh tú, chỉ có địa chi thân tí thìn hội thủy cục, đem thân kim Tỉ Kiếp hóa thành Thực Thương, cách thành kim thủy tương hàm, hai chữ tí thìn đó là tướng thần mà bát tự dựa vào để thành cách.

Trường hợp như vậy, có thể thấy tầm quan trọng của tướng thần.

Đọc xong đoạn văn này, thấy tuy rằng chỉ có Thẩm đại ca giảng tướng thần, nhưng tướng thần không thể tùy tiện lấy bỏ, mà là các chữ then chốt không thể thiếu để lập cách bát tự. Tầm quan trọng đó còn hơn dụng thần!

Đúng vậy, tổ chức nào, đều là quay xung quanh lợi ích nào đó mà thành lập, đồng thời có thành phần chịu trách nhiệm của tổ chức. Nếu chúng ta xem cách cục là tổ chức, tổ chức quay xung quanh dụng thần mà thành lập, cách cục chủ yếu của tổ chức chính là tướng thần. Bởi vậy, Thẩm đại ca mới nói: "Tổn thương dụng còn hơn tổn thương Nhật chủ, tổn thương tướng thần còn hơn tổn thương dụng thần."

Tướng thần nếu là cách cục chủ yếu tổ chức, vậy nếu rời khỏi cách cục, thì tướng thần không còn quan trọng. Vì mệnh lý hiện đại đều không nặng cách cục, cho nên sẽ không đề cập tới tướng thần. Thế nhưng, 《 uyên hải tử bình 》, 《 tam mệnh thông hội 》, 《 thần phong thông khảo 》 hoặc 《 tử bình chân thuyên 》, được nói nhiều nhất trong những sách này chính là cách cục! Cổ nhân đều dùng cách cục định phú quý, đoán thành bại, luận sinh tử, nhìn xem tâm tính, bỏ cách cục thì không thể nào luận mệnh. 《 tứ ngôn độc bộ 》 nói: "Tháng là đề cương, luận cách đoán rõ" ;《 ngũ ngôn độc bộ 》 nói: "Trong cách như khứ bệnh, tài lộc hỉ tướng tùy" ;《 tiệp trì thiên lý mã 》 nói: "Nhập cách đoán quý, không vào cách đoán bần " ;《 bảo pháp 》 nói: "Xem tử bình, không định được cách, 10 thì có 9 là không tốt".

Chỉ có biết tầm quan trọng cách cục, mới biết tầm quan trọng tướng thần.

Nguyên văn:
tướng thần không bị phá, thành quý cách; tướng thần bị thương, bại cách. Như giáp dụng dậu quan, thấu đinh gặp quý ấn, chế thương hộ quan vậy, mà lại gặp mậu, quý hợp mậu mà không chế đinh, quý thủy tướng thương (tướng thần thụ thương/bị hợp) vậy; đinh dụng dậu tài, thấu quý gặp kỷ, thực chế sát sinh tài, mà lại thấu giáp, kỷ hợp giáp mà không chế quý, kỷ thổ tướng thương vậy. Có tình mà hóa vô tình, hữu dụng mà thành vô dụng.

Giải nghĩa:
chỉ cần tướng thần không thụ thương mà hữu lực, là hảo cách; tướng thần vô lực hoặc thụ thương, thì cách cục tất phá.

Ví dụ như ngày giáp mộc sinh vào tháng dậu, dụng thần là quan tinh, lộ ra đinh hỏa Thương Quan muốn phá cách, gặp quý thủy lộ ra chế đinh hỏa là cứu cách, nhưng nếu lại lộ ra mậu thổ hợp trụ quý thủy, thì quý thủy không chế đinh hỏa, tướng thần bị thương, bởi vậy vẫn luận phá cách.

Đinh hỏa nhật nguyên sinh vào tháng dậu, dụng thần là tài, thấu quý thủy Thất Sát thì phá cách, gặp kỷ thổ Thực Thần lộ ra chế quý thủy, kỷ thổ chính là tướng thần, là chữ cứu cách. Nhưng nếu lại gặp giáp mộc lộ ra hợp trụ kỷ thổ, thì kỷ thổ tướng thần không thể chế quý thủy, tức là phá cách.

Những ví dụ này đều là trước hữu tình sau đó trở nên vô tình, trước có dụng thần sau đó lại không có dụng thần phá cách bát tự.

Ví dụ như hai nữ mệnh phía dưới:

Tài ấn nhật thương

Kỷ quý giáp đinh

Sửu dậu dần mão

Dậu sửu hợp, quan sát nhiều. Gặp sát xem ấn, có quý thủy ấn tinh là tướng thần vốn có thể thành cách, ngờ đâu kỷ thổ khắc mất quý thủy, liền phá sát ấn cách. May là can giờ còn có đinh hỏa Thương Quan có thể chế sát thành cách, tuy rằng đinh hỏa không thể trực tiếp chế sát, lại có kỷ thổ tiết thương tổn sinh mạng sát, nhưng còn có thể miễn cưỡng thành cách, chỉ là cách cục không cao mà thôi. Đại vận Ất hợi, hợi mão hợp mà thấu ất mộc trực khắc kỷ thổ, giải thoát quý thủy, khắc đoạt đinh hỏa, hình thành cục diện phá cách “chế hóa lưỡng lập”. Như vậy Thất Sát vô chế mà nguy hiểm, mão mộc vì hợp mà xung động dậu kim, kích động quan sát đến công thân, mệnh chủ vào năm nhâm tháng thìn ( nhâm thủy dùng hai hợi thủy mà căn hợp đinh hỏa ) gặp kẻ bắt cóc tiền dâm hậu sát, vứt xác bên đường. Đây là tổ hợp mệnh cách trước hữu tình, sau lại trở nên vô tình.

Thực tỷ nhật tỷ

Tân kỷ kỷ kỷ

Mùi hợi mão tị

Lệnh tháng là hợi thủy, vốn là tài cách, vì hợi mão mùi tam hợp, hóa tài cách ra sát cách, là có tình trở nên vô tình. Cũng may can năm có tân kim Thực Thần trên cao nhìn xuống chế sát, chính là vì "Một người giữ ải, vạn kẻ khó qua". Bát tự lại hợp thành mỹ cách "sát cần thực chế". Bởi vậy mệnh chủ ôn nhu ưu nhã, giỏi về thổi tiêu, được minh đế sủng ái và phong làm hiền phi. Đây là tổ hợp bát tự vô tình biến thành hữu tình.

Nguyên văn:
phàm bát tự bài định, tất có một kiểu nghị luận, một kiểu tác dụng, một kiểu lựa chọn, tùy chỗ biến hóa, khó có thể hư cấu, người học mệnh có thể xem nhẹ chăng?

Giải nghĩa:
mỗi một mệnh tạo, đều là một kiểu tổ hợp bát tự, nên chỉ có một kiểu phân cách cục. Cách cục có thành lập hay không, dụng thần có khả dụng hay không, khi nào lấy khi nào bỏ, nhất định phải căn cứ từng mệnh thức cụ thể để phân tích, lấy định dụng dựa trên kết cấu bát tự, không thể tùy ý lấy hay bỏ. Để lấy dụng thần và định cách cục chính xác, người học mệnh lý phải thành thạo quy tắc cơ bản, xem nhiều lá số thực tế, suy nghĩ thấu đáo, phải coi mệnh lý học là một môn học vấn cao thâm, không thể đùa giỡn.

Thanked by 1 Member:

#28 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 04/08/2011 - 21:40

15, luận thần sát không quan hệ cách cục
Nguyên văn:
cách cục bát tự, chuyên lấy lệnh tháng phối hợp với tứ trụ, về phần thần sát tốt xấu, không thể dụng sinh khắc, làm sao có quyền điều khiển thành bại ? Huống hồ vào cục có trở ngại, tức là tài quan mỹ vật, còn không thể ích, nói gì đến cát tinh? Vào cục hữu dụng, tức là Thất Sát Thương Quan, cái gì gọi là hung thần vậy ? Với cách cục thành, cho dù trong bát tự xuất hiện nhiều cô thần nhập sát, vì sao tổn hại kỳ quý? Cách cục phá, cho dù thiên đức quý nhân tràn ngập trong bát tự, dùng cái gì là công? Người thời nay không biết nặng nhẹ, bất kể tứ trụ cứ gặp cát tinh là thỏa mãn mà bỏ qua dụng thần, , luận bừa quý tiện họa phúc, buồn cười chết mất thôi.
Giải nghĩa:
Thẩm đại ca nói, cách cục của bát tự, chuyên lấy lệnh tháng làm dụng thần rồi phối hợp với can chi còn lại, với thần sát ( tức là các loại thần sát cát hung ) không thể luận sinh khắc chế hóa, sao lại có thể chi phối thành bại cao thấp của cách cục ? Hơn nữa, chữ gây hại với bát tự cho dù là Chính Tài Chính Quan cũng không thể luận cát, huống chi là thần sát? Chỉ cần đúng cách cục, cho dù là Thất Sát Thương Quan, cũng không luận hung. Cho nên, chỉ cần cách chính cục thanh, mặc dù cô thần hung thần xuất hiện nhiều trong bát tự, cũng không thể tổn hại quý khí của cách cục. Nếu là cách cục phá, mặc dù thiên đức quý nhân xuất hiện nhiều trong bát tự, cũng ăn thua gì ? Người thời nay không biết cách cục và thần sát cái gì khinh cái gì trọng, vừa thấy cát tinh, liền không để ý dụng thần cách cục, đoán bừa cho người ta là phú quý; vừa thấy hung tinh, liền đoán người ta tai hoạ, đây là chuyện rất buồn cười.
Thẩm đại ca phê bình việc lấy thần sát đoán cát hung họa phúc, mục đích là muốn kẻ hậu học coi trọng dụng thần cách cục, chứ không phải thần sát cát hung thiên biến vạn hóa. Chuyện này thì mệnh lý hiện đại dường như đã đi quá xa, thần sát giống như hoàng phi bị phế truất đánh vào lãnh cung. Nhưng mà, Thẩm đại ca chỉ nói thần sát và cách cục không quan hệ, chứ không nói thần sát và đoán mệnh không quan hệ! Người viết cho rằng, cách cục là thân cây, thần sát là cành lá. Nếu bàn về giàu sang nghèo hèn cát hung họa phúc của một người, phải xem mệnh cách đó thành bại cao thấp, chứ không liên quan thần sát. Thế nhưng bát tự không chỉ phản ánh phú quý nghèo hèn cát hung họa phúc mà còn phản ánh nhiều loại tin tức liên quan, ví dụ như hình tượng, cá tính, sự kiện, những tin tức này thường thường do thần sát phản ánh. Cho nên, thần sát có tác dụng đặc biệt, không thể bỏ qua. Thông thường thầy tử bình giang hồ, bao gồm cả các thầy mù, hầu như đều sử dụng thần sát phụ trợ đoán mệnh, hiệu quả chắc là không tệ.
Học qua bát quái lục hào ai cũng biết, 《 "hoàng kim sách" 》 viết: " thần sát cát hung đa dạng, làm sao có thể thống nhất với lý “sinh khắc chế hóa” Ý là đoán quẻ cần lấy ngũ hành sinh khắc làm mấu chốt, các loại thần sát không thể quyết định thành bại được mất. Thế nhưng trong bát quái kinh điển 《 dịch ẩn 》không phải có rất nhiều thần sát sao? Chưa từng dụng sao? Thầy dịch lý nào cũng sử dụng thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ, đó chẳng phải thần sát sao? Tuy rằng thần sát như thanh long, bạch hổ không thể quyết định thành bại, nhưng có thể dùng để phụ trợ suy đoán sự vật và hình tượng, không phải tất cả các thầy dịch lý đều thừa nhận chuyện đó sao? Thần sát trong bát tự, cũng có tác dụng kiểu như thanh long, bạch hổ.

Nguyên văn:
Trong sách nói “lộc quý”, là nói Chính Quan, chứ không nói “lộc đường quý nhân”. Như Chính Tài đắc “thương quý” là kỳ, “thương quý” là Thương Quan, Thương Quan sinh tài, Chính Tài đắc, cho nên là kỳ. Nếu Thương Quý là quý nhân, thì thương quý cụ thể là cái gì ? Lại nếu vì đắc lộc mà “tị vị” (tị: rời bỏ, lánh đi; vị: vị trí), đắc lộc, đắc quan, vận đến đất quan, thăng quan tiến chức, như tài dụng Thương Thực, vận thấu quan thì tạp, Chính Quan lại ngộ quan thì trọng, phàm các loại đó, chính là “tị vị”. Nếu coi là “lộc đường”, không chỉ vô lý, nếu nói đắc lộc “tị vị” thì ngữ pháp trên dưới không khớp nhau. Cổ nhân viết sách, vì sao không rõ ràng như vậy !

Giải nghĩa:
Trong sách mệnh lý nói “lộc đường quý nhân”, thường là Chính Quan, chứ không phải chữ kiến lộc của ngũ hành. Ví dụ như sách mệnh lý nói Chính Tài đắc thương quý vi kỳ, thương quý chính là Thương Quan. Thương Quan sinh tài, Chính Tài đắc Thương Quan sinh phù, cho nên là kỳ, nếu coi “thương quý” là quý nhân, thì “thương quý” đó gì vậy? Lại nói vì đắc lộc mà “tị vị”, đắc lộc chính là đắc quan, đại vận tới đất quan tinh, sẽ thăng quan tiến chức. Nhưng nếu cách tài được thực sinh, đại vận lộ ra quan tinh thì trái lại phá cách, Chính Quan cách gặp quan tinh tại đại vận đều luận như vậy, là “tị vị” rồi. Nếu như lấy chữ kiến lộc làm quan tinh, không chỉ không hợp lý, hơn nữa nói đắc lộc tị vị, thì câu văn trên dưới mâu thuẫn lẫn nhau, cổ nhân viết sách, sao có thể mâu thuẫn vậy !

Người viết có một vị người quen, mệnh lý rất khá. Ông ta tưởng mình đã nắm vững tuyệt kỹ đoán sinh tử tai họa một cách chính xác. Ông ta mua một phần bí quyết 《 mã đảo lộc tà luận tử tai họa bí quyết 》với giá 70 nguyên từ một vị đại sư nào đó. Bí quyết nói "Lộc",không phải là Chính Quan, mà là vị trí Lâm Quan của ngũ hành can ngày ( ví dụ như giáp mộc lâm quan tại dần ), gặp tuế vận xung khắc là "Mã đảo lộc tà", mệnh chủ có tai họa sống chết. Sau khi ông ấy học được, ta đưa cho ông ta năm mươi mệnh mời ông ta xem, kết quả chỉ đúng có hai mệnh, ông ta rút lui, chửi vị đại sư kia là tên bịp bợm. Ta giải thích cho ông ấy, "Mã" là tài, "Lộc" là quan, “mã đảo lộc tà (tà: nghiêng; mã đảo lộc tà: mã đổ lộc nghiêng)” là chỉ tài quan đều đã bị khắc phá hư, nếu như tài quan cách sẽ có sinh tử đại tai họa, cách cục khác thì chưa chắc. Cổ nhân xem sinh tử đều lấy cách cục mà luận, không phải có chuyên đề 《 lấy cách cục luận sinh tử 》sao, bạn đọc thử tìm đọc xem.

Nguyên văn:
với nữ mệnh, có nói "Quý nhiều thì làm kỹ nữ" . Quý nhiều là quan nhiều, nữ lấy quan làm chồng, chính phu mà có thể nhiều sao ? Một nữ nhiều chồng thì đương nhiên là “làm kỹ nữ”. Nếu coi “quý” là thần sát, cũng không phải là phu tinh, thì sợ gì nhiều, mà phải làm kỹ nữ vậy ?
Giải nghĩa:
Với nữ mệnh, sách mệnh lý nói "Quý trọng thì làm kỹ nữ" . Cái gọi là "Quý trọng" chính là quan tinh rất nhiều, nữ mệnh lấy quan tinh làm chồng, chồng nhiều là không bình thường rồi. Một nữ nhân có rất nhiều chồng, chỉ có các cô bé ở lầu xanh mới phù hợp trường hợp này. Nếu coi đó là “thiên ất quý nhân, nguyệt đức quý nhân” trong thần sát, cũng không phải phu tinh của nữ nhân, quý nhân loại này càng nhiều càng tốt, mệnh chủ làm sao là kỹ nữ ?

Nguyên văn:
Các sách mệnh lý cũng có đề cập đến thần sát, người đọc sách không nên chấp. Như " ngoài Quý nhân còn có tài quan, xe tứ mã đỗ trước cửa (xe tứ mã: ferari, lam-bô-ghi-ni, phantom, Boing, titanic)", tài quan như khuôn mặt, quý nhân như y phục mũ mão túi xách, mặt có xinh chân có dài thì diện đồ mới đẹp được chớ. Thực ra tài quan thành cách, còn hơn cả có “quý nhân”, sợ gì không “xe tứ mã đỗ trước cửa” ! Lại như luận nữ mệnh viết: "Vô sát đới nhị đức, thụ lưỡng quốc chi phong (không có sát lại thêm nhị đức, hai nước đều khen nở cả mũi)" Nghĩa là nữ mệnh không có hung sát, cách cục thanh quý, lại có thêm nhị đức, sẽ nhận được vinh phong (vinh phong: bằng khen của Công Đoàn các cấp). Nếu chuyên chủ nhị đức, thì sao không nói luôn “đới nhị đức thụ lưỡng quốc chi phong”, mà trước đó lại viết không có sát vậy ? Nếu nói mệnh gặp cách cục hung hiểm, lại có nhị đức, thì có thể cứu nguy, cũng có trường hợp như vậy nhưng không quan hệ quý tiện của cách cục.

Giải nghĩa:
Nhưng mà, trên sách mệnh lý cũng có đề cập thần sát, nhưng người đọc cứ khăng khăng cố chấp thì không hay. Ví dụ như "Quý nhân đầu thượng đới tài quan, môn sung xe tứ mã", có tài quan giống như là khuôn mặt đẹp, quý nhân thì như là y phục tướng mạo mỹ đẹp, mặt đẹp mới càng làm y phục đẹp. Thực ra, chỉ cần tài quan thành cách, mặc dù không có quý nhân, chẳng lẽ còn sợ không “xe tứ mã đến nhà” sao? Lại như luận nữ mệnh nói: "Bát tự vô sát, đới thiên nguyệt nhị đức, sẽ nhận lưỡng quốc chi phong." Là nói nữ mệnh không có hung sát, cách chính cục thanh, lại đới thiên nguyệt nhị đức, thì tất nhận vinh phong. Nếu như chỉ nói thiên nguyệt nhị đức, không nói cách cục, vì sao không nói "Đới nhị đức thụ lưỡng quốc chi phong", mà trước đó phải nói "vô sát" ? Nếu như nói mệnh cách có hiểm nguy, lại có thiên nguyệt nhị đức, thì được cứu, biến hung thành cát, cũng có trường hợp này, thế nhưng không liên quan đến cao thấp quý tiện của mệnh cách ? Gặp trường hợp cách cục xấu thì đến tài quan còn vô ích chứ nói gì đến cát tinh ? Vào cục hữu dụng, tức là Thất Sát Thương Quan, thì cái gì gọi là hung thần vậy? Khi cách cục đã thành, cho dù xuất hiện nhiều cô thần nhập sát trong bát tự, đâu có tổn hại quý cách ? Cách cục bị phá, cho dù ngập tràn Bát Tự là thiên đức quý nhân cũng đâu có ăn thua gì ? Người thời nay không biết nặng nhẹ, gặp cát tinh, là thỏa mãn bỏ qua dụng thần, bất kể tứ trụ, ba hoa quý tiện, bốc phét họa phúc, quá là buồn cười ta.

Luận thời thuyết dĩ ngoa truyền ngoa (Bàn về ngoa truyền)

Nguyên văn: bát tự vốn có nguyên, không rõ lý, sẽ sinh sai lạc, nói bậy nghe bừa, không gì phá nổi. Như luận can chi, không biết lý âm dương, mà lấy sách chép tay như “thể tượng ca quyết” làm tiêu chuẩn luận đoán; luận cách cục, thì không biết chuyên tìm lệnh tháng, mà cứ khăng khăng theo biến hóa ngoại cách; luận sinh khắc, thì không thấu triệt hỉ kỵ, mà cứ thương vượng phù nhược; luận hành vận, thì không biết “đồng trung hữu đạo”, mà chỉ theo loại can chi mà đoán.
Giải nghĩa: Đoán mệnh bằng bát tự đoán mệnh có định lý và phương pháp hẳn hoi. Có vài người không có chân truyền, không biết tử bình mệnh lý chính tông siêu pháp, liền tạo ra các phương pháp mệnh lý trông tưởng đúng mà lại sai, khiến cho giới mệnh lý ngụy biện giữa đường, tà thuyết hoành hành. Muôn vạn học giả về sau không có năng lực phân rõ đúng sai, nghe bừa tin bừa rồi truyền bừa, hiện nay đã thành thói quên lâu năm khó sửa.
Ví dụ như luận can chi, sẽ không biết lý âm dương của can chi, mà lấy "Thể tượng ca quyết" để luận can chi, nói cái gì mà giáp mộc là cây to chọc trời, nên chặt đẽo, mà ất mộc là hoa cỏ nhược mộc, nên sinh phù v.v..., đều là ngụy thuyết.
Ví dụ như luận cách cục, thì không chuyên từ lệnh tháng lấy dụng thần, mà tùy tiện lấy dụng thần khắp nơi để xác định cục, còn nói đây là linh hoạt ! Đặc biệt hiện tại rất nhiều người, ngay cả khái niệm dụng thần đều còn không biết rõ, nói gì đến hoạt biến !
Ví dụ như luận sinh khắc, thì không dựa trên cách cục suy nghĩ, chỉ dựa trên quy tắc cứng nhắc “vượng thì nên khắc, nhược thì nên phù” để luận mệnh, chỉ nói bát tự ngũ hành cân đối và lưu thông, không nói thành bại và cao thấp cách cục bát tự, ngươi xem vượng, ta xem suy, đoán mò thì làm sao đoán ?
Ví dụ như luận hành vận, thì không hỏi giáp hay là ất, dần hay là mão, chỉ nhìn can chi đều thuộc mộc, đều lấy mộc đến luận hỉ kỵ, mà không biết có khi giáp mộc phá cách mà ất mộc thành cách, có khi dần mộc thành cách mà mão mộc phá cách, không biết rằng sai một li là đi một dặm.
Nguyên văn:
Nguyên nhân, thứ nhất người xưa viết sách, cô đọng câu chữ, đời sau không rõ, đâm ra hiểu lầm; do viết sách ngụy tạo, hiểu lầm ý tứ, mà thâm nhập lạc đường; do luận mệnh lấy vận, may mắn đoán đúng, khăng khăng ý mình, do mệnh thức người xưa, tập hợp có sai, tự ý lập ngoại cách, hại người rất nặng. Như nhâm thân, quý sửu, kỷ sửu, giáp tuất, vốn tạp khí tài vượng sinh quan, mà cho rằng ất giờ hợi, tức thì thấu thất sát, vượng tài sinh sát, đem cứu tử còn không xong, lấy đâu ra quý? Loại đó rất nhiều, đều là sai lầm của cách cục. Như kỷ mùi, nhâm thân, mậu tí, canh thân, vốn Thực Thần sinh tài, mà rời bỏ lệnh tháng, cho rằng ngày mậu canh thân hợp lộc, bản thân tự có tài thực, chẳng phải rất tốt sao ? Làm sao phải lấy canh hợp ất, dùng quan cách từ bên ngoài, trường hợp này rất nhiều, đều là miễn cưỡng nhập ngoại cách.
Giải nghĩa:
Ngụy biện tà thuyết lan tràn như cỏ dại do bốn nguyên nhân sau đây:
Một, người xưa viết văn dùng từ giản lược, tiết kiệm mực như vàng, nặng nhẹ và vị trí một chữ, thường thường đều chú ý mười phần. Chữ nghĩa đắn đo rất chính xác. Kẻ hậu học nếu không chịu động não, không tỉ mỉ đọc kỹ, nhiều khi chỉ vì hiểu sai một chữ mà hiểu lầm cả câu, hiểu sai vài chữ mà hiểu lầm toàn bộ đoạn văn.
Hai, có vài người cố tình làm ra man thư, như bọn gian thương làm ra sản phẩm kém, giới mệnh lý có rất nhiều sách vở mệnh lý không hợp cách. Người mới học sẽ lầm nhập lạc lối, thậm chí người mù dẫn người mù, sai càng thêm sai.
Ba, vài mệnh sư khi đoán mệnh cho người khác đoán, ngẫu nhiên đoán đúng vài trường hợp, liền cho rằng phương pháp của mình đúng cho mọi trường hợp, khăng khăng ý mình, đem phương pháp lệch lạc sử dụng. Nếu đoán sai cho người khác, hoặc bị người ta hỏi vặn, đều đổ oan cho người xưa cổ nhân, bịa đặt một ít lý luận mới, hoặc nói dụng thần là điểm cân đối của bát tự, hoặc nói có nhiều kiểu dụng thần, hoặc nói xem mệnh không cần xem dụng thần, hoặc nói có thể bỏ qua cách cục, hoặc nói cần lấy đông chí hoán trụ năm, hoặc nói đại vận không phân biệt được nam nữ đều đi thuận, hoặc nói mệnh lý không có nguyên lý, thích xem thế nào thì xem v.v....
Bốn, vài tác giả sách mệnh lý thường thường không may tập hợp vài bát tự sai, hoặc cố tình ngụy tạo vài danh nhân bát tự. Ví dụ như nói bát tự của hàn tín sát trọng thân khinh, bát tự quan công là bốn mậu ngọ, bát tự Trương Phi là bốn quý hợi, v.v.... Thực ra đều là đồ dỏm không có một chút chứng cớ xác thực nào. Có một số tác giả không hiểu cách cục, đem nội cách bát tự xếp vào ngoại cách, biên tập ra kỳ cách dị cục, ví dụ như từ ấn cách, từ nhược cách, song mã phá tào cách, hồ điệp song phi cách. Thực sự là hại người rất nặng !
Ví dụ một mệnh tạo như vậy:
Tài tài nhật quan
Nhâm quý kỷ giáp
Thân sửu sửu tuất
Lệnh tháng thấu tài, can giờ quan tinh, vốn thuộc tạp khí tài vượng sinh quan cách. Có người đem mệnh này sửa thành ất giờ hợi, tức sát cách luận, cho rằng thân sát đều vượng mới có quý khí. Những người này nào biết đâu rằng tài vượng sinh sát đó là phá cách, mệnh chủ phi bần tất yểu: không nghèo thì nghẻo, còn có quý khí gì để nói ?
Sai lầm kiểu này rất nhiều, đều là nguồn dữ liệu sai, loạn sửa giờ giấc mà dẫn đến.
Cũng vậy:
Kiếp tài nhật thực
Kỷ nhâm mậu canh
mùi thân tí thân
Thân kim Thực Thần đương lệnh, sinh nhâm tí tài tinh, cách thành Thực Thần sinh tài, vốn là một cách cục rõ ràng, nhưng có vài người không để ý lệnh tháng Thực Thần, ngày mậu giờ Thân, có thể tạo thành hợp lộc cách (lộc tức là quan, canh kim có thể ám hợp ất mộc quan tinh. Thân kim có thể ám hợp tị hỏa là kiến lộc của mậu thổ). Rõ ràng lệnh tháng có Thực Thần và tài tinh, không phải dụng thần tốt sao? Vì sao còn muốn lấy canh kim ám hợp ất mộc đi, đi tìm cái quan tinh không nhìn thấy ?
Đây là sai lầm rất phổ biến, do không biết lấy dụng thần chuyên tìm lệnh tháng, lại đi lấy dụng thần lung tung.

Nguyên văn:
Người không kiên định, nhãn lực kém cỏi, thấy sai mà không bị mê hoặc sao. Huống hồ có nhiều Bát Tự quý cách không phải chỉ liếc mắt là giải được ? Sau khi nhận định người ta là quý mệnh, lấy tin đồn làm chứng cứ xác thực, Bát Tự nhiều người, giờ sinh khổng rõ, ngay chính bản thân họ cũng không biết. Nếu người xem mệnh không tự mình truy nguyên ngọn ngành đã lựa theo ý người cần xem mà nói thì dù học mệnh lý cả đời cũng khó thành.
Giải nghĩa:
Người học mệnh lý, nếu như trong lòng không có chủ kiến, lại không tinh thục chính tông mệnh lý, nếu thấy những ngụy lý bên trên, lẽ nào không bị mê hoặc. Vả lại có một số bát tự phú quý không phải liếc qua là thấy. Vậy mà có một số mệnh sư nhận định người ta là quý mệnh, chỉ dựa vào một ít tin vỉa hè làm chứng cứ mà thành ra bóp méo bát tự. Hoặc chỉ biết ngày sinh của người ta, tự mình định giờ cho lá số, ngụy tạo kỳ cách (như có người từng làm tại 《chu dịch và ứng dụng》thượng tướng Mao Trạch Đông đại ca sinh giờ Thìn, Chu Ân Lai giờ mão, đều là buổi trưa.
Thực ra, người xưa không có dụng cụ tính thời gian, không rõ giờ sinh của mình là chuyện thường, nhất là những người sinh vào buổi tối. Giang hồ có tục ngữ: "Thầy bói ở đâu cũng có, cái khó là tính giờ sinh" Nghe vậy là biết, thầy bói thường đau đầu vì giờ sinh không chính xác. Có những bát tự, chủ nhân của nó cũng không rõ mình sinh giờ nào, thầy bói nếu không xem xét cẩn thận, trông người ta có vẻ phú quý liền hướng theo mệnh phú quý mà đoán, thậm chí nắn giờ loạn xạ, học mệnh lý như vậy cả đời cũng không thành.
Về vấn đề làm sao xác định giờ sinh, trước khi đồng hồ phổ biến như ngày nay, chưa có phương pháp giải quyết hiệu quả. Thầy bói giang hồ thông thường sử dụng ba loại phương pháp như sau để đối phó vấn đề này:
1, Căn cứ thứ tự lần mang thai của người mẹ mà tính. Khẩu quyết: dần thân tị hợi dài bốn bảy, tí ngọ mão dậu hai năm tám, thìn tuất sửu mùi ba sáu chín. Còn nói đây là tính cho nữ mệnh, có khác khẩu quyết tính cho nam mệnh: tí ngọ mão dậu dài bốn bảy, dần thân tị hợi hai năm tám, thìn tuất sửu mùi ba sáu chín. Thế nhưng bản thân Hoàng tui đây là thai thứ 6, giờ sinh lại là chính ngọ, không khớp với khẩu quyết. Anh Triệu hàng xóm của Hoàng tui đây, sinh trưởng nam và thứ nam, đều vào buổi sáng 5:30 thuộc giờ mão, cũng không phù hợp với khẩu quyết.
2, Các khẩu quyết có liên quan trong các sách như 《 tam thế diễn cầm . Cái gì mà giờ tý đầu thì mẹ chết trước, giờ tý sau cha chết trước, giờ tý giữa thì cha mẹ đều còn sống v.v..., phương pháp này không chỉ không đúng làm khách nghi ngờ, mà người ta có sinh giờ tý hay không còn không biết chắc, sức mấy mà phân ra đầu cuối giữa giờ Tý ? Biết đâu họ không sinh vào giờ tý mà là giờ Tuất?
3, Căn cứ vào vài trường hợp nào đó của bản thân mà tính. Căn cứ xoáy tóc trên đỉnh đầu mà xác nhận, nói giờ chính thì xoáy tóc thẳng, giờ thiên thì xoáy tóc lệch; có người căn cứ thần sát để suy đoán, nói khi đới kiếp sát thì đỉnh đầu có hai xoáy, giờ đới vong kiếp thì lúc sinh ra trong nhà có tang sự; có người thì căn cứ can giờ suy tính thân thể, nói can giờ là giáp thì lưng có trĩ, can giờ là bính đinh thì vai có trĩ (trĩ: bệnh trĩ)v.v...; căn cứ phong thuỷ phòng ở mà xác nhận, nói giờ là thủy thì phía trước phòng ở sông hồ khe suối, giờ là giáp mộc thì có cây to hoặc cột điện; có người thì căn cứ số anh chị em, v.v.... Những tiểu xảo vặt này tuy có lúc hiệu quả, nhưng còn xa mới có thể trở thành phương pháp xác nhận sinh ra giờ sinh một cách tiêu chuẩn.
Có nhiều mệnh sư, thì hay vào căn cứ vào dữ kiện lớn đã xảy ra đối với mệnh chủ, ví dụ như tang cha mẹ, thi đại học, tham gia công tác, kết hôn ly hôn, thăng chức, bệnh nặng, tai họa lớn, suy ngược lại giờ sinh của mệnh chủ. Phải nói, chỉ cần mệnh sư công phu thâm, thì phương pháp này chính là phương pháp tốt nhất. Thế nhưng phương pháp này không thích hợp với người lạ, vì với khách hàng, ông ta muốn tất cả đều do thầy bói tính ra, mà không phải chính ông ta nói ra trước. Hơn nữa, mệnh sư có công phu cao thâm không phải là nhiều, ngược lại nhiều mệnh sư đưa cho người ta giờ sinh được suy luận, khiến trong rất nhiều sách mệnh lý bát tự, độ tin cậy của giờ sinh không cao, đây là điểm cần chú ý nhất của người hậu học.

Sửa bởi thatsat: 04/08/2011 - 21:44


Thanked by 1 Member:

#29 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 06/08/2011 - 21:43

Luận Dương Nhận cách
Nguyên văn:
Dương Nhận là cái cướp Chính Tài của ta, là Thất Sát của Chính Tài. Trước Lộc một vị trí, chỉ ngũ dương có, bởi vậy gọi là Dương Nhận. Không nói kiếp mà nói nhận, còn hơn cả kiếp.
Giải nghĩa:
Cái gọi là Dương Nhận, chính là chữ khắc Chính Tài, tại Thiên can gọi là Tỉ Kiếp, trên địa chi gọi là Dương Nhận, có thể nói là Thất Sát của Chính Tài. Với ngũ hành dương can, trước lộc một vị trí gọi là Dương Nhận. Giáp nhận tại mão, bính mậu nhận tại ngọ, canh nhận tại dậu, nhâm nhận tại tí. Thẩm đại ca vì sao nói Dương Nhận "Chỉ ngũ dương có", tức là 5 dương can có nhận, mà 5 âm can không có nhận ? Người học mệnh lý hiện đại đều khó giải thích vấn đề này, bởi vì họ không coi trọng cách cục, mà Thẩm đại ca khi nói về Dương Nhận cũng chỉ xét trên khía cạnh cách cục. Nói cách khác, trong sách mệnh lý cổ điển chỉ có Dương Nhận cách mà không có âm nhận cách, không giống như sách mệnh lý hiện đại, ất mộc sinh tại tháng dần hoặc tân kim sinh tại tháng dậu đều gọi là Dương Nhận cách, có tìm mỏi mắt trong sách mệnh lý cổ điển cũng không bao giờ thấy. Tra sách mệnh lý cổ điển, thấy rõ ràng âm can có Dương Nhận, như 《uyên hải tử bình • quyển một • luận Dương Nhận》đều ghi rõ: ất mộc Dương Nhận tại thìn, đinh hỏa Dương Nhận tại mùi, quý thủy Dương Nhận tại sửu v.v..., nhưng mà trong cách dương nhận lại bỏ âm can đi là vì sao? Bởi vì tất cả âm can tại vị trí Dương Nhận đều có dụng thần, mà dương can tại lệnh tháng là Tỉ Kiếp thì không có dụng thần, cho nên mới đem Dương Nhận cách lập ở ngoài bát chính cách, mà đem âm nhận cách xếp vào trong bát chính cách.
Nguyên văn:
Nhận nên được phục chế, quan sát cũng tốt, tài ấn cũng tùy, càng quý hiển. Nói đến Chính Quan, tùy tài ấn mà đẹp vậy, nếu Thất Sát cũng vậy không phải càng tệ sao ? Đâu biết rằng trong cách cục đó Sát tổn hại Nhật chủ, nên cần chế phục, mà kỵ tài ấn; Dụng Dương Nhận thì phải chế nhận, không sợ tổn hại Nhật chủ, bởi vậy không hỉ tài ấn, kỵ chế phục.
Giải nghĩa:
Dương Nhận là Kiếp Tài trong Tỉ Kiếp, có chứa khí cực cương cực bạo cực vượng, bởi vậy phải có chế ước, hoặc quan hoặc sát, nếu có tài ấn phối hợp, liền thành đại quý. Vốn có Chính Quan là tôn quý, có tài ấn phối hợp mới là điều kiện tốt nhất, hiện tại nói Thất Sát cũng muốn tài ấn phối hợp, tài sinh sát, ấn hộ sát, hung thần Thất Sát không phải càng thêm đáng sợ sao? Các cách cục khác đều vì Thất Sát công thân, nên cần có chế phục, không thích tài ấn sinh hộ Thất Sát; mà Dương Nhận cách dụng sát, là vì chế phục Dương Nhận cương bạo, cho nên không sợ Sát tới tổn hại Nhật chủ. Hơn nữa, Dương Nhận và Thất Sát đều tương hợp, Thất Sát bị Dương Nhận hợp đều khó có thể làm hại, lúc này trái lại thích tài ấn sinh hộ Thất Sát, không thích Thực Thương chế phục Thất Sát.
Nguyên văn:
Dương Nhận dụng quan, thấu nhận không lo; Dương Nhận lộ sát, thấu nhận không thành. Đại khái quan có thể chế nhận, thấu mà không làm hại; nhận có thể hợp sát, thành ra vô ích ? Như bính sinh tháng ngọ, thấu nhâm chế nhận, mà lại lộ đinh, đinh và nhâm hợp, thì Thất Sát có ý tham hợp vong khắc, làm sao chế nhận? Bởi vậy không kể.
Giải nghĩa:
Dương Nhận cách lấy quan tinh làm dụng thần, không sợ Dương Nhận thấu can (tức là giáp gặp ất), thế nhưng Dương Nhận cách thấu sát thì bất lợi, vì sao ? Bởi vì quan tinh có thể chế phục Dương Nhận, Dương Nhận tuy rằng thấu can cũng không thể làm hại, mà Dương Nhận và Thất Sát tương hợp, Thất Sát bị hợp tuy không thể làm hại nhật chủ, nhưng bị ức chế mất công dụng. Như bính hỏa nhật nguyên sinh vào tháng ngọ, lộ ra nhâm thủy Thất Sát chế Dương Nhận, Đồng thời lại lộ ra đinh hỏa đem nhâm thủy hợp trụ, thì nhâm thủy tham hợp vong khắc, làm sao có thế chế phục Dương Nhận hiệu quả ? Cho nên nói là không kể.
Nguyên văn:
Mà cùng là quan sát chế nhận, cũng có cao thấp, như quan sát lộ mà căn thâm, đại quý; quan sát tàng mà không lộ, hoặc lộ mà căn nhược, tiểu quý. Nếu kỷ dậu, bính tí, nhâm dần, bính ngọ, quan thấu hữu lực, được vượng tài sinh cho, mệnh thừa tướng. Lại tân dậu, giáp ngọ, bính thân, nhâm thìn, thấu sát căn nhược, được tài ấn trợ, cũng mệnh thừa tướng.
Giải nghĩa:
Nhưng mà, cùng là Dương Nhận cách dụng quan sát, cũng phân ra cao thấp. Nếu như quan sát thấu can mà lại có cường căn, thì cách cục rất cao, quý khí rất lớn. Mà nếu như quan sát không thấu can hoặc tuy thấu nhưng cũng không có cường căn, thì cách cục khá thấp, quý khí tương ứng nhỏ lại. Như mệnh thừa tướng:
Quan tài nhật tài
Kỷ bính nhâm bính
Dậu tí dần ngọ
Lệnh tháng Dương Nhận, can năm lộ ra kỷ thổ quan tinh, lấy ngọ hỏa là gốc, lại được bính hỏa sinh, quan tinh có lực, cách cục cao và đại quý.

Lại như mệnh thừa tướng:
Tài ấn nhật sát
Tân giáp bính nhâm
Sửu ngọ thân thìn
Nhâm thủy Thất Sát lấy thân thìn làm cường căn, lại được tân kim sinh, có thể chế phục Dương Nhận, vì vậy mệnh chủ đại quý.
Dương Nhận cách nếu sát tinh quá nhẹ, sẽ gặp mất đi quý khí, như nam mệnh:
Sát tỷ nhật kiêu
Nhâm bính bính giáp
Tuất ngọ thìn ngọ
Bát tự có hai dương nhận, chỉ có một nhâm thủy Thất Sát hư nhược không có căn, lại không có tài sinh, nên không đủ lực để chế phục Dương Nhận, bởi vậy mệnh chủ học hành không nổi, sự nghiệp không thành, tiền tài không tụ, hôn nhân không ổn định, bán hàng rong trên vỉa hè mưu sinh.
Nguyên văn:
Mà cũng có quan sát chế nhận mang thương thực mà quý, vì sao ? Hoặc là ấn hộ, hoặc là sát quá nặng mà xén bớt đi, quan sát khinh mà lấy thanh, như mệnh Mục Đồng Tri, giáp ngọ, quý dậu, canh dần, mậu dần, quý thủy khắc dần ngọ quan tinh, mà có mậu thổ ấn tinh hợp, gọi là ấn hộ. Như mệnh Cổ Bình Chương, giáp dần, canh ngọ, mậu thân, giáp dần, sát lưỡng thấu mà gốc vững, lấy thực chế là xén bớt đi. Như bính tuất, đinh dậu, canh thân, nhâm ngọ, quan sát đều xuất, mà nhâm hợp đinh quan, sát tinh thuần khiết mà không tạp. Huống hồ Dương Nhận cách, lợi cho lưu sát, gọi là thanh.
Giải nghĩa:
Trong Dương Nhận cách, quan sát không thích bị Thực Thương chế phục, thế nhưng cũng có Dương Nhận cách nhờ có Thực Thương mà phú quý. Vì sao ? Chỉ có như sau hai nguyên nhân: hoặc là có ấn tinh bảo hộ quan sát, nên không sợ Thực Thương; hoặc quan sát quá nặng, cần Thực Thương xén bớt quan sát, hoặc là thanh quan sát, để tránh quan sát hỗn tạp. Như mệnh Mục Đồng Tri:
Tài thương nhật ấn
Giáp quý canh mậu
Ngọ dậu dần dần
Lệnh tháng Dương Nhận, đắc chi năm ngọ hỏa quan tinh chế, can tháng quý thủy phá quan tổn hại cách cách cục, hỉ có mậu thổ tương hợp, quan tinh được tiếp ứng, đây là lấy ấn hộ quan, cách thành mà quý.
Lại như Gia bình chương mệnh:
Sát thực nhật sát
Giáp canh mậu giáp
Dần ngọ thân dần
Thấu hai Thất Sát, sát tinh quá nặng, hỉ thực xén bớt Thất Sát, Dương Nhận cách tuy đới Thực Thương cũng không giảm quý khí của bát tự.
Như bát tự sau:
Sát quan nhật thực
Bính đinh canh nhâm
Tuất dậu thân ngọ
Bính đinh quan sát đều thấu Thiên can, đinh nhâm hợp, khứ quan lưu sát, cách cục thành ra thanh thuần, vì vậy quý. Dương Nhận cách thích nhất gặp Thất Sát, gọi là "gặp nhận xem sát" mà, hợp quan lưu sát chính là tổ hợp tốt, gọi là lấy thanh (làm sạch cách cục).
Nguyên văn:
Bính sinh tháng ngọ, trong có kỷ thổ, có thể khắc thủy, rất nên đới tài bội ấn. Nếu mậu sinh tháng ngọ, can thấu bính hỏa, chi hội hỏa cục, thì hóa nhận làm ấn, hoặc quan sát thấu thì khứ nhận tồn ấn, thanh cách. Nếu tài sát đều thấu lộ, thì hỏng cách “khứ ấn tồn sát”, không sinh sát chế sát, thì phú quý đều không có.
Giải nghĩa:
Bính hỏa sinh vào tháng ngọ là Dương Nhận cách, bởi trong ngọ hỏa có kỷ thổ Thương Quan, có thể khắc quan, cho nên bát tự loại này đều muốn dẫn tài phối ấn, phòng ngừa kỷ thổ Thương Quan phá hư cách. Nếu là mậu thổ sinh vào tháng ngọ, Thiên can lộ ra bính hỏa, địa chi lại hội hỏa cục, thì đem ngọ hỏa Dương Nhận hóa thành ấn tinh, lúc này có quan hoặc sát thấu lộ, thành sát ấn tương sinh, cách cục càng thanh. Nếu tài sát đều thấu, thì tài phá ấn sinh sát, vừa phá Dương Nhận dụng sát cách, lại phá sát ấn tương sinh cách, mệnh chủ không hi vọng gì phú quý.
Ở đây Thẩm đại ca đã chỉ ra Dương Nhận cách của ngày mậu tháng ngọ, nhưng trong ngọ hỏa không chỉ có kỷ thổ Dương Nhận, còn có đinh hỏa ấn tinh, nói cách khác ngày mậu tháng ngọ còn có thể lấy ấn cách luận mệnh. Dương Nhận cách và kiến lộc cách đều thuộc về ngoại cách (lệnh tháng không có dụng thần), vì lệnh tháng không có dụng thần, cho nên người có hai loại cách cục này khó có thể hưởng thụ phúc ấm của cha mẹ, 《 tứ ngôn độc bộ 》 nói "lệnh tháng kiến lộc, không giữ được tổ nghiệp". Thế nhưng, Dương Nhận cách ngày mậu tháng ngọ không hẳn như vậy, bởi vì ngọ hỏa là ấn tinh của nhật nguyên mậu thổ, bởi vậy cổ nhân thông thường đều coi là ấn cách, với điều kiện có nhiều hỏa trong mệnh cục, như trong 《 hỉ kỵ thiên 》 đã nói: "Ngày mậu tháng ngọ, xem là dương nhận, nếu có nhiều hỏa, coi là ấn thụ". Thẩm đại ca cho rằng, nhất định tại Thiên can phải thấu hỏa, địa chi hội hỏa, mới coi ngày mậu tháng ngọ là ấn cách.
Thực ra, theo người viết nghiên cứu, cho dù Thiên can thấu hỏa, địa chi không gặp hỏa, Dương Nhận cách của ngày mậu tháng ngọ có thể dùng ấn cách luận mệnh.
Chúng ta xem nam mệnh:
Kiếp thực nhật quan
Kỷ canh mậu ất
Hợi ngọ tí mão
Ngày mậu tháng ngọ, Thiên can không thấu hỏa, địa chi không gặp hỏa, lẽ ra không thể dùng ấn cách. Nhưng mà, mệnh chủ sinh ra trong gia đình quan lại, thầy u là tầng lớp trí thức, mệnh chủ học hành ưu tú, tốt nghiệp đại học chính quy, còn được thầy u mua nhà cho. Đều là tin tức biểu hiện của ấn cách, như vậy Dương Nhận cách chỉ còn cực nhỏ.
Nguyên văn:
Hơn nữa Dương Nhận dụng tài, cách cục không hay, tài gốc vững nên dụng Thương Thực, chuyển nhận thành tài, tuy không có quý khí của kiến lộc nguyệt kiếp, nhưng cũng có thể phú. Ngược lại thì nhận và tài phá nhau, không thành cách cục.
Giải nghĩa:
Nếu như Dương Nhận cách không có quan sát, chỉ có tài tinh khả dụng, đây là cách không hay. Vì sao? Bởi vì nếu lệnh tháng là Dương Nhận, như vậy tài tinh tại lệnh tháng thành ra tử tuyệt, tài tinh bị Tỉ Kiếp khắc chế nên không phải là một tổ hợp tốt, như nhốt Sói Bức Xúc và Dê Lắm Mồm chung một chuồng. Tổ hợp kiểu này đòi hỏi tài tinh phải vững gốc, nhưng lại phải có Thực Thương hóa tiết kiếp nhận mà sinh tài, như vậy mới có thể trở thành cách cục đẹp, tuy không bằng quý khí của kiến lộc cách, nhưng cũng là phú cách. Nếu không đủ hai điều kiện này, thì Dương Nhận và tài tinh khắc phá lẫn nhau, không thành cách cục.
Ví dụ như nam mệnh:
Tỷ ấn nhật ấn
Bính giáp bính giáp
Thân ngọ ngọ ngọ
Dương Nhận dày trọng, không gặp quan sát, không có Thực Thương, chỉ có một thân kim tài tinh, như vậy cách không thành cách, cục không ra cục. Mệnh chủ thuở nhỏ không thích đọc sách, chỉ thích đấu tranh tàn nhẫn, lớn lên dần dần thành du côn. Trong vận thân không chỉ không phát tài, trái lại còn rước họa lao tù. Sau khi ra tù, tình hình còn nghiêm trọng hơn, trong dậu kim tài vận vẫn đi trộm cắp, hãm hại lừa gạt người khác. Vận mậu tuất có Thực Thần sinh tài, cùng người khác mở nhà hàng, phát tài giàu nhỏ. Nguyên nhân không giàu lớn là ngọ tuất hợp hỏa, hao tốn công lực của tuất thổ Thực Thần.

Thanked by 1 Member:

#30 thatsat

    Advanced Member

  • Hội Viên
  • PipPipPip
  • 1345 Bài Viết:
  • 3485 thanks
  • Locationvô cực

Gửi vào 10/08/2011 - 00:54

Luận can chi
Nguyên văn:
Trong khoảng đất trời, có nhất khí. Có động tĩnh, lại phân âm dương. Có già trẻ, chia ra tứ tượng. Lão cực động cực tĩnh, là thái dương Thái Âm; thiếu sơ động sơ tĩnh là thiếu âm thiếu dương. Đó là tứ tượng, mà ngũ hành vốn ở trong đó. Thủy, Thái Âm; hỏa, thái dương; mộc, thiếu dương; kim, thiếu âm; thổ, âm dương già trẻ, mộc hỏa kim thủy xung khí mà kết hợp.
Giải nghĩa:
Thiên địa vạn vật đều là do một "khí" tạo thành. Vạn vật chia ra động tĩnh, khí đó liền có âm dương. Âm dương lại phân già trẻ, thành tứ tượng. Tứ tượng là sao ? Khi cực động và cực tĩnh thì gọi là lão, trong đó cực động là Thái Dương ( gọi là lão dương ), cực tĩnh là Thái Âm ( gọi là lão âm ); sơ động và sơ tĩnh gọi là thiếu, trong đó sơ động là thiếu dương, sơ tĩnh là thiếu âm. Thái dương, Thái Âm, thiếu dương, thiếu âm là tứ tượng, thực ra chính là âm dương tiến thêm một bước phân hoá, như kim mộc thủy hỏa thổ ngũ hành cũng là âm dương tiến thêm một bước phân hoá. Nói cách khác, tứ tượng bao hàm ngũ hành. Hỏa là thái dương, thủy là Thái Âm, mộc là thiếu dương, kim là thiếu âm, thổ chứa ngũ hành tạp khí, nên gọi là thổ sinh vạn vật.
Nguyên văn:
Có cái gọi là ngũ hành, lại có cái gì là mười can mười hai chi vậy ? đại khái có âm dương, sinh ngũ hành, mà bên trong ngũ hành, cũng có âm dương. Bàn về mộc, giáp ất, là âm dương của mộc. Giáp là khí của ất; ất là chất của giáp. Giáp là sinh khí trên trời lưu hành vào vạn vật; vạn vật trên mặt đất theo khí đó mà sinh là ất. Lại chia ra nhỏ hơn, sinh khí toả ra là giáp của giáp, còn sinh khí ngưng tụ là ất của giáp; vạn mộc sở dĩ có cành lá là giáp của ất, mà cành lá của vạn mộc là ất của ất. Đương khi là giáp, mà ất khí dĩ bị; cực kỳ vi ất, mà chất của giáp nãi kiên. Đó là giáp ất, là âm dương của mộc.
Giải nghĩa:
Có ngũ hành, vì sao lại có mười thiên can và mười hai địa chi ? Từ âm dương, tiến thêm một bước chia thành ngũ hành, mà ngũ hành lại chia thành âm dương cho nên cùng là mộc, có dương mộc và âm mộc, cùng là kim, có dương kim và âm kim v.v.... Mộc phân thành giáp ất, là thể hiện âm dương của mộc. Giáp mộc là khí của ất mộc, ất mộc là chất của giáp mộc, giáp mộc tương đương với tinh khí thần của người, ất mộc tương đương với thân thể của người. Chất là trạng thái tĩnh, là vật chất; khí là trạng thái động, là năng lượng. Hoặc, chất là vật chất, khí là trường vật chất. Hoa lá của vạn mộc là giáp, còn cành gốc là ất. Giáp là sinh khí hoặc sinh cơ biểu hiện ra ngoài của ất, ất thì lấy giáp làm nguồn sống. Âm sinh dương, dương sinh âm, âm dương tương sinh vô cùng. Giáp mộc vừa sinh ra, thì có chất ất mộc; ất mộc vừa thành hình, thì có khí giáp mộc. Có giáp và ất, âm dương của mộc đều đầy đủ. Đương nhiên, giáp còn có thể sinh giáp, sau khi sinh ra bên trong giáp vốn lại có ất, là ất của giáp; ất có thể tái sinh ất, khi sinh ra bên trong ất lại có giáp, gọi là giáp của ất, như cây cối sinh cành lá, cành lá lại tái sinh cành lá, sinh sôi không ngớt.
Nguyên văn:
Nói về dần mão, giáp ất phân âm dương thiên địa. Lấy giáp ất mà phân âm dương, thì giáp là dương, ất là âm, mộc lưu hành trên trời lại phân làm âm dương. Lấy dần mão phân âm dương, thì dần là dương, mão là âm, mộc trụ lại trên đất làm âm dương. Lấy giáp ất dần mão mà phân âm dương, thì giáp ất là dương dần mão là âm, mộc trên trời thành tượng mà dưới đất thành hình. Giáp ất lưu hành trên trời, mà dần mão nhận; dần mão tồn giữ, mà giáp ất yên. Bởi vậy giáp ất như quan chức, dần mão như cai quản địa phương. Giáp lộc vào dần, ất lộc vào mão, như quan phủ tại quận, quan huyện tại ấp, ai nấy có việc của mình.
Giải nghĩa:
Giáp ất đã có âm dương, vì sao còn có dần mão? Dần mão và giáp ất là một cặp âm dương. Giáp ất là thiên can, là khí lưu hành trên trời, là dương; dần mão là địa chi là vật chất hình thành trên mặt đất. Giáp ất là âm dương ở trong dương, dần mão là âm dương ở trong âm. Xét âm dương của dần mão thì dần mộc là dương, mão mộc là âm. Giáp ất là khí trên trời chảy mãi không ngừng, dần mão là chất trên mặt đất thừa khí mà thành, cái này gọi là "Dương làm âm nhận, âm dương giao cấu, âm dương hoá sinh, vạn vật thế là thành."
Cho nên, giáp ất mộc như quan trên, dần mão mộc còn lại là chủ tịch phường. Giáp ất mộc là chủ tịch thành phố Hà Nội, dần mão mộc là thành phố Hà Nội. Giáp mộc tại dần và ất mộc tại mão, như chủ tịch thành phố tại thành phố, chủ tịch huyện ở huyện, ai làm việc người đấy trên địa bàn của mình. Khi dần mão mộc là lệnh tháng, tương đương với chủ tịch thành phố tại nhiệm kỳ.
Nguyên văn:
Giáp ất trên trời, chuyển động mà không cư trú chỗ nào. Tháng dần khời giáp? Tháng mão khởi ất ? Dần mão dưới đất, cố định không rời. Giáp tuy đệ dịch, nguyệt tất kiến dần; ất tuy đệ dịch, nguyệt tất kiến mão. Lấy khí mà nói, giáp vượng nhờ ất; lấy chất mà nói, ất vững nhờ giáp. Tục thư nói rằng giáp là rừng lớn, thịnh nên cần chặt đẽo, ất là cây nhỏ, giòn mà không nên thụ thương, đều là không biết đạo lý âm dương vậy.
Giải nghĩa:
Giáp mộc là khí lưu hành giữa trời đất vạn vật, cho nên luôn luôn biến động không cố định. Cho dù ở trong tháng dần, cũng không phải giáp mộc nắm lệnh cả tháng, trong đó còn có thời gian mà bính hỏa và mậu thổ nắm lệnh; cho dù mão mộc đương lệnh, cũng không phải ất mộc nắm lệnh cả tháng, giáp mộc cũng nắm lệnh trong tháng đó. Dần mão mộc trên mặt đất, là vật chất, đối với giáp ất mộc là tĩnh. Giáp mộc khí tuy biến động không ngừng, nhưng dần mộc làm căn cứ địa cho giáp mộc sau lập xuân một tháng. Ất mộc khí cũng lưu động không thôi, căn cứ địa của ất mộc là mão mộc sau tiết Kinh Trập một tháng. Tục ngữ có câu: "giang sơn như sắt thép, doanh trại như nước chảy", chủ tịch thành phố Hà Nội có thể thay đổi như đèn kéo quân, nhưng thành phố Hà Nội mãi là địa bàn cố định.
Lấy khí mà nói, giáp mộc vượng vào ất mộc, nhưng lấy chất mà nói, trái lại ất mộc dựa vào giáp mộc mà càng kiên cố. Vì giáp mộc là khí, mà ất mộc là chất. Sách vở mệnh lý cho rằng giáp mộc là cây to chọc trời thể chất kiên cố, cần chặt đẽo, mà ất mộc là mầm non yếu ớt, không thể thương khắc. Tất cả đều do không hiểu đạo lý âm dương mà ra.
Nguyên văn:
Lấy mộc làm ví dụ, từ đó suy ra các hành còn lại, chỉ có thổ khác với các hành mộc hỏa kim thủy còn lại, nên thổ ký vượng vào bốn mùa, nguyên lý âm dương khí chất cũng luận như vậy. Người học mệnh trước hết hãy học kĩ can chi, sau đó mới có thể nhập môn.
Giải nghĩa:
Phía trước nói giáp ất dần mão mộc, còn lại bính đinh tị ngọ hỏa, canh tân thân dậu kim, nhâm quý hợi tí thủy, cũng tương tự như vậy. Chỉ hành thổ có điểm khác, bên trong thổ hàm chứa tạp khí của kim mộc thủy hỏa thổ, thiên hạ nơi nào không có thổ ? Cho nên thổ không chuyên vượng vào một phương, mà vượng vào cuối bốn mùa, tức là tháng cuối cùng của xuân hạ thu đông. Thế nhưng nguyên lý âm dương khí chất của thổ, và kim mộc thủy hỏa là giống nhau.
Người muốn học tử bình mệnh lý, trước hết cần nắm rõ quan hệ can chi, nắm rõ đặc tính của khí chất, sau đó mới có thể nhập môn.

Quy tắc sinh khắc của can chi:
1, can và can có thể sinh khắc lẫn nhau;
2, chi và chi có thể sinh khắc lẫn nhau;
3, can và chi có thể sinh khắc lẫn nhau, bất kể can chi cùng trụ hay khác trụ. Trong trường hợp khác trụ, nếu có trở ngại lớn giữa các trụ đó thì việc sinh khắc chỉ là “hữu tâm vô lực” (có ý sinh khắc nhưng không thành). 《 tứ ngôn độc bộ 》 viết: "quan tinh tháng tám, tối kỵ mão đinh." Tức là giáp mộc sinh vào tháng dậu tức Chính Quan cách, sợ nhất mão xung dậu, đinh khắc dậu. Đây là chứng cớ rõ ràng can có thể khắc chi.
4, Khi can chi phát sinh sinh khắc chế hóa, hợp xung hình hại, cần xem sinh trước, sau đó mới đến xung khắc hình hại. Cái này gọi là "tham sinh tham hợp, mà bỏ qua hình xung khắc hại " . Nói cách khác sinh hợp có thể giải trừ tất cả hình xung khắc hại, và xung thì có thể giải hợp ( tham khảo "Luận hình xung hội hợp giải pháp" ).
Nêu ví dụ nói rõ như sau:
Quan tài nhật thương
Quý tân bính kỷ
Mão dậu thìn hợi

Trước hết xem thiên can. Quý thủy có thể khắc Bính hỏa, tuy ở giữa cách tân kim, thế nhưng kim sinh thủy, nên quý thủy càng khắc bính hỏa. Tân kim sinh quý thủy không có trở ngại. Kỷ thổ có thể sinh tân kim, vì sao ? Bởi vì ở giữa có bính hỏa sinh kỷ thổ, không thể ngăn trở kỷ thổ sinh tân kim. Nếu như bính hỏa đổi thành giáp ất mộc, kỷ thổ khó có thể lướt qua mộc mà sinh tân kim. Kỷ thổ có thể khắc quý thủy ? Có thể. Xa như vậy còn có thể khắc sao ? Trung gian không phải có tân kim thông quan sao ? Bởi vì quý thủy có căn tại hợi, mà kỷ thổ đương đầu khắc hợi thủy, chặt đứt căn của quý thủy cho nên kỷ thổ có thể khắc quý thủy. Mệnh này vốn là tài vượng sinh quan cách, chỉ vì kỷ thổ khắc mất hợi thủy, mệnh cục liền có ý bỏ Quan lấy Thực, thành cách cục Tài hỉ Thực sinh vì vậy mệnh chủ giàu lớn nhưng không quý.
Lại xem địa chi, mão mộc xung dậu kim, vì thìn dậu hợp, liền giải xung mão dậu. Thìn thổ khắc hợi thủy, vì thìn dậu hợp, thìn thổ liền tham sinh tham hợp mà không khắc hợi thủy. Về phần thìn dậu hợp thì thìn thổ có hóa thành kim không ? Vì kỷ thổ lấy thìn thổ là gốc, thìn thổ lấy kỷ thổ làm biểu hiện, cho nên không hợp hóa thành kim.
Cuối cùng nhìn can và chi. Quý thủy có thể sinh mão mộc, mão mộc có thể tiết quý thủy. Mão mộc có thể sinh bính hỏa, chỉ vì dậu kim cách trở, nên mười phần mất đến bảy tám phần. Đại biểu văn chương là ấn tinh vô lực, nên mệnh chủ không thích đọc sách, mù chữ. Mà ấn tinh lại là mẫu thân, yếu đi thì không thể sinh nở nhiều, cho nên mệnh chủ không có anh chị em ruột. Tân kim có thể che chở dậu kim, dậu kim có thể ủng hộ tân kim. Bính hỏa có thể sinh thìn thổ, thìn thổ có thể tiết khí bính hỏa. Kỷ thổ có thể khắc hợi thủy, hợi thủy vốn có thể khắc bính hỏa, chỉ vì có kỷ thổ đương đầu liền mất đi lực khắc hỏa.
Quan hệ sinh khắc còn lại của can chi bát tự đều tương tự như vậy.
Luận âm dương sinh khắc
Nguyên văn:
Bốn mùa vận chuyển tương sinh mà thành, bởi vậy mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy lại sinh mộc, là thứ tự tương sinh, tuần hoàn luân phiên không nghỉ. Nhưng có sinh tất có khắc, chỉ sinh thì bốn mùa cũng không thành. Khắc tiết mà dừng lại, làm cho thu liễm, là đầu mối phát tiết sau này, bởi vậy viết "thiên địa tiết mà bốn mùa thành" . Lấy mộc làm ví dụ, mộc thịnh vào hạ, sát vào thu, sát làm cho phát tiết bên ngoài thu vào bên trong, nên nhờ sát mà sinh, đại dịch lấy thu tàng làm bản chất, lấy Đoài bàn vạn vật, mà lập ngôn vậy ! Thí dụ như dưỡng sinh của người, vốn lấy ăn uống mà sinh, nhưng lúc nào cũng ăn uống, mà không để đói một chút, người có thể thọ sao ? Bốn mùa vận hành, sinh và khắc đồng dụng, khắc và sinh đồng công.
Giải nghĩa:
Xuân hạ thu đông bốn mùa khí vận hành, tương sinh mà thành, cũng do tương khắc mà thành. Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy lại sinh mộc, đây là trình tự tương sinh, ngũ hành sinh sôi mãi mãi không ngừng. Nhưng có sinh tất có khắc, như có âm tất có dương. Nếu như chỉ có sinh mà không có khắc, như vậy sinh cơ sẽ dập tắt, bốn mùa không thành. Tác dụng của khắc là tiết chế bớt sinh khí, làm khí thu gom lại, tích lũy sau đó mới có sinh cơ, cho nên 《 dịch kinh 》 (thượng) nói "thiên địa tiết mà bốn mùa thành". Mượn mộc mà nói, mộc tại mùa hè tràn đầy tới cực điểm, vào trời thu sẽ bắt đầu suy bại, suy bại trên thực tế là một kiểu tiết chế, còn gọi khắc. Có loại khắc này, có thể làm sinh khí của mộc gom vào bên trong, chuẩn bị cho sinh cơ tiếp theo, loại khắc này thực ra chính là sinh. 《 dịch kinh 》 lấy thu gom là thực chất của tính tình, lấy Đoài ( đại biểu cho trời thu ) làm cái nhu của vạn vật, điều này chính xác vô cùng ! Giống như dưỡng sinh của người, không thể thiếu ăn uống, một ngày đêm không ăn là thấy lao đao, ba ngày không ăn không thể bò xuống giường, thế nhưng ngày nào đêm nào cũng ăn không dứt miệng, không cho tràng dạ dày nghỉ ngơi thì có thể trường thọ sao ? Bởi vậy, sinh và khắc có tác dụng quan trọng như nhau, như xuân và thu, hạ và đông, lợi và hại, cát và hung, hư và thực, xuất và nạp, tác dụng của âm và dương là như nhau.
Nguyên văn:
Tổng quát về ngũ hành, thì thủy mộc tương sinh, kim mộc tương khắc. lấy âm dương của ngũ hành mà phân phối, thì trong sinh khắc lại có khác biệt. Nên cùng là thủy sinh mộc, mà ấn có thiên chính; kim đều khắc mộc, mà có quan sát. Trong ấn thụ, có thể không bàn tới sinh khắc thiên chính;, nhưng sinh khắc của quan và sát phải xem xét kỹ càng.
Giải nghĩa:
Tóm lại về ngũ hành, thủy mộc tương sinh, kim mộc tương khắc. Nhưng nếu xét trên khía cạnh âm dương của ngũ hành, thì trong sinh khắc lại có khác nhau. Ngũ hành lấy sinh làm ấn thụ, lấy khắc làm quan sát, cùng là thủy sinh mộc, có chính ấn và thiên ấn. Cùng là kim khắc mộc, có Chính Quan và Thất Sát. Thiên chính của ấn thụ khác nhau không lớn, có thể không bàn tới. Thế nhưng thiên chính của quan tinh thì khác, một là Chính Quan, một là Thất Sát, Chính Quan là cát thần, mà Thất Sát là hung thần, Chính Quan cần được bảo vệ, còn Thất Sát cần chế ước, hai đặc tính hoàn toàn trái ngược, cần xem kỹ nguyên lý trong đó.
Nguyên văn:
Lấy giáp ất canh tân mà nói. Giáp là dương mộc, sinh khí của mộc; ất là âm mộc, hình chất của mộc. Canh là dương kim, khí của mùa thu; tân là âm kim, là chất ngũ kim của nhân gian. Sinh khí của mộc nương nhờ mộc mà đi lên trời, bởi vậy gặp mùa thu làm quan, mà ất thì trái lại, canh quan mà tân sát. Lại lấy bính đinh canh tân mà nói. Bính là dương hỏa, khí dung hòa; đinh là âm hỏa, hỏa đèn đuốc. Khí trời thu gặp dương hòa mà khắc mất, kim hình chất thì không sợ dương hòa, canh lấy bính làm sát, mà tân lấy bính làm quan. Chất vàng sắt của nhân gian gặp lửa đèn đuốc mà lập hóa, còn khí xơ xác tiêu điều không sợ hỏa đèn đuốc. Cho nên tân lấy đinh làm sát, mà canh lấy đinh làm quan. Theo đó mà đoán, các hành còn lại cũng tương tự như vậy.
Giải nghĩa:
Lấy giáp ất canh tân bốn thiên can mà nói. Giáp là dương mộc, là sinh khí của mộc; ất là âm mộc, là hình chất của mộc. Canh là dương kim, đại biểu khí của mùa thu; tân là âm kim, đại biểu cho hình chất của kim loại thường thấy hàng ngày. Sinh khí của giáp mộc lưu hành trong khoảng đất trời, gặp mùa thu thì bị tiết chế, bởi vậy là quan, mà ất mộc là sát.
Lại lấy bốn can bính đinh canh tân mà nói, bính là dương hỏa, là khí dung hòa lưu hành trong khoảng đất trời; đinh là âm hỏa, là hỏa hình chất thường thấy hàng ngày. Khí canh kim trời thu gặp phải bính hỏa dương hòa khí thì bị nấu chảy, mà tân kim là hình chất thì không sợ gặp bính hỏa, bính tân hợp hóa thủy, bởi vậy có "bính hỏa tuy liệt, gặp tân nhuyễn khiếp" nói đến. Bởi vậy canh kim cần lấy bính hỏa làm sát, mà tân kim thì lấy bính hỏa làm quan. kim hình chất tân kim gặp phải hỏa hình chất đinh hỏa dễ bị tiêu nấu chảy, mà canh kim thì không sợ đinh hỏa. Bởi vậy, tân kim gặp đinh hỏa là sát, mà canh kim gặp đinh hỏa là quan. Nguyên tắc là như vậy. Sau khi hiểu rõ quan hệ sinh khắc của mộc và kim, hỏa và kim, các hành còn lại cũng suy xét tương tự.


Thanked by 1 Member:




1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh